Thursday, 27 February 2014

GIỚI ĐỨC, GIỚI HẠNH, GIỚI HÀNH

 (Trích từ những câu hỏi của Kim Quang trong sách "Những Bức Tâm Thư tập 1" trang 10)

Hỏi 1: - Giới đức và giới hạnh phân biệt như thế nào?

Đáp: Giới đức là nói tính thiện, còn giới hạnh là nói hành động thiện. 

Ví dụ: Thấy một người bị tai nạn giao thông liền chỡ họ vào bệnh viện cưú cấp. Hành động này gồm có hai: giới đức và giới hạnh: 

1/ Đức là tính hiếu sinh. 
2/ Hạnh là hành động hiếu sinh.

 (Trích từ những câu hỏi của Kim Quang trong sách "Những Bức Tâm Thư tập 1" trang 32)

Hỏi: 1- Giới đức và giới hạnh phân biệt như thế nào? 

Đáp: Muốn phân biệt giới đức và giới hạnh thì nên phân biết đức và hạnh.. Đức là chỉ cho những tính chất thiện, còn hạnