Thursday, 24 July 2014

Bí quyết dạy trẻ của ông bố Mỹ có 12 con vào đại học

(trích từ báo VnExpress - Thứ năm, 24/7/2014)

Con lớn nhất 37 tuổi và nhỏ nhất 22, bố mẹ thành đạt đủ tiền để đáp ứng cho các con bất cứ thứ gì nhưng họ không làm vậy.


12 con của vợ chồng Francis L. Thompson đều có bằng đại học (hoặc đang ngồi trên giảng đường) và bố mẹ không phải tốn chi phí gì. Một số thành viên trong gia đình đã kết hôn với những người cũng có trình độ học vấn tương đương. Họ có 18 cháu - cũng đang học những điều mà bố mẹ chúng được dạy về lòng tự trọng, lòng biết ơn và khao khát cống hiến cho xã hội.
Các con ông Thompson sống tại Utah, Florida và California (Mỹ), còn hai vợ chồng ông ở Colorado. Họ đã kỷ niệm 40 năm ngày cưới. Tình yêu được vun đắp giữa hai người góp phần vào thành công trong việc dạy dỗ con cái, để các con thấy cuộc sống gia đình êm ấm với sự gắn bó mà không cần phải thỏa hiệp.
Dưới đây là chia sẻ về những kinh nghiệm dạy 12 người con của ông bố Francis L. Thompson, kỹ sư tại tập đoàn Northrop Grumman (Mỹ):

Để con làm việc nhà

- Trẻ có thể làm việc nhà từ 3 tuổi. Bé 3 tuổi không thể dọn nhà vệ sinh sạch sẽ nhưng dần dần khi 4 tuổi, bé sẽ làm tốt.
- Trẻ nhận được một khoản nhỏ từ các việc nhà đã làm trong tuần.
- Từ 8 tuổi, các con tự giặt quần áo của mình vào một ngày nhất định.
- Khi trẻ bắt đầu biết đọc sẽ được tham gia làm bữa tối với bố mẹ bằng việc đọc công thức nấu ăn.
- Cả con trai và con gái đều phải học khâu vá.

Đại gia đình ông Francis L. Thompson năm 1998. Ảnh: Qz.com.

Học tập

Việc học tập luôn được ưu tiên trong gia đình và có những quy định cụ thể cho việc này:
- Giờ học là từ 18h đến 20h tối mỗi ngày. Không xem TV, máy tính, chơi game hay các hoạt động khác trong 2 tiếng này. Nếu không có bài tập thì các con đọc sách. Với các con nhỏ chưa đi học, một anh chị sẽ đọc sách cho các em nghe. Sau 2 giờ học tập, trẻ có thể làm bất cứ điều gì mình muốn miễn là trước “giờ giới nghiêm”.
- Tất cả các con đều phải tham gia lớp nâng cao. Bố mẹ không lo ngại về điểm đầu vào của lớp này. Chúng tôi thường đề nghị giáo viên cho phép con học lớp đó với lời cam đoan các cháu sẽ đáp ứng tốt các yêu cầu. Hàng ngày bố mẹ dành thời gian giúp con củng cố kiến thức để theo kịp. Sau đứa con đầu, nhà trường biết chúng tôi giữ lời hứa trẻ có thể theo kịp lớp nâng cao và không khó khăn gì với các cháu sau.
- Nếu con về nhà và nói có một giáo viên ghét cháu hay không công bằng, phản ứng của chúng tôi là khuyến khích con tìm ra cách để dung hòa. Trẻ cần tự tìm cách giải quyết các mối quan hệ vì bản chất cuộc sống thực luôn chứa đựng mâu thuẫn. Các con có thể sẽ gặp phải một ông sếp không ưa mình. Chúng tôi không cho phép trẻ đổ lỗi cho giáo viên vì không học được. Tất nhiên, chúng tôi luôn kèm con học 2 tiếng mỗi ngày và sẵn sàng giúp con khi chúng cần.

Kén ăn là điều không được phép

Cả gia đình tôi luôn ăn sáng và tối cùng nhau. Bữa sáng lúc 5h15 và sau đó trẻ phải làm việc nhà trước khi đến trường. Bữa tối lúc 17h30 chiều.
Nguyên tắc chúng tôi đưa ra cho các con là ăn những gì chúng ghét trước (thường là rau) và sau đó có thể ăn các loại thức ăn khác. Nếu không muốn ăn, trẻ có thể rời khỏi bàn. Nếu sau đó chúng kêu đói, chúng tôi có thể lấy đồ ăn con không thích ăn, hâm nóng trong lò vi sóng và mang tới cho con. Nếu con tiếp tục không ăn, sẽ không có thứ gì khác cho tới bữa sau.

Không ăn vặt giữa các bữa

Gia đình tôi luôn có 4 nhóm thực phẩm chính (thịt, sữa, tinh bột, trái cây và rau), hầu như luôn có vài món tráng miệng khác nhau. Tới nay, những đứa con tôi không sợ thử thức ăn mới và không dị ứng với thực phẩm. Chúng thử tất cả thực phẩm mới và ăn cho tới khi no. Một trong 4 đứa thậm chí còn hơi béo. Chúng gọn gàng, khỏe mạnh và năng động.

Hoạt động ngoại khóa

Tất cả trẻ phải chơi một số môn thể thao. Chúng được chọn môn mình thích. Các con bắt đầu học chơi các môn ở trường. Không quan trọng là bơi, đá bóng, bóng rổ, bóng chày, đấu kiếm hay tennis, chúng tôi không phiền lòng nếu trẻ thay đổi sở thích. Nhưng các con phải chơi thể thao.
Tất cả các con phải tham gia vào câu lạc bộ nào đó như hướng đạo sinh, lịch sử, kịch…
Trẻ được yêu cầu tham gia các hoạt động giúp đỡ cộng đồng. Chúng có thể làm tình nguyện tại địa phương hay ở nhà thờ. Thỉnh thoảng các con thu thập quần áo cũ và mang đi từ thiện. Trẻ được nhìn thấy cuộc sống của nhiều gia đình có hoàn cảnh khác nhau và chúng hạnh phúc vì việc làm của mình giúp được người khác.

Trẻ phải học cách tự lập

- Khi các con bước sang tuổi 16, chúng tôi mua cho mỗi đứa một chiếc xe - đó là lần đầu trẻ học được về sự tiết kiệm. Khi đứa con lớn nhất của tôi nhìn thấy chiếc xe tôi mua cho, nó nói: “Bố ơi, đó là một chiếc xe hỏng”. Tôi nói: “Đúng, nhưng ở đó có hướng dẫn sửa chữa và các dụng cụ sửa ở trong gara. Bố sẽ trả tiền cho các vật dụng cần thay, nhưng không trả công sửa”. 11 tháng sau, chiếc xe được tái tạo động cơ, nội thất mới bọc, vỏ sơn mới… Con gái tôi có một chiếc xe nổi bật nhất ở trường trung học và nó tự hào vì đã tự tay dựng lại chiếc xe hơn mức tưởng tượng. Đến giờ, các con tôi không đứa nào từng bị phạt vì vượt quá tốc độ, dù không ai sử dụng xe phân khối thấp.
- Chúng tôi cho phép các con mắc lỗi: Trước khi 16 tuổi, các con tôi phải đi chung xe với gia đình. Một lần, tôi bảo con trai Samuel khi ấy 11 tuổi, thay dầu xe và hỏi liệu cháu có cần giúp hay hướng dẫn không. Thằng bé nói "không" và một tiếng sau, nó gọi tôi hỏi: "Phải thay hết 18 lít dầu ạ?". Tôi hỏi con cho 18 lít dầu vào đâu khi bình thường chỉ cần 5 lít. Hóa ra, thằng bé đổ hết dầu vào bộ phận tản nhiệt ở đầu xe. Chúng tôi đã phải mua bộ tản nhiệt mới và thay dầu lại. Tôi không trách mắng hay phạt con. Đó là một bài học cho nó. Con cái chúng tôi không sợ thử cái mới. Chúng được giáo dục rằng nếu chúng làm điều gì đó sai, chúng sẽ không bị phạt. Điều này thường khiến bố mẹ tốn tiền hơn nhưng chúng tôi đang nuôi dạy con chứ không phải tiết kiệm tiền. 
- Mỗi đứa trẻ có máy tính riêng nhưng phải tự lắp ghép. Tôi mua bộ vi xử lý, bộ nhớ, nguồn cung cấp điện, CPU, bàn phím, phần cứng, bo mạch chủ và chuột. Bọn trẻ phải tự ráp chúng với nhau và chạy các phần mềm. Việc này bắt đầu khi chúng 12 tuổi. 
- Chúng tôi để các con tự đưa ra quyết định nhưng trong giới hạn. Chẳng hạn, con muốn đi ngủ ngay hay dọn phòng của mình. Hiếm khi chúng tôi đưa ra chỉ một "lệnh" trực tiếp, trừ phi đó là các nguyên tắc sống của gia đình mà mọi thành viên đều đã nhất trí. Điều này giúp các con cảm thấy chúng làm chủ cuộc sống của mình ở mức độ nào đó. 

Tạo độ gắn kết giữa anh chị em

- Chúng tôi yêu cầu các con luôn giúp đỡ lẫn nhau. Bé lớp 5 có thể đọc cho em lớp 1 nghe mỗi ngày 30 phút. Bé lớn sẽ dạy đại số, toán cho bé nhỏ hơn.
- Chúng tôi phân công anh chị dạy em nhỏ hơn và giúp em hoàn thành việc vặt hàng tuần.
- Chúng tôi để các con tham gia xây dựng nguyên tắc trong gia đình. Chẳng hạn, những đứa trẻ muốn có quy định không để đồ chơi trong phòng khách, phải để ở phòng ngủ hay phòng chơi. Vì vậy, ngoài các việc vặt phải làm mỗi ngày, tất cả trẻ phải dọn sạch phòng ngủ của mình. Chúng tôi dành cho các con cơ hội mỗi tháng được sửa hay tạo ra các quy định mới. Bố và mẹ có quyền quyết định cuối cùng.
- Chúng tôi cố gắng luôn nhất quán với nhau. Nếu bọn trẻ phải học hai tiếng mỗi tối, sẽ không có ngoại lệ cho việc này. "Giờ giới nghiêm" là 22h đêm trong những ngày đi học và 24h đêm cho ngày nghỉ, không có ngoại lệ.

Những kỳ nghỉ gia đình

Chúng tôi đưa gia đình đi nghỉ vào mỗi mùa hè trong 2-3 tuần. Chúng tôi có đủ khả năng để thuê khách sạn hay đặt tour nhưng không chọn cách này. Chúng tôi cắm trại và mang theo đồ đạc cần thiết. Nếu trời mưa, chúng tôi phải tìm cách để tự xoay sở.
Khi đi cắm trại, tất cả các con từ 6 tuổi trở lên phải mang hành lý và dựng lều. Vợ tôi sẽ ở cùng những đứa con nhỏ. Suốt 15 năm, cô ấy liên tục mang thai hoặc mới sinh. Các con lớn và tôi sẽ đi du lịch khám phá. Chúng tôi đã leo qua hẻm núi Grand Canyon, trèo lên đỉnh Mount Whitney, băng qua Continental pide, Yosemite...
- Chúng tôi gửi các con qua đường máy bay đi thăm họ hàng ở khắp nước Mỹ hay châu Âu 2-3 tuần một năm, khi các bé học mẫu giáo. Tất nhiên phải có chế độ đặc biệt cho hãng bay để họ nhận chăm lo cho một đứa trẻ 5 tuổi đi một mình. Chúng tôi chỉ gửi con nếu chúng muốn đi. Tuy nhiên, những bé nhỏ hơn khi thấy các anh chị lớn đi chơi kiểu này thì đều muốn có trải nghiệm. Các con sẽ học được từ sớm rằng bố mẹ sẽ luôn bên con, nhưng sẵn sàng để chúng trưởng thành bằng đôi cánh của mình và bay đi.

Tiền và vật chất

- Mặc dù có đủ tiền nhưng chúng tôi không giúp con cái mua nhà, trả tiền học đại học, chi trả cho đám cưới. Chúng tôi có thể tư vấn cho các con về cách tổ chức cưới hỏi thế nào, làm sao để mua được căn hộ hay cách nào giúp nguồn vốn sinh sôi. Chúng tôi giúp chúng liên lạc với công ty nhưng chúng phải đi phỏng vấn và kiếm việc.
- Chúng tôi luôn tặng quà sinh nhật và giáng sinh cho các con. Chúng tôi có thể nhờ ông già Noel tặng quà nhưng khi con lớn hơn và hỏi về điều đó, chúng tôi không nói dối. Chúng tôi nói đó là một trò chơi và nó rất thú vị. Trước mỗi dịp lễ đó, chúng tôi lên danh sách thứ các con thích được tặng và chắc chắn bọn trẻ sẽ có được điều mình muốn. Nhờ Internet, thật dễ dàng gửi danh sách này đến những đứa trẻ khác và ông bà bọn trẻ. Những món quà tự làm thường được yêu chuộng nhất.

Để các con tự trải nghiệm thế giới thật

Chúng tôi yêu các con bất kể chúng có làm gì. Nhưng chúng tôi sẽ không ngăn chặn bất cứ hậu quả nào từ các hành động của con cái. Chúng tôi để các con chịu hậu quả và sẽ không cố gắng để giảm thiểu những hậu quả đó chỉ vì thấy các con phải chịu khổ. Chúng tôi cũng khóc và buồn nhưng không làm thay con cái hay gánh vác hậu quả từ hành động của chúng.
Vương Linh (Theo Qz.com)

NGHIỆM XÉT TÂM MÌNH ĐÃ VÔ LẬU HAY GIẢI THOÁT CHƯA ?

Mục đích của người tu sĩ Phật giáo là phải chứng đạt được tâm vô lậu. Vậy tâm vô lậu là gì?

- Tâm vô lậu là tâm không còn khổ đau phiền não, lo lắng, sợ hãi, tức giận, than khóc v.v..
- Tâm vô lậu là tâm bất động trước các ác pháp và các cảm thọ.
- Là tâm không làm khổ mình, khổ người và khổ cả hai.
- Là tâm không còn dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu.

Vì thế, sự tu tập của đạo Phật rất rõ ràng là nhắm vào chỗ đoạn diệt tất cả các lậu hoặc, đem lại sự thanh thản, an lạc và vô sự cho một thân tâm giải thoát.

Kính thưa các bạn! Các bạn có biết tâm vô lậu là gì không?

- Khi nào người ta chê bạn, nói xấu, mạ lị, mạt sát, chửi mắng bạn, mà tâm bạn vẫn thản nhiên không buồn giận hờn, không oán ghét v.v.. đó là tâm vô lậu.
- Khi nào bạn không thương, không ghét một người nào, không sợ hãi, lo lắng sống luôn luôn thanh thản, an ổn và không có một chướng ngại gì trong tâm các bạn, đó là tâm vô lậu.
- Khi nào tâm các bạn không còn tham muốn một vật gì, dù đó là một món ăn rất ngon, rất thích khẩu của các bạn, nhưng các bạn cũng thản nhiên không thèm, không ham thích muốn ăn. Có thì ăn, không có ăn thì thôi, đó là tâm vô lậu.
- Khi nào các bạn thấy sự lười biếng, hôn trầm, thùy miên không còn tấn công các bạn khi các bạn muốn thức dù bất cứ giờ nào, các bạn cũng đều tỉnh thức, đó là tâm vô lậu của các bạn.
- Khi nào tất cả mọi cảm thọ đến với bạn mà tâm bạn không lo, không sợ hãi thì đó là tâm vô lậu.
- Khi nào tất cả mọi pháp làm động khiến tâm các bạn bất an, nhưng các bạn vẫn thản nhiên, với tâm thanh thản, an lạc và vô sự thì đó là tâm vô lậu.

Khi nào các bạn nhận xét thấy rõ ràng tâm mình được như vậy là các bạn đã tu xong, tức là các bạn đã chứng đạt chân lí, nếu còn chưa được như vậy thì các bạn phải tác ý để tâm các bạn bất động, tức là các bạn còn đang hộ trì chân lí, đó là các bạn còn tu tập. Như vậy chỗ tu tập còn hay đã xong là các bạn đều
biết rất rõ ràng.

Tâm vô lậu bất động là chỗ các bạn an trú trong khi các bạn còn sống cũng như lúc các bạn đã chết. Tâm hữu lậu chưa bất động là không phải chỗ các bạn an trú. Mà nếu các bạn an trú nơi đó thì các bạn phải chịu nhiều đau khổ. Muốn không an trú chỗ tâm hữu lậu thì các bạn phải tu tập nhiều nữa.

Như vậy chỗ tu tập để chứng đạt chân lí của Phật giáo không phải khó khăn, chỉ có tu tập đúng pháp thì tâm lậu hoặc sẽ được diệt sạch. Tâm diệt sạch lậu hoặc là chỗ an trú của Phật. Xin các bạn lưu ý những lời dạy này.

(Đoạn trên trích ra từ bài "Tự tại sanh tử" trong sách "Những Lời Gốc Phật Dạy tập 4" trang 304-306)

LUẬT NHÂN QUẢ CÓ CÒN CÔNG BẰNG KHÔNG ?

Nói đến luật nhân quả, thì bất kỳ người Phật tử nào cũng tin rằng rất công bằng và công lý, không thiên vị ai. Nếu đã nói rằng công bằng thì ai làm người đó chịu, không thể nói anh làm tốt mà tôi được hưỡng, anh làm xấu tôi phải gánh, trừ phi đó là một chùm nhân quả như những người thân trong gia đình,. Nhưng thực tế đạo Phật ngày nay con người không còn tin như vậy. Tại sao tôi dám nói điều đó, bởi vì:

1/ Những hình thức cầu an, cầu siêu, lạy Phật, tụng kinh, niệm Phật là những hình thức đi trái với luật nhân quả. Nếu chúng ta tin có quy luật nhân quả công bằng, gieo nhân nào gặt quả đó thì cần gì phải tụng kinh, lạy Phật, niệm Phật, cầu an, cầu siêu làm gì, ai gieo nhân gì thì sẽ gặt quả đó, có tụng kinh, lạy Phật, niệm Phật, cầu an, cầu siêu cũng đâu có ích gì đâu. Vậy thì tụng kinh, niệm Phật, lạy Phật, cầu an cầu siêu chỉ mất thời gian, và làm cho thân tâm mệt thêm thôi,...

Nếu cầu cúng, tụng niệm, lạy Phật có hiệu nghiệm thì chắc có lẽ trên thế gian này rất nhiều tội phạm, họ cứ đi làm ác rồi cầu cúng, tụng niệm, lạy phật cho tai qua nạn khỏi, Lúc đó không còn ai sợ quy luật nhân quả nữa. Tất cả đều xem thường quy luật nhân quả.

2/ Nếu chúng ta niệm Phật để Phật giúp tai qua nạn khỏi thì khác gì Phật xem thường quy luật nhân quả. Vậy thì đức Phật dạy nhân quả để làm gì khi mà lời nói không đi đôi với việc làm.

3/ Có lẽ Phật A Di Đà dạy như vậy, còn Phật Thích Ca chỉ dạy các con phải tự đốt đuốc lên mà đi, Ta không thể đi thay các con được. Mỗi người phải tự cứu mình, mỗi người phải chịu trách nhiệm với việc làm của mình.

Ai hiểu rõ nhân quả thì sẽ thấy rõ ràng đạo Phật ngày nay dạy con người làm nhiều chuyện trái với quy luật nhân quả, biến nhân quả thành không còn công bằng nữa, biến nhân quả thành thuyết định mệnh.

Người ta nói về nhân quả thì nhiều nhưng ai cũng làm trái nhân quả. Họ tu hành để được rước về thế giới tây phương cực lạc. Ai cũng có tham sân si, thế giới này là thế giới của tham sân si. Người chết có tham sân si chỉ có thể tương ưng với thế giới tham sân si mà thôi. Nếu muốn về thế giới tây phương cực lạc thì thế giới tây phương cực lạc cũng phải là thế giới tham sân si mới tương ưng được. Còn thế giới của chúng ta là tham sân si thì khi chết con người chắc chắn sẽ tương ưng luân hồi quay lại đây, không thể nào tương ưng với thế giới nào khác được.

Do vậy những thế giới tây phương cực lạc chỉ là thế giới tưởng, do những người không hiểu quy luật nhân quả dựng lên mà thôi.

4/ Quy luật nhân quả là một quy luật có thể chuyển đổi chứ không phải cố định như là định mệnh. Do có gieo nhân thiện thì ắt phải gặt quả thiện, cho nên dù cuộc sống có khổ cực đến đâu, ai có tâm hướng thiện thì một ngày nào đó cuộc sống của họ sẽ thay đổi từ xấu thành tốt, đã tốt rồi sẽ tốt hơn nữa.

Do vậy ai đã hiểu rõ nhân quả thì họ đâu có còn mê tín, đâu có tin vào định mệnh, vào tướng số, vào số phận, vào tử vi bói toán. Họ chỉ biết sống lìa xa các điều ác, chỉ làm điều thiện thì chắc chắn cuộc sống họ sẽ tốt hơn thôi. Họ tự làm chủ cuộc đời của họ, không phụ thuộc vào thần thánh nào cả, không cần cầu ai cả. Trong nhà họ đâu có tìm thấy tượng thần thánh hay vị Phật nào.

Trong nhà càng nhiều tượng Phật, tượng các vị thần (ông địa, ông táo, ông thần tài, ông quan công,...) chỉ nói lên sự mê tín của người đó mà thôi. Tin Phật thì hãy sống như Phật chứ gọi tên Phật có ích gì. Kêu tên Phật là cách tu mù, tu điên, tu khùng,... Chỉ những người không hiểu nhân quả mới sáng chế ra cách tu như vậy.

Nếu không có quy luật nhân quả thì chắc chắn đạo Phật sẽ không ra đời, vì con người không thoát khổ được, số phận đã được định trước, không thay đổi được nữa. Đạo Phật ra đời dạy cho con người sống có đạo đức đức hạnh để mang niềm vui và hạnh phúc đến cho nhau, đó là chúng ta đang gieo nhân thiện, gieo nhân thiện thì sẽ gặt quả thiện trong tương lai, cuộc sống của chúng ta sẽ luôn đầy đủ, không thiếu thốn, nhà nhà đầy ắp tiếng cười vui vẻ và hạnh phúc.

5/ Khi đức Phật tu chứng đạo, Ngài đã biết rõ con đường thoát khổ, con đường đó chính là giới, định, tuệ – hay còn gọi là tam vô lậu học. Chỉ cần ai sống được 1 trong 3 điều trên là người đó hết khổ. Trong 3 điều trên giới luật là quan trọng nhất, Định và Tuệ chỉ là quả của giới luật, không có giới luật thì không bao giờ có định và tuệ. Giới luật là những đức hạnh đạo đức nhân bản nhân quả dạy cho con người sống không làm khổ mình, khổ người và khổ chúng sinh, nghĩa là sống mang niềm vui và hạnh phúc đến cho mình cho người và cho các loài vật khác. Giới luật mang đến nhiều lợi ích như vậy mà tại sao chúng ta lại bỏ qua, xem thường. Nếu người nào đã sống đúng giới luật thì chắc chắn họ sẽ thấy giải thoát ngay, khi giải thoát rồi thì họ đâu cần phải phí sức, tốn công, ngày đêm công phu tụng kinh, lạy Phật, niệm Phật chi cho mỏi miệng, tốn sức, nhức đầu, đau chân, đau gối,...

Các bạn cứ ngẫm nghĩ lại xem, một vị thầy truyền dạy đạo đức chỉ mong các học sinh của mình sống đúng đạo đức, chỉ cần thấy học sinh của mình sống đúng đạo đức là vị thầy đó vui mừng rồi. Đằng này, nếu học sinh không sống đúng đạo đức như những gì vị thầy dạy, suốt ngày chỉ gọi tên thầy thì các bạn thử nghĩ xem vị thầy đó có vui không? Đức Phật cũng chỉ là một vị thầy thôi các bạn à, Ngài đã tu xong, Ngài dạy lại cho chúng ta những giới luật đức hạnh sống không làm khổ mình, khổ người và khổ chúng sinh, Ngài chỉ mong chúng ta sống đúng giới luật mà thôi. Ai sống đúng giới luật đức hạnh thì Ngài rất mừng, những người đó mới xứng đáng là con Phật, là trò của đức Phật. Đằng này chúng ta lại được dạy niệm Phật, lạy Phật, tụng kinh, gọi tên Phật suốt ngày thì có ích gì, đức Phật đâu có vui đâu, mà ngược lại chỉ nhức đầu và buồn thêm vì chúng ta không làm theo lời Phật dạy, không sống đúng giới luật.

Chúng ta là con người, là những người có hiểu biết, chúng ta phải biết nhận ra sự giải thoát của đạo Phật nằm ở chổ nào chứ? Nhân quả là một định luật công bằng. Gieo nhân thiện ắt sẽ gặt quả thiện, ai sống đúng giới luật đức hạnh sẽ có một cuộc sống an vui và hạnh phúc. Đức Phật dạy cho chúng ta biết cách sống đúng đạo đức để tự mình đem hạnh phúc đến cho mình, cho gia đình mình và mọi người xung quanh. Vậy mà chúng ta không chịu sống đạo đức, cứ gọi tên Phật thì có ích lợi gì?

Tóm lại, ai tin vào quy luật nhân quả, tin rằng quy luật nhân quả công bằng thì sẽ thấy đạo Phật ngày nay dạy những điều trái với quy luật nhân quả. Từ đó chúng ta có thể thấy rõ những hình thức trái ngược nhân quả đó không phải là của Phật giáo mà là của các tôn giáo khác mượn danh Phật giáo để lừa gạt Phật tử qua bao thế hệ. Chính vì vậy mà chúng ta thấy rõ ngày nay những vị tu sĩ theo Phật giáo tu danh tu lợi rất nhiều, không còn ai sống đúng gương hạnh của đức Phật Thích Ca, xả phú cầu bần, sống thiểu dục tri túc nữa. Những người đó không xứng là con Phật, trò của Phật, họ không đáng để chúng ta tôn kính, không đáng để chúng ta cúng dường. Nếu ai tin vào họ, cúng dường cho họ thì chỉ làm tổn phước báu của chính mình mà thôi, gieo một hạt giống trên mảnh đất xấu cằn cỗi thì làm sao gặt được quả tốt.

Wednesday, 23 July 2014

TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC VÀ VÔ SỰ LÀ GÌ ?

     (Trích từ sách “Những bức tâm thư tập 3" trang 21,151, 263)

Tâm thanh thản, an lạc và vô sự là mục đích giải thoát của Phật giáo. Mục đích của đạo Phật là chỗ thân tâm không còn đau khổ nghĩa là không còn lậu, tức là vô lậu. Trả lời như vậy các con có hiểu chưa? Nếu các con chưa hiểu, thì nên xét nghiệm lại thân tâm các con hiện giờ:

    1/ Về tâm có giận hờn, buồn phiền, lo lắng, thương nhớ, sợ hãi hay không? Nếu không thì nó đang im lặng, thanh thản và vô sự đó;
    
- VÔ SỰ VỀ TÂM có nghĩa là tâm không phóng dật, không nghĩ ngợi suy tư một điều gì. Tâm không làm một việc gì khác, có nghĩa là không nghe băng, không đọc kinh sách, không xem ti vi, không ngửi mùi thơm, không nếm vị, không xúc chạm và không khởi niệm ác, ấy là tâm thanh thản, cho nên khi đi, đứng, nằm, ngồi đều thanh thản. Thanh thản là một niệm thiện vô lậu; niệm thiện vô lậu là niệm Bất Động của tâm.

    - Tâm hết lậu hoặc là tâm thường quay vào trong thân, không phóng dật theo sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; trạng thái tâm lúc này thanh thản và an lạc, tâm tư phát khởi điều thiện đối với các pháp. Luôn nghĩ tốt về mọi người, không bao giờ có ý nghĩ xấu với người khác.
    
- Ngược lại, tâm chưa hết lậu hoặc thường lo xa, suy tư chuyện này đến chuyện kia, khởi tâm ham muốn cái này cái kia hay sanh ra việc làm phá hạnh độc cư nói chuyện phiếm, thân tâm luôn hữu sự, đầu óc đầy ắp những sự việc.

    2/ Về thân các con có cảm nhận bệnh tật đau nhức chỗ nào không? Nếu không là nó đang an lạc và vô sự.
   
 - Về THÂN VÔ SỰ thì thân không đau nhức, không mỏi mệt, không hôn trầm, thùy miên, v.v... Thân không làm một sự việc gì, có nghĩa là thân không ăn, không nhai, không nuốt, không uống, v.v... ấy là THÂN AN LẠC. Thân an lạc là niệm Vô Sự của thân.

******************************************************

Mục đích của người tu sĩ Phật giáo là phải chứng đạt được tâm vô lậu. Vậy tâm vô lậu là gì?

- Tâm vô lậu là tâm không còn khổ đau phiền não, lo lắng, sợ hãi, tức giận, than khóc v.v...
- Tâm vô lậu là tâm bất động trước các ác pháp và các cảm thọ.
- Là tâm không làm khổ mình, khổ người và khổ cả hai.
- Là tâm không còn dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu.

Vì thế, sự tu tập của đạo Phật rất rõ ràng là nhắm vào chỗ đoạn diệt tất cả các lậu hoặc, đem lại sự thanh thản, an lạc và vô sự cho một thân tâm giải thoát.

Kính thưa các bạn! Các bạn có biết tâm vô lậu là gì không?

- Khi nào người ta chê bạn, nói xấu, mạ lị, mạt sát, chửi mắng bạn, mà tâm bạn vẫn thản nhiên không buồn giận hờn, không oán ghét v.v.. đó là tâm vô lậu.
- Khi nào bạn không thương, không ghét một người nào, không sợ hãi, lo lắng sống luôn luôn thanh thản, an ổn và không có một chướng ngại gì trong tâm các bạn, đó là tâm vô lậu.
- Khi nào tâm các bạn không còn tham muốn một vật gì, dù đó là một món ăn rất ngon, rất thích khẩu của các bạn, nhưng các bạn cũng thản nhiên không thèm, không ham thích muốn ăn. Có thì ăn, không có ăn thì thôi, đó là tâm vô lậu.
- Khi nào các bạn thấy sự lười biếng, hôn trầm, thùy miên không còn tấn công các bạn khi các bạn muốn thức dù bất cứ giờ nào, các bạn cũng đều tỉnh thức, đó là tâm vô lậu của các bạn.
- Khi nào tất cả mọi cảm thọ đến với bạn mà tâm bạn không lo, không sợ hãi thì đó là tâm vô lậu.
- Khi nào tất cả mọi pháp làm động khiến tâm các bạn bất an, nhưng các bạn vẫn thản nhiên, với tâm thanh thản, an lạc và vô sự thì đó là tâm vô lậu.

Khi nào các bạn nhận xét thấy rõ ràng tâm mình được như vậy là các bạn đã tu xong, tức là các bạn đã chứng đạt chân lí, nếu còn chưa được như vậy thì các bạn phải tác ý để tâm các bạn bất động, tức là các bạn còn đang hộ trì chân lí, đó là các bạn còn tu tập. Như vậy chỗ tu tập còn hay đã xong là các bạn đều
biết rất rõ ràng.

Tâm vô lậu bất động là chỗ các bạn an trú trong khi các bạn còn sống cũng như lúc các bạn đã chết. Tâm hữu lậu chưa bất động là không phải chỗ các bạn an trú. Mà nếu các bạn an trú nơi đó thì các bạn phải chịu nhiều đau khổ. Muốn không an trú chỗ tâm hữu lậu thì các bạn phải tu tập nhiều nữa.

Như vậy chỗ tu tập để chứng đạt chân lí của Phật giáo không phải khó khăn, chỉ có tu tập đúng pháp thì tâm lậu hoặc sẽ được diệt sạch. Tâm diệt sạch lậu hoặc là chỗ an trú của Phật. Xin các bạn lưu ý những lời dạy này.

(Đoạn trên trích ra từ bài "Tự tại sanh tử" trong sách "Những Lời Gốc Phật Dạy tập 4" trang 304-306)






Tuesday, 22 July 2014

SỰ GIẢI THOÁT NẰM Ở ĐÂU ?

Người đến với đạo Phật quan trọng nhất là phải biết rõ sự giải thoát của đạo Phật là gì ? Nằm ở đâu ? Nếu không thì chúng ta sẽ không có phương hướng tu mù, tu điên, tu khùng, tu chơi, tu theo phong trào, ....

Có đặt ra những câu hỏi như vậy thì chúng ta mới đi tìm nó, khi xác định và hình dung rõ mục đích giải thoát thì chúng ta không bị mất thời gian, tu đến đâu là tìm thấy sự giải thoát đến đó.

Vậy sự giải thoát của đạo Phật nằm ở đâu?

Câu trả lời là nó nằm ngay trước mắt các bạn ở từng suy nghĩ, từng lời nói và từng hành động. Nếu như từng suy nghĩ, từng lời nói và từng hành động của chúng ta hằng ngày không làm khổ mình, khổ người và khổ chúng sinh thì ngay đó chúng ta sẽ thấy sự giải thoát của đạo Phật. Cụ thể như dưới đây:


  • Người sống ly dục, ly ác pháp là người đang giải thoát.
  • Người sống không tham, sân, si, mạn, nghi là người đang giải thoát.
  • Người sống không còn bị ràng buộc bởi các kiết sử là người đang giải thoát.
  • Người sống với 10 điều lành là người đang giải thoát.
  • Người sống với 10 giới thánh đức Sa Di là người đang giải thoát.
  • Người sống biết diệt ngã là người đang giải thoát.
  • Ai sống thiểu dục tri túc là người đang giải thoát.
  • Ai đang sống xả phú cầu bần là người đang giải thoát. 
  • Người biết sống với 3 đức hạnh nhẫn nhục, tùy thuận và bằng lòng là người đang giải thoát.
  • Người biết sống yêu thương là người đang giải thoát.
  • Ai biết sống vì người khác là người đang giải thoát.
  • Ai nói nặng, chê bai, mạ lị, mạt sát, mắng chửi mình, nói trái ý mình, làm trái ý mình mà mà tâm bạn vẫn thản nhiên không buồn giận hờn, không oán ghét v.v.. là mình đang giải thoát.
  • Ai biết sống hài lòng vui vẻ với mọi ý kiến, lời nói và việc làm của người khác là người đang giải thoát.
  • Ai biết sống chấp nhận mọi việc đến với mình là người đang giải thoát.
  • Ai biết sống tích cực là người đang giải thoát.
  • Ai biết sống có cái nhìn tốt về mọi người, luôn thấy mọi người là tốt, đúng và thiện là người đang giải thoát.
  • Ai biết sống có cái nhìn luôn thấy mọi người đang yêu thương mình là người đang giải thoát.
  • Ai biết sống có tấm lòng tha thứ, bỏ qua mọi lỗi lầm và sai phạm của người khác là người đang giải thoát.
  • Ai biết sống cung kính và tôn trọng mọi người là người đang giải thoát.
  • Ai biết sống luôn tin tưởng, không bao giờ nghi ngờ người khác là người đang giải thoát.
  • Ai sống không làm 6 nghề ác là người đang giải thoát. 
  • Ai biết sống luôn cẩn thận, tĩnh giác là người đang giải thoát. 
  • Ai biết sống nói những lời nói ái ngữ, ôn tồn, nhã nhặn, nhỏ nhẹ, những lời nói hòa hợp, đoàn kết,... là người đang giải thoát.
  • Ai luôn thấy lỗi mình, không nhìn lỗi người là người đang giải thoát.
  • Ai sống với tâm khiêm hạ, khiêm tốn là người đang giải thoát.
  • Ai biết đối xử bình đẳng với mọi người, mọi loài vật, không phân biệt thân sơ, giai cấp, địa vị, quyền hành, tôn giáo,... là người đang giải thoát. 
  • Ai sống biết buông xả sạch là người đang giải thoát.
  • Ai biết sống với tri kiến nhân quả là người đang giải thoát.
  • Ai biết sống với tri kiến vô thường, khổ, vô ngã là người đang giải thoát.
  • Ai biết sống với tri kiến đạo đức nhân bản - nhân quả, không làm khổ mình, khổ người và khổ chúng sinh là người đang giải thoát.
  • Ai biết sống với tri kiến về Tứ Vô Lượng Tâm là người đang giải thoát.      
  • Ai sống không giết hại và ăn thịt chúng sinh là người đang giải thoát.
  • Ai sống không tham lam trộm cắp, không lấy của không cho là người đang giải thoát.
  • Ai sống biết tôn trọng hạnh phúc gia đình người khác, không phá hoại hạnh phúc gia đình người khác là người đang giải thoát.
  • Ai biết sống thành thật, trung thực là người đang giải thoát.
  • Ai sống không rượu chè, cờ bạc, hút thuốc, hút xì ke, cá độ,... là người đang giải thoát.
  • Ai biết sống không mê tín là người đang giải thoát.
  • Ai sống với tâm không thương, không ghét một người nào, không sợ hãi, lo lắng sống luôn luôn thanh thản, an ổn và không có một chướng ngại gì trong tâm là người đang giải thoát.
  • Ai sống với tâm không còn tham muốn một vật gì, dù đó là một món ăn rất ngon, rất thích khẩu của các bạn, nhưng chúng ta vẫn thản nhiên không thèm, không ham thích muốn ăn. Có thì ăn, không có ăn thì thôi là người đang giải thoát.
  • Ai thấy sự lười biếng, hôn trầm, thùy miên không còn tấn công,  khi chúng ta muốn thức dù bất cứ giờ nào, chúng ta cũng đều tỉnh thức là người đang giải thoát.
  • Khi nào tất cả mọi cảm thọ đến mà tâm không lo, không sợ hãi là người đang giải thoát.
  • Khi nào tất cả mọi pháp làm động khiến tâm bất an, nhưng chúng ta vẫn thản nhiên, luôn sống với tâm thanh thản, an lạc và vô sự thì người đó đang giải thoát.
  • Dù với bất kỳ oai nghi nào: đi, đứng, nằm hoặc ngồi chơi, tâm luôn tự nhiên như người nhàn cư vô sự, thân tâm không bị một chướng ngại nào, người đó đang sống với tâm giải thoát.
  • V.v...

Còn rất rất nhiều các bạn à. Cái tôi muốn nói ở đây là sự giải thoát ở ngay trước mắt chúng ta, mỗi một việc thiện chúng ta làm, mỗi một việc ác chúng ta bỏ xuống, là ngay đó có sự giải thoát. Chứ không cần phải đợi đến khi tu có thiền định hay thần thông mới có sự giải thoát. Sự giải thoát của đạo Phật không nằm ở chổ thiền định hay thần thông. Ai hiểu được như vậy thì sẽ rất sung sướng, thấy rõ sự giải thoát của đạo Phật hằng giây, hằng phút. Đạo Phật rất thực tế và đơn giản là ở chổ đó.

Ai cũng đã từng nghe cụm từ "Tam Vô Lậu Học", đó là Giới, Định, Tuệ. Chỉ cần giữ gìn giới luật nghiêm chỉnh thì tâm sẽ vô lậu, vô lậu nghĩa là không còn đau khổ nữa. Giới luật là những đức hạnh sống không làm khổ mình, khổ người và khổ chúng sinh, Định là quả của Giới, Tuệ là quả của Định. Cái mà chúng ta cần tu là Giới chứ không phải Định hay Tuệ, Định hay Tuệ chỉ là quả của Giới mà thôi. Không có giới luật thì định và tuệ không bao giờ có. Chỉ cần sống đầy đủ giới luật đức hạnh là đã tìm thấy sự giải thoát rồi, mà giới luật đức hạnh chính là những hạnh động hằng ngày chúng ta đang sống với nó qua từng suy nghĩ, lời nói và việc làm.

Người ngày nay cứ bỏ giới luật, nhắm vào Định để có Tuệ, họ được dạy ngồi thiền, niệm chú, tụng kinh, lạy Phật, .... Đó là tà Định, là tưởng định, không phải Định của đạo Phật. 

Ai sống đời sống đức hạnh thì tâm sẽ tự nhiên thanh tịnh, sự tự nhiên thanh tịnh đó chính là Định của đạo Phật. 

 Tu là sửa, là buông xả tất cả để tìm thấy sự bất động, thanh thản, an lạc và vô sự. Càng buông xả nhiều thì càng tìm thấy sự giải thoát càng nhiều. Chứ không phải tu là ôm vào. Người tu ngày nay buông xả mọi thứ ở đời, thấy rõ sự giải thoát của đạo Phật. Nhưng khi vào chùa, vào tu viện họ được dạy những pháp tu, họ tưởng rằng khi ôm các pháp tu thì sẽ thấy sự giải thoát, nhưng không ngờ chả thấy sự giải thoát ở đâu mà chỉ thấy sự khổ cực của thân tâm.

Các bạn cứ ngẫm nghĩ lại xem có phải không, ai cũng tưởng phải vào chùa, vào tu viện ôm pháp này tu, ôm pháp kia tu để được sự giải thoát, nhưng đâu ngờ chính những pháp đó lại làm cho chúng ta bị dính mắc, phải công phu sáng chiều tối, nếu không công phu thì cảm thấy bất an, phải sám hối. 

Sự giải thoát của đạo Phật nằm ở chổ buông xả sạch. Người giải thoát là người tâm luôn bất động thanh thản an lạc và vô sự, suốt ngày dù sử dụng trong 4 oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi  mà tâm vẫn tự nhiên như người nhàn du vô sự, không bị dính mắc, không bị bất kỳ chướng ngại nào trên thân tâm cả các bạn à.

Chúng ta là những con người có hiểu biết, có đầu óc, chúng ta phải biết rõ, nhận thức rõ sự giải thoát của đạo Phật nằm ở chổ nào? để nhận ra được sự không đúng của đạo Phật ngày nay. Bởi vì với hình thức tôn giáo ngày nay, đạo Phật đã bị các tôn giáo khác mượn danh Phật giáo phát dương tôn giáo của họ qua các hình thức, nghi lễ tụng kinh, niệm Phật, lạy Phật, niệm chú, ngồi thiền,...

Đạo Phật là đạo trí tuệ, trí tuệ ở đây là luôn luôn dùng sự hiểu biết, sự tư duy để suy nghĩ chính chắn về mọi việc chứ không thể tin bừa, tin bậy, tin mù quáng vào những lời của các vị thầy, vị sư được. Chính nhờ vào sự hiểu biết mà chúng ta thấy rõ sự giải thoát của đạo Phật ở chổ buông xả mọi ác pháp xuống thì ngay đó chúng ta đang làm sanh và tăng trưởng thiện pháp. Chính nhờ vào sự hiểu biết mà chúng ta thấy rõ được từng suy nghĩ, lời nói hay việc làm nào làm khổ mình, khổ người và khổ chúng sinh. Khi thấy như vậy chúng ta buông xuống không làm theo. Còn ngược lại, khi thấy không làm ai đau khổ thì chúng ta sẽ làm và sẽ nói. 

Sự chứng đạo, sự giải thoát của đạo Phật nằm ở chổ trí tuệ, ở sự hiểu biết. Nếu không biết khai triển tư duy suy nghĩ về mọi việc thì chúng ta đang tu mù, tu điên, tu khùng, đang bị lợi dụng, đang bị lừa gạt mà không biết. 

Tóm lại, sự giải thoát của đạo Phật nằm ngay ở trước mắt chúng ta. Ai biết triển khai tri kiến, biết vận dụng đầu óc tư duy suy nghĩ thì sự giải thoát ngay trước mắt.

Tuesday, 15 July 2014

TRI KIẾN XẢ TÂM

Tri kiến xả tâm là những sự hiểu biết để xả tâm, giúp cho con người không còn bị ác pháp chi phối làm cho đau khổ, do có những hiểu biết như vậy thì người đó đã có tri kiến giải thóat.

Có bao nhiêu phương pháp xả tâm? Có rất nhiều. Mỗi người sẽ tự chọn ra một vài cách phù hợp với mình rồi thường xuyên quán xét, thường xuyên áp dụng chúng vào mọi việc đến với mình để có thể buông xả mọi ác pháp, giúp cho tâm luôn bình tĩnh, luôn thanh thản an lạc và vô sự. 

Người theo đạo Phật chỉ cần trau dồi quen những phương pháp xả tâm thì dù pháp nào đến đều có cách hóa giải chúng, đem sự bình yên lại cho chính mình và người khác.

Các tri kiến đó gồm:
  1. Tri kiến về nhân quả.
  2. Tri kiến về vô thường, khổ, vô ngã.
  3. Tri kiến về cách nhìn người như ông Phú Lâu Na
  4. Tri kiến về tâm Từ, Bi, Hỷ, Xả
  5. Tri kiến về 3 đức nhẫn nhục, tùy thuận và bằng lòng
  6. Tri kiến về thân ngũ uẩn
  7. Tri kiến về Tứ Diệu Đế
  8. Tri kiến về thập nhị nhân duyên
  9. Tri kiến tích cực về mọi việc, mọi người và mọi vật
  10. Tri kiến về giới luật, về đạo đức nhân bản nhân quả, về sống không làm khổ mình, khổ người và khổ chúng sinh.
  11. V.v...
Khi đã thuần thục và quen với các tri kiến trên thì việc xả tâm trở nên dễ dàng. Đối với cư sĩ, vì vẫn còn duyên với đời, cho nên hằng ngày vẫn còn giao tiếp, cho nên luôn có đối tượng để xả tâm. Khi có sự việc gi xảy ra thì trong đầu họ liền biết cách hóa giải mọi việc.

Ví dụ: khi chúng ta bị mắng chửi thì trong đầu chúng ta sẽ có những tri kiến sau:
  • Đây là nhân quả của mình.
  • Mọi việc là vô thường, trước sau gì cũng hết. Sự viêc này mang tính chất là vô ngã, tất cả đều do nhân quả đứng đằng sau dựt dây điều khiển người đó mắng chửi mình thôi, chứ người đó vẫn là người tốt. 
  • Người ta mắng chửi mình là người đó còn thương mình vì họ còn chưa đánh mình.
  • Người chửi mắng mình là người đang tạo nghiệp xấu, ta hãy yêu thương họ, tha thứ cho họ.
  • Khi có một người mắng chửi ta là họ đang rất giận, nếu ta cũng mắng chửi lại họ, hoặc biện minh cho mình thì chỉ đổ dầu vào lửa, làm cho họ giận thêm. Ta hãy nhận lỗi, nói lời xin lỗi họ, hoặc nên im lặng bỏ đi. Có như vậy thì tâm họ sẽ bình yên lại và mọi chuyện sẽ kết thúc. 
  • Chỉ có im lặng như thánh hoặc nói lời nói ái ngữ xin lỗi mới không làm khổ mình khổ người.
  • Người mắng chửi mình là người đang khổ, ta hãy thương yêu họ.
  • V.v...
Vào cuối ngày nhìn lại những sự việc, sự cố xảy ra trong ngày, chúng ta khai triển tri kiến giải thóat càng nhiều càng tốt, cho đến khi nào tâm bất động trước mọi việc xảy đến là viên mãn. 

Tóm lại, tri kiến xả tâm rất quan trọng, tu theo đạo Phật mà không có tri kiến giải thóat thì không bao giờ tìm thấy sự giải thóat. 

Nếu các bạn để ý, sở dĩ tất cả Phật tử đều cảm thấy hài lòng với môn phái mà mình đang theo là nhờ họ có những tri kiến cơ bản trên. Chính những tri kiến trên giúp họ xả tâm, giúp họ biết sống yêu thương và tha thứ, giúp họ ly tham, sân, si, mạn, nghi. Còn việc tụng kinh, niệm Phật, lạy Phật, ngồi thiền không bao giờ đem lại sự giải thóat nào cả, chúng chỉ là những hình thức phụ tô điểm thêm cho giống tôn giáo đã được các tôn giáo khác lồng vào Phật giáo, mượn danh Phật giáo để phát dương tôn giáo của họ thôi. Chứ người có hiểu biết khi sống có tri kiến rồi thì họ đâu cần tụng kinh, niệm Phật, ngôi thiền chi nữa cho cực, đâu ai ngu dại gì đang giải thóat rồi lại muốn không giải thóat. 

Các bạn cứ thử nghĩ lại xem, các bạn tụng kinh, niệm Phật, lạy Phật, ngồi thiền có thấy giải thóat không. Có phải các bạn chỉ thấy mất thời gian, mõi miệng, đau chân, đau lưng,... không?

Đến với các vị thầy thuộc các môn phái từ Đại Thừa cho đến Tiểu Thừa, Tịnh độ cho đến Thiền Tông, họ dạy chúng ta sống thương yêu và tha thứ cho nhau, chúng ta áp dụng vào đời sống và thấy rõ mang đến sự giải thóat ngay liền. Nhưng cũng chính những vị đó lại dạy thêm cho chúng ta tụng kinh, niệm Phật, ngồi thiền,... thì theo tôi nghĩ các vị đó cũng không hiểu sự giải thóat của đạo Phật ở đâu. 

Chính vì phải ôm tu cái này cái kia, phải công phu sáng, trưa, chiều, tối,...mà chúng ta không thấy sự giải thoát. Chúng ta được bảo rằng phải công phu nhiều, phải siêng năng, phải tu nhiều đời nhiều kiếp để được giải thoát, đó là một cách nói mơ hồ, không rõ ràng để che đậy sự không giải thoát. Đạo Phật là đạo trí tuệ, ai biết động não thì sẽ nhận ra ngay sự giải thoát của đạo Phật nằm ở đâu, ai tu đúng là phải thấy sự giải thoát ngay, giải thoát ngay trong hiện tại, nó đơn giản, ai tu cũng được. Đó mới là đạo Phật. 

Khi sống với lòng yêu thương và tha thứ, sống biết buông xả, không tham, sân, si, mạn, nghi, chúng ta tìm thấy rõ sự giải thóat thì cứ như vậy phát triển rộng thêm nữa để sự giải thóat viên mãn tòan phần, cớ sao không đi theo hướng đó mà lại đeo vào những thứ không thấy sự giải thóat như tụng kinh, niệm Phật, ngồi thiền,...Thật là tiếc thay cho những ai tin rằng tụng kinh, niệm Phật, lạy Phật và ngồi thiền đem đến sự giải thóat. Ai cũng bị đầu độc rằng phải tu nhiều kiếp. Tại sao không ai nghĩ rằng sự giải thóat của đạo Phật ngay trước mặt rồi mà còn đợi nhiều kiếp làm chi  nữa. Chỉ cần biết sống yêu thương và tha thứ, sống biết buông xả tất cả, sống không còn tham, sân, si, mạn, nghi là đủ, sống có những tri kiến như trên là giải thóat rồi còn gì nữa phải không các bạn.

Mời các bạn đọc bài "Vô thường Vô Ngã"

VÔ THƯỜNG VÔ NGÃ

Nói đến đạo Phật ai cũng biết đạo Phật luôn nhìn mọi việc dưới con mắt nhân quả. Có gieo nhân cộng với đủ duyên thì có ngày quả sẽ có, duyên tan thì quả cũng không còn, một quả thì nhiều nhân, gieo nhân nào thì có quả đó do vậy nhìn quả biết nhân, nhìn nhân ắt sẽ biết quả.

Do mọi pháp thế gian đều là nhân quả, đủ duyên thì hợp, hết duyên thì tan cho nên tính chất của các pháp thế gian đều vô thường, thay đổi, luôn biến đổi,...Chính vì các pháp vô thường thay đổi cho nên khi con người chấp vào các pháp là bất biến, cố định sẽ dẫn đến đau khổ, buồn rầu, lo lắng và sợ hãi. 

Ví dụ: khi chiếc xe mới mua bị mất, bị trầy, bị hư, bị xước thì chắc chắn sẽ có những trạng thái giận, buồn, đau khổ. Thêm vào đó chúng ta thấy mọi thay đổi đều bất thường không theo bất kỳ quy tắc, quy luật nào, không ai có thể quyết định sự thay đổi của vạn vật, do vậy mà các pháp có thêm 1 tính chất nữa là vô ngã, nghĩa là không có ai làm chủ mọi vật cả. Đặt ngược lại, nếu ta nói rằng ta là chủ của một vật nào đó, thì tại sao ta muốn vật đó mãi mãi xinh đẹp, không bị mất, không bị hư,...không được. Kể cả cái thân của con người cũng vậy lúc thì đau bệnh này, lúc thì đau bệnh khác, lúc thì hết đau,... không ai làm chủ nó được, không ai có thể ra lệnh cho nó không bệnh, hết bệnh, không già và không chết được. Do vậy, mới có sự kết luận tất cả các pháp thế gian là vô thường, khổ và vô ngã, không có gì là ta, là của ta, là bản ngã của ta cả.

Có khi nào các bạn tự đặt câu hỏi: tại sao ta luôn thấy lỗi người, tại sao ta luôn dính mắc vào những cái sai, cái xấu, cái ác, cái thiện, cái lỗi, việc làm và lời nói của người khác ? Có cách nào, phương pháp nào giúp ta có cái nhìn mọi việc tích cực hơn không? hay là có giải pháp nào tránh không thấy lỗi người không? Luôn có cái nhìn tốt về mọi người.

Cách thì có rất nhiều, trong đề tài này tôi chỉ muốn nói rõ về sự vô thường và vô ngã. Thời đức Phật còn tại thế, đức Phật thường dùng bài pháp này để dạy cho con mình là La Hầu La, ông Chiên Đà La (7 ngày chứng đạo) và các tỳ kheo Ni cũng được các thánh tăng giảng cho bài này. Nội dung bài này tôi xin trích ra 1 phần và tóm lược dưới đây. Muốn rõ hơn các bạn có thể đọc bài "Tiểu Kinh Giáo Giới La Hầu La" trong kinh trung bộ bài 147.

Nội dung bài thuyết của đức Phật cho La Hầu La nói về 6 căn, 6 trần và 6 thức. Mắt, tai, mũi, miệng, thân ý là vô thường, vô ngã; những hình ảnh mắt thấy, âm thanh tai nghe, mùi, vị, xúc chạm, những tư duy suy nghĩ đều vô thường, vô ngã; những cái biết của mắt, của tai, của mũi, của lưỡi, của thân, của ý gọi là sắc thức, nhĩ thức,...ý thức cũng đều là vô thường, vô ngã. Nói chung, dù là 6 căn, 6 trần, hay 6 thức cũng đều có những tính chất khổ, vô thường, vô ngã, không có cái gì là ta, là của ta là bản ngã của ta cả.

Phân tích về sáu trần: Khi chúng ta thấy bất kỳ ai, vật gì chúng ta đều biết chúng đều có những tính chất trên, do biết chúng là vô thường, cho nên chúng ta không còn ham muốn, dính mắc nữa vì bản thân chúng sẽ tự họai diệt, sẽ thay đổi. Do hiểu như vậy mà người tu buông xả được tất cả các pháp thế gian, biết chúng chỉ là tạm bợ, ai dính mắc vào chỉ mang đến đau khổ mà thôi. Buông xả được thì sự giải thóat ở ngay đó, buông xả nhiều thì giải thóat nhiều, buông xả ít thì giải thóat ít, đúng như lời Phật dạy: "đạo ta không có thời gian, đến để mà thấy"

- Về vô ngã, chúng ta thấy rằng dù chuyện gì xảy ra, dù ai nói gì, tất cả đều vô ngã, nghĩa là không có cái ngã nào làm việc đó. Ví dụ: khi ta thấy chị A chửi mắng anh B, ai cũng nghĩ rằng chị A là một người xấu, ác...Nhưng dưới con mắt của người có chánh kiến thì họ không nghĩ như vậy. Họ hiểu mọi việc xảy ra là vô ngã, tất cả đều là nhân quả, đó là nhân quả của anh B. Hình ảnh chị A chửi mắng anh B chỉ là một cảnh phim cho anh B thấy rõ nhân quả của mình, nhắc cho anh B thấy lúc xưa anh B cũng đã từng mắng chửi người nào đó, ngày nay anh B bị người khác mắng chửi lại. Thêm vào đó, nhân quả sẽ sắp xếp bất kỳ ai đó để mắng chửi anh B, nhân quả là quy luật công bằng đứng sau mọi việc dựt dây điều khiển chi A mắng chửi anh B. Chị A cũng giống như con rối được điều khiển, như những con rối kịch được một người đứng phía sau sân khấu dựt dây điều khiển tay, chân, miệng. 

Nếu chúng ta hiểu được rằng mọi việc xảy ra trên thế gian này đều là nhân quả, đều do nhân quả sắp xếp, đều do nhân quả điều khiển, đều do nhân quả dựt dây điều khiển mọi người thì chúng ta sẽ có cái nhìn khác về mọi người, thấy thương yêu mọi người hơn, không còn trách móc ai, dù người đó có đánh đập mình, giết mình, đuổi mình, phạt mình, nói xấu mình, .... 

Ngòai cái hiểu biết về vô ngã như vậy, bước kế tiếp chúng ta phải hiểu mọi pháp là vô thuờng. Có con mắt nhìn mọi việc xảy ra là vô thường, nghĩa là chúng ta đang trãi lòng yêu thương đến mọi người, vì lúc này chúng ta không có nhìn mọi vật, mọi người dưới con mắt ai lỗi, ai phải, ai sai, ai đúng nữa. Dù ai làm việc gì, nói gì, chúng ta đều biết là vô thường cho nên chúng ta biết cảm thông với mọi lời nói, việc làm của mọi người, luôn hy vọng mọi việc tốt đẹp sẽ đến với mọi người, hy vọng người đó sẽ thay đổi thành người tốt, người thiện,... 

Cũng với ví dụ trên khi chúng ta thấy chị A mắng chửi anh B, chúng ta liền nghĩ rằng mọi pháp đều vô ngã, đều là nhân quả, nhân quả của anh B, nhân quả đứng đằng sau dựt dây điều khiển chị A mắng chửi anh B để anh B phải trả quả mà anh B đã từng mắng chửi người khác, chứ không phải chị A muốn như vậy, bản chất chị A vẫn là người tốt. Ngòai ra tự chúng ta biết tất cả mọi chuyện là vô thường, bây giờ chị A mắng chửi anh B, sau này chị A, anh B sẽ không còn như vậy nữa và sẽ thay đổi trở thành những người tốt, người thiện không còn mắng chửi ai nữa.  


Dù ai làm việc gì, nói điều gì chúng ta hãy luôn có cái nhìn nhân quả với những tính chất vô thường vô ngã. Ai không có những cái nhìn này sẽ tự làm khổ mình, khổ người mà không hay biết. Các bạn thử nghĩ lại xem thì rõ. Bao nhiêu việc xung đột, bất hòa, mất đòan kết, đều do chúng ta thấy lỗi người, khi thấy lỗi người thì tự chúng ta đã gieo nhân thấy lỗi người ý hành, sau đó chúng ta bắt đầu nói xấu họ, nói xấu về họ cho người khác nghe, đó là chúng ta đã phạm lỗi thiếu đức ái ngữ khẩu hành.

Sự giải thóat hay không giải thóat của đạo Phật chỉ phụ thuộc vào tri kiến hiểu biết của con người, ai biết cách hóa giải mọi ác pháp, biết chuyển đổi mọi ác pháp thành thiện pháp thì chính tự người đó giải thóat. Do vậy đạo Phật là đạo trí tuệ, chỉ cần có sự hiểu biết đúng, có chánh kiến thì người đó sẽ chứng đạo trong nay mai mà thôi, trong tâm người đó không bao giờ tồn tại ác pháp bởi vì mọi ác pháp đã được chuyển hóa thành thiện pháp. Dưới mắt của người giải thóat ai cũng là người tốt, người thiện, người đáng yêu thương và họ luôn thấy mọi người cũng luôn yêu thương mình, sẵn sàng tha thứ mọi lỗi lầm của mình.

Tóm lại, sự hiểu biết rõ các pháp thế gian là vô thường, vô ngã rất quan trọng, Người tu hành theo Phật giáo chỉ cần hiểu biết như vậy là đã có thể giải thóat rồi, tâm họ luôn bất động thanh thản an lạc và vô sự. Các bạn cứ tự khai triển tri kiến đi rồi hả tin. Điều này tôi học được từ thầy Thích Thông Lạc, thầy đã nhắn nhủ lại với các tu sinh trong quyển sách "Những lời nhắc nhở tu sinh khi đến tu viện tu tập" bài "Phật pháp tu hành không khó".  

Nhờ có lòng tin vào thầy như vậy mà tôi đã khai triển tri kiến về vô thường, vô ngã, tìm ra được cách tư duy trên qua những bài giảng của đức Phật cho các vị thánh tăng. Bài giảng này rất phong phú đa dạng và còn rất nhiều nghĩa khác giúp cho người tu xả tâm, các bạn cứ triển khai thì sẽ thấy.

Dưới góc độ, đối với cái nhìn vô thường và vô ngã khi các pháp đến người tu chỉ cần nhắc tâm: "tâm bất động thanh thản, an lạc và vô sự". Tự trong đầu hiểu rõ mọi pháp là vô thường vô ngã, cho nên buông xuống ngay liền mọi pháp, không dính mắc vào bất kỳ điều gì, vào ai, vào lời nói hoặc việc làm của bất kỳ ai. Chỉ cần tu như vậy thì đến lúc nào đó tâm sẽ bất động, thanh thản, an lạc và vô sự hòan tòan. Dễ như vậy đó các bạn à! Đó mới chính là đạo Phật, đạo của con người, đã là con người đều có thể làm được, có thể chứng đạo ngay trong hiện tại, nó thực tế và đơn giản như vậy đó.

Mời các bạn đọc tiếp bài "Hình tướng giải thóat"

Thursday, 10 July 2014

XẢ PHÚ CẦU BẦN

Xả phú cầu bần là một đức hạnh tu theo Phật giáo. Do lập hạnh này mà người tu xả bỏ tất cả từ tài sản, của cải cho đến người thân ,... cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, sống đời sống 3 y một bát, cắt ai ly gia đi xin ăn khất thực hằng ngày. 

Đi khất thực hằng ngày là người đã lập hạnh xả phú cầu bần, họ không có giữ tiền bạc, không xin tiền bạc, không còn có của cải tài sản nào cả. (không xe, máy lạnh, giường nệm to rộng, máy giặt, tủ lạnh,...) Đó là một đức hạnh thân giáo cho mọi người khác.

Thời xưa đức Phật đã từ bỏ ngai vàng vợ đẹp con thơ, từ bỏ mọi tài sản của cải vàng bạc để đi khất thực từng nhà tìm con đường giải thóat cho chính mình và nhân lọai. Do vậy ai tu theo đạo Phật cũng phải giữ gìn đức hạnh này để noi gương đức Phật. 

Tiếc thay vì thời nay hình thức khất thực tại Việt Nam không còn nữa, cho nên mỗi trụ xứ tự đứng ta nấu nướng cho nên về hình thức bên ngòai người tu sĩ vẫn cầm bình bát đi khất thực nhưng thực chất là đi lấy thức ăn tại nhà bếp hay tại kệ thức ăn mà thôi. Tôi tự hỏi có phải do cách đi khất thực như vậy hay do không hiểu hạnh đi khất thực là để xả phú cầu bần cho nên quý tu sĩ vẫn còn sở hữu của cải tài sản. Ngòai buổi trưa đi khất thực, giờ khác sống rất tiện nghi sung túc đầy đủ vật chất, đi lại bằng xe hơi, sống trong phòng đầy đủ đồ đạc sung túc,...

Gương hạnh của đức Phật vẫn còn đó, lẽ nào chúng ta muốn quên hay sao?

Chúng ta không thể vì bất kỳ lý do nào biện minh cho những hành động đứng tên sở hữu, chất chứa của cải tài sản được. Ví dụ như nói rằng người xả tâm là người không dính mắc vào của cải tài sản, dù cho của cải tài sản bị mất, bị hư họai thì họ không buồn, không lo lắng không sợ hãi là được. Nếu nói như vậy rồi thì họ cứ chất chứa càng nhiều của cải hay sao, không còn sống hạnh thiểu dục tri túc nữa. Còn một cách nhìn khác là thật ra tất cả những của cải tài sản mà người tu sĩ có được là do Phật tử cúng dường, tiền bỏ ra mua là của Phật tử, do vậy có mất, có hư họai cũng đâu phải tiền của các vị tu sĩ đâu mà phải lo, phải sợ, phải buồn.

Tóm lại, người tu sĩ theo đạo Phật, nhất là những vị lãnh đạo chùa, tu viện nên làm gương hạnh sống xả phú cầu bần cho mọi người noi theo. Có sống đúng đức hạnh này thì mọi người mới kính trọng, còn không thì dưới con mắt của mọi người dù vị đó là trụ trì, là người lãnh đạo, là người hướng dẫn tu tập, là đại đức, thượng tọa hay hòa thượng, cũng là một cư sĩ bình thường mà thôi. Họ không còn được kính trọng nữa, hoặc có kính trọng cũng chỉ là hình thức bên ngòai chứ trong thâm tâm mọi người vẫn xem thường vị tu sĩ đó như bao người phàm phu khác.

CÁCH PHÁ TƯỞNG

Mời các bạn đọc bài "Hình Tướng Giải Thóat"

HÌNH TƯỚNG GIẢI THÓAT

Đạo Phật là đạo trí tuệ, do vậy sự hiểu biết rất quan trọng. Người đến với đạo Phật cần tạo một động lực để đạt được mục tiêu của mình. Ở đây mục tiêu chính là sự giải thóat, sự làm chủ sanh già bệnh chết và chấm dứt tái sanh luân hồi.

Để có thể tự tạo động lực cho chính mình, các bạn thử trả lời 3 câu hỏi sau:
1- Bạn có đủ khát vọng để vươn tới đích không?
2- Bạn có thực sự tự tin là bạn có thể đạt được mục tiêu đó không?
3- Bạn có hình dung rõ được mục tiêu mà bạn mong muốn đạt được không?

Chính vì chúng ta không hình dung được hình tướng của sự giải thóat là gì cho nên chúng ta bị mất thời gian, tu sai, tu điên, tu khùng. Ngược lại, khi hình dung được trước hình tướng giải thóat thì chúng ta tu thật, tu đến đâu là có sự giải thóat ngay đến đó, không phải đợi lâu, không phải tu nhiều đời nhiều kiếp mới giải thóat.

Bài viết này tập trung vào chủ đề hình tướng giải thóat. Nghĩa là làm sao nhận biết một người giải thóat?

Theo các bạn một người giải thóat của đạo Phật là người như thế nào? Có phải là hết tham, sân, si, mạn, nghi không? Chúng ta thử hình dung, giả sử trong một môi trường tu viện Chơn Như có 2 người sống gần nhau, và biết rằng 1 trong 2 người đã giải thóat.

Vậy đời sống của 2 người có khác nhau không? Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra ngay phải không các bạn. Người giải thóat không còn tham thì sẽ không còn dục lạc cho nên không còn bị lôi ra ngòai, không phá hạnh độc cư đi đây đi đó nói chuyện với người khác, họ không còn si cho nên suốt ngày họ đi, đứng, nằm, ngồi chơi tự nhiên như người nhàn hạ vô sự, còn người kia mỗi khi có hôn trầm thùy miên thì phải đi kinh hành, ôm pháp này pháp nọ phá rất khổ sở. Ngòai ra chúng ta có thể xét đời sống của từng người theo hạnh thiểu dục tri túc,...

Do vậy, khi biết rõ hình tướng giải thóat chính là những oai nghi đi đứng nằm ngồi tự nhiên như người nhàn hạ vô sự, nghĩa là đời sống của họ trông không khác gì một người bình thường sống trong 1 căn nhà nhỏ, nhưng không làm việc gì cả, chỉ ngồi chơi, đi, đứng thanh thản tự nhiên.

Người tu sinh mới bước chân vào tu viện lấy hình ảnh này làm đích để nhắm tới. Khi tâm tỉnh táo sáng suốt, họ vẫn ngồi chơi tự nhiên vô sự như một người vào công viên ngồi chơi. Khi có niệm thì quán xét vô lậu Tứ Chánh Cần "ngăn ác diệt ác, sanh thiện tăng trưởng thiện" Còn khi tâm không khởi niệm gì thì thôi, họ ngồi chơi tự nhiên luôn tỉnh thức biết rõ mọi vật xung quanh như một người bình thường nhưng không để tâm phóng dật và dính mắc vào bất kỳ pháp nào xung quanh.

Ngồi lâu, muốn đứng dậy đi thì họ đứng dậy đi chơi thanh thản tự nhiên như một người bình thường, đi đủ rồi, họ muốn ngồi thì lại ngồi xuống. Tu hành như vậy có sướng không các bạn, rất tự nhiên, nhẹ nhàng. Tu xả tâm là tu như vậy đó. Đó mới là hình tướng của người tu đúng, tu đến đâu là thấy sự giải thóat ngay đến đó, tu tự nhiên với ý thức tỉnh táo như vậy thì làm sao lọt vào tưởng được, làm sao bị điên bị khùng được.

Chỉ có những ai hiểu sai đạo Phật, phải ngồi thiền, phải nhiếp tâm, phải tập trung nhìn 1 đối tượng nào đó hoặc hơi thở hoặc bụng phình xẹp hoặc hình ảnh, ánh sáng, điểm nào đó trên tường, hoặc chú tâm giữ gìn các trạng thái khinh an hỷ lạc, nhìn tâm bất động,...những người như vậy là đang tu ức chế tâm, lâu ngày tưởng sẽ họat động. hình tướng tu như vậy là tu sai, tu sai là làm khổ mình, làm khổ mình thì tâm si tăng, tâm si tăng thì ngồi gục tới gục lui, dù có phá hôn trầm thùy miên đến đâu tâm si vẫn không hết, mà ngược lại tâm si mạnh thêm. Chỉ cần thấy rõ cái sai này người tu dứt khóat bỏ ngồi thiền, chỉ ngồi chơi tự nhiên vô sự như một người bình thường trong công viên thì các bạn sẽ thấy hôn trầm thùy miên giảm đi một nữa, vì lúc này bạn đã có chánh kiến. Chánh kiến hiểu đúng về cách tu xả tâm của đạo Phật, xả tâm của đạo Phật chỉ cần sự hiểu biết thôi.

Ví dụ: có người mắng chửi mình mà mình không giận họ, không nói lại một từ nào, im lặng, hoặc nói xin lỗi khi biết mình sai thì mọi việc sẽ trở nên tốt đẹp, còn nếu như mình cãi lại, mắng chửi lại thì 2 bên sẽ tức giận hơn, biết đâu còn dẫn đến đánh nhau bị thương, ... Chúng ta thấy rõ chỉ cần hiểu biết đúng thì chúng ta đã xả được tâm sân giận, đã ngăn được ác pháp xảy đến. Đâu cần ngồi thiền lim dim đâu???

Người đến với đạo Phật vì hiểu lầm, nhìn các tượng đức Phật ngồi kiết già, cho nên tự cho rằng muốn giải thóat thì phải ngồi thiền như Phật. Ngồi thiền để có định. Do lầm chấp này mà ai ai cũng ngồi thiền, nhắm mắt lim dim. Nhắm mắt lim dim thì ý thức chìm mất, ý thức mất thì tưởng họat động, tưởng họat động thì tu sai. Đức Phật có dạy: "Ý làm chủ, ý tạo tác,..." Tu theo đạo Phật là tu bằng ý thức, do vậy chúng ta ngồi chơi nhưng phải giữ cho tâm luôn tỉnh thức, có tỉnh thức thì mới sống được trong chánh niệm, có sống trong chánh niệm thì mới không làm khổ mình, khổ người và khổ chúng sinh.

Khi chúng ta thấy và hình dung rõ được hình tướng giải thóat là ngồi chơi tự nhiên thanh thản an lạc vô sự thì ngay từ ngày đầu tiên bước vào tu viện mỗi khi thân tâm không bị chướng ngại, chúng ta ngồi chơi tự nhiên vô sự là tâm đang bất động thanh thản an lạc và vô sự. Tâm chúng ta đang ở trạng thái giải thóat của đạo Phật. Khi hiểu được như vậy thì chúng ta mới thấy lời Phật dạy rất đúng: "Đạo ta không có thời gian, đến để mà thấy" 

Nếu chúng ta không có sự hiểu biết này thì chúng ta đang tu mù, tu điên. Cứ vào tu viện ôm pháp này tu đến ôm pháp kia tu, càng tu tâm si càng tăng, hôn trầm thùy miên càng nặng, phá hòai mà hôn trầm thùy miên vẫn còn. Sau cùng kiệt sức đành phải ra ngòai làm bếp, làm máy tính, chạy ngòai hoặc về nhà, về lại trụ xứ cũa mình. Tu mà không thấy sự giải thóat gì cả, vì khi phá hôn trầm thùy miên thì thân tâm đều mệt, thân tâm đều mệt mà không biết sự giải thóat nằm ở đâu thì làm gì còn động lực vượt qua khó khăn, làm gì còn động lực phá hôn trầm thùy miên. Điều này chúng ta có thể thấy rõ tại tu viện Chơn Như hiện nay. Ngay lúc ngòai khu tiếp nhận, các tu sinh chưa được học, chưa được truyền dạy sự hiểu biết về hình tướng giải thóat này. 

Cho nên, mọi người đến tu viện tự tu theo sự hiểu biết riêng của mỗi người, có người thì ngồi thiền kiết già, nhắm mắt lim dim, có người ngồi thiền kiết gìa nhắm mắt gục lên gục xúông, có người thì ngồi bình thường trên ghế đá nhưng cũng nhắm mắt lim dim, có người trong thất ngồi trên ghế nhắm mắt lim dim tìm các trạng thái định hoặc khinh an hỷ lạc gì đó, có người thì ôm pháp thân hành niệm đi kinh hành hết giờ này sang giờ khác trông mệt mõi, càng đi thì hôn trầm thùy miên càng mạnh thêm chứ không bớt,... Trông tất cả rất tội nghiệp. 

Thiệt ra đâu phải không có người hướng dẫn, nhưng có khi sự hướng dẫn chưa kỹ lắm, chưa rõ, có khi hướng dẫn rồi nhưng không ai nghe, bởi vì họ không tin tưởng vào người hướng dẫn, họ cho rằng vị thầy hướng dẫn kia chưa chứng đạo,...

Chính sự lầm chấp vô minh tu theo đạo Phật là phải ngồi thiền đã làm mất thời gian của tôi hết 12 năm theo thầy Thích Thông Lạc. Hôm nay, sau khi đã hiểu được đúng con đường tu tập, rũ bỏ những thói quen ngồi thiền nhắm mắt lim dim, tôi thấy khỏe vô cùng, bởi vì bây giờ tôi thấy rõ sự giải thóat ngay trước mặt, suốt ngày chỉ ngồi chơi tự nhiên vô sự, sống tự nhiên như một người bình thường, các trạng thái hành tưởng cũng từ từ biến mất. Các bạn thử nghĩ xem ngồi chơi tự nhiên vô sự giải thóat hay là ngồi thiền lim dim giải thóat.

Với những ai bị tưởng khi nhận rõ được sự tu đúng này thì sẽ không còn bị tưởng nữa. Ngồi chơi xả tâm với ý thức tự nhiên như vậy thì làm sao tưởng họat động được, cứ tu tự nhiên như vậy thì ngày này qua ngày nọ, tháng này qua tháng nọ tưởng không còn đất họat động nữa thì nó phải từ từ biến mất thôi. Chỉ cần chúng ta biết rõ mình đang tu tập đúng, tu tập với tỉnh thức thì tự nhiên chúng ta không còn sợ tưởng nữa, không còn sợ nó nữa và biết tưởng là vô thường, trước sau gì nó cũng hết thì chúng ta không xem trọng nó nữa, nó còn hay hết không quan trọng nữa và không để ý đến nó nữa, không để ý đến nó nữa thì nó hết lúc nào không biết. Tôi đã sống với hành tưởng hơn 10 năm, nay đã rũ bỏ được tôi rất mừng.

Một người bị tưởng đã và đang sống với nó chỉ cần quyết tâm bỏ cách tu sai, quay lại con đường tu xả tâm thì sẽ thấy sự giải thóat ngay và sẽ không còn sợ tưởng nữa. Nếu là cư sĩ thì rất dễ, chỉ cần hằng ngày ra công viên, tập sống lại đời sống bình thường như mọi người, xem cách người dân ngồi chơi bình thường như thế nào, họ ngồi chơi, nhìn trời nhìn mây, nhìn người, nhìn vật, nhìn cây cỏ thiên nhiên một cách tự nhiên không gò bó. Nhưng khi tâm muốn quay vô nhìn cái gì đó trong thân thì tác ý thóat ra nhắc tâm phải ngồi chơi tự nhiên vô sự. Chúng ta có 2 thời ban ngày sáng và chiều ra công viên tu tập, 2 buổi ban tối thì phải nhớ trạng thái tự nhiên ở công viên mà áp dụng tại nhà. Đến khi thuần thục thì ở nhà tu tập ngồi chơi suốt ngày. 

Còn người tu vào tu viện thì tại khu tiếp nhận có thể tu tập được vì tại đó các thất san sát nhau, ai cũng là người mới cho nên cách ngồi của họ cũng tự nhiên, ai cũng thích đi ra ngòai, cho nên ta lấy một cái ghế ra trước thất ngồi, quan sát mọi người, mọi vật, mọi cây cỏ thiên nhiên giống như trong công viên vậy. Quan sát nhưng không dính mắc là tu đúng, quan sát mà để dính mắc là sai.

Tóm lại, hình tướng giải thóat của đạo Phật không khác gì một người bình thường, chỉ khác nhau ở cái tâm không tham, sân, si, mạn, nghi mà thôi. Khi sống độc cư thì hình tướng giải thóat là đi, đứng, nằm ngồi tự nhiên vô sự. Bất kỳ ai đến tìm sự giải thóat hãy nhắm hình tướng này mà tiến tới. Suốt ngày cũng ngồi chơi vô sự, đi thanh thản vô sự (không nên nằm vì tâm si chưa hết), khi có chướng ngại hôn trầm thùy miên thì đi kinh hành, khi hết hôn trầm thùy miên thì ngồi chơi tự nhiên vô sự hết ngày này đến ngày khác cho đến khi bất cứ thời gian tu tập nào cũng không có hôn trầm thùy miên thì chúng ta đã làm chủ tâm si rồi đó. Biết được hình tướng giải thóat sẽ giúp chúng ta tu đúng pháp của Phật là thiền xả tâm, không bị mất thời gian, xả tâm đến đâu là thấy sự giải thóat ngay đến đó. 

Thật ra khi một người hiểu rõ thập nhị nhân duyên, từ bỏ duyên SANH Y thì đã giải thóat 50% rồi. Chỉ vì nghiệp nhân quả quá khứ đã được huân tập cho nên khi sống độc cư chúng phải tuôn trào ra để cám dỗ chúng ta quay lại đời sống dục và ác pháp. Chỉ cần bền chí ngày đêm mỗi khi những niệm dục và ác pháp khởi lên ta liền tác ý giữ gìn tâm bất động: "tâm bất động, thanh thản, an lạc và vô sự". Không chạy theo những niệm dục và ác pháp nữa thì dần dần những tâm niệm đó sẽ thưa dần và biến mất để lại một trạng thái tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự. Suốt ngày chúng ta vẫn sống bình thường, biết rõ không còn niệm dục và ác pháp nữa thì trạng thái tâm đang bất động thanh thản an lạc và vô sự. 

Nhận ra tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự là như vậy, tự nhiên hòan tòan và khi đó chúng ta không còn sợ mất nó, không cần phải lo giữ nó vì chúng ta đang sống với tâm ly dục ly ác pháp. Chỉ người nào không hiểu cách tu, không biết cách nhận ra tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự mới lo tìm nó, khi có thì cố giữ nó, ngồi nhìn nó vì sợ mất. Còn người tu đúng, chỉ lo xả tâm thôi, xả hết niệm này đến niệm khác, đến khi không còn thấy những niệm dục và ác pháp khởi ra nữa thì cái tâm im lặng đó chính là tâm bất động, thanh thản an lạc và vô sự.


Mời các bạn đọc tiếp bài "Tâm Si"  hoặc nghe 2 bài giảng của thầy Thích Thông Lạc về hình tướng giải thoát:
- Bài 1
- Bài 2

ĐỜI SỐNG NIẾT BÀN

Đó chính là đời sống tại tu viện Chơn Như. Ai sống được tại tu viện Chơn Như, giữ gìn 3 hạnh: ăn, ngủ, độc cư và 3 đức nhẫn nhục, tùy thuận và bằng lòng trọn vẹn thì sự giải thóat ngay trước mắt. 

Đời sống của người tu sĩ đó không khác gì là đã ở Niết Bàn. Sống ở Niết Bàn và chết sẽ tương ưng với nơi đức Phật, thầy Thích Thông Lạc và các vị thánh tăng ở.

Tu viện Chơn Như chính là một mô hình Niết Bàn tại thế gian này. Chỉ cần mỗi nước trên thế giới có được 1 tu viện Niết Bàn này thì hay biết mấy nhỉ.

Đây là một đề tài để mọi người khai triển tri kiến. Sau khi khai triển tri kiến xong chúng ta mới nhận ra thầy Thích Thông Lạc đã chuẩn bị sẵn hết cho chúng ta rồi.

Các bạn cứ thử so sánh đời sống đạo giải thóat với đời sống đời thì sẽ nhận ra đời sống giải thóat này chỉ có thể ở trong một môi trường giải thóat như là tu viện Chơn Như. Đời sống niết bàn này không phụ thuộc vào ai quản lý, ai làm trụ trì hay bất kỳ ai. Chỉ cần quyết tâm xả bỏ tất cả thì sự giải thóat ngay trước mắt.

Ai cũng biết mục đích tu giải thóat là ly dục, ly ác pháp. Ly dục là lìa xa những ham muốn ăn, ngủ, sắc dục, danh và lợi; Người vào tu viện sống giữ gìn giới luật ăn, ngủ, độc cư trọn vẹn sẽ tự nhiên ly dục hòan tòan. Người nào giữ gìn hạnh độc cư trọn vẹn, sống đời sống thiểu dục tri túc là đã sống đầy đủ giới luật (10 giới sa di, 250 giới tỳ kheo, 348 giới tỳ kheo ni). Ly ác pháp thì cần khai triển tri kiến xả tâm bằng những tri kiến về giới luật, đức hạnh, về nhân quả, về vô thường, khổ, vô ngã,...

Người giải thóat là người không còn tái sanh luân hồi, là người trong đời sống hiện tại, không tạo thêm bất kỳ nghiệp nhân quả hữu lậu nào (chỉ tạo nghiệp vô lậu thôi, nghiệp vô lậu là nghiệp không tham, sân, si, mạn, nghi). Không tạo thêm nghiệp hữu lậu thì tâm phải bất động thanh thản, an lạc và vô sự. Nghĩa là, hằng ngày trên thân, khẩu, ý không tạo thêm nghiệp nào cả.

Sống đời sống độc cư trong một cái thất sẽ giúp cho:
- Thân ở một nơi xa đời sống nhân quả, thân không còn những hành động gây hại cho chúng sinh, không giết hại, không dùng gậy gộc, cây, vũ khí nào làm hại bất kỳ ai, không trộm cắp, không dâm dục,...
- Miệng không nói lời nào, không tiếp xúc với bất kỳ ai thì không tạo thêm bất kỳ nhân quả với ai, nếu có tiếp xúc với ai trong tu viện thì biết áp dụng 3 đức nhẫn nhục, tùy thuận và bằng lòng, chỉ nói những lời nói ái ngữ nhẹ nhàng, ôn tồn, từ tốn, nhã nhặn,...
- Có đủ tri kiến về nhân quả, vô thường, khổ và vô ngã để xả bỏ mọi pháp đến với mình khi thấy hoặc nghe thì chắc chắn sẽ buông xuống được tất cả. 

Môi trường tu viện Chơn Như là một môi trường tách biệt với đời, bảo vệ người tu hành bằng nhiều lớp hàng rào giúp người tu không tạo thêm duyên nhân quả với bất kỳ ai, bằng cách không tiếp duyên với nhân quả bên ngòai.

1- Tu viện có khuôn viên, cổng rào bao quanh, ngăn người ngòai xâm nhập vào tu viện và không cho phép người tu sinh tự ý ra vào tu viện như đi chợ.
2- Mỗi tu sinh có một cái thất riêng.
3- Ban quản lý chặt chẽ, luôn theo dõi mọi cử động của tu sinh để kịp thời ngăn chặn tu sinh nào phá hạnh độc cư đi đến thất người khác nói chuyện.
4- Những qui định, nội quy trong tu viện bảo vệ hạnh độc cư của tu sinh.
5- Cách thức tu tập theo đường lối xả tâm, cho nên có pháp tu là Định Vô Lậu, giúp cho tu sinh luôn khai triển tri kiến giải thóat. Nhờ có sự hiểu biết đúng, có chánh kiến về giới luật của Phật, về tất cả mọi pháp cho nên tu sinh sống được đời sống độc cư mà không bị ức chế thân tâm. 
6- V.v...

Do vậy mô hình tu viện Chơn Như là nơi giúp ngừơi tu hành sống một đời sống giải thóat, người nào sống được trong tu viện Chơn Như giữ gìn trọn vẹn 3 hạnh, 3 đức thì người đó sẽ giải thóat, tâm người đó là tâm Niết Bàn, chết cũng sẽ tương ưng với Niết Bàn. 

Sau khi chúng ta biết được có một môi trường tu hành giải thóat thì tiếp đến người tu sĩ cần khai triển tri kiến thêm về nhiều khía cạnh khác nhằm giúp cho tu sinh hình dung rõ con đường giải thóat là thực tế, không mơ hồ, khi buông xả đến đâu là phải thấy sự giải thóat ngay đến đó giống như lời Phật dạy: "Đạo ta không có thời gian, đến để mà thấy". Nếu không chịu khai triển tri kiến, không có sự hiểu biết đúng thì chúng ta đang tu mù, tu điên tu khùng, tu không mục đích rõ ràng, tu theo phong trào, tu ức chế thân tâm,...


Ví dụ như:
  • Đời sống giải thóat là gì? Giải thóat như thế nào?
  • Sự giải thoát nằm ở chổ nào ?
  • Môi trường tu tập giải thóat ở đâu? phải như thế nào? phải có đầy đủ điều kiện gì?
  • Tâm giải thóat là tâm gì, giải thóat như thế nào?
  • Cách nhận ra tâm giải thóat ? Tu tập như thế nào để đạt được tâm giải thóat?
  • Hình tướng của tâm giải thóat, hình tướng của người giải thóat là gì?
  • V.v...
 Trong quá trình tu tập, mỗi người sẽ có những vướng mắc, những cản trở bế tắc riêng,... lúc đó chúng ta phải tự đặt ra câu hỏi và khai triển tư duy tìm ra câu giải đáp ngay. Nhờ luôn biết cách khai triển tri kiến như vậy mà càng tu càng thích, càng tu càng sáng suốt, càng thông suốt nhiều điều mà trước kia không biết. 

Để có được những tri kiến giải thóat thì trong quá trình tu tập, chúng ta phải luôn tỉnh thức (không có bị hôn trầm thùy miên, mê mờ,...), giới luật nghiêm chỉnh, độc cư trọn vẹn. Càng buông xả nhiều thì sự giải thóat càng thấy rõ.  Tóm lại, đời sống Niết Bàn chỉ có thể tìm thấy trong một mô hình tu viện giống như tu viện Chơn Như. Hy vọng rằng trong tương lai mô hình này sẽ được nhân rộng ra trong nước và khắp thế giới. 

Mời các bạn đọc tiếp bài "Hình Tướng Giải Thóat"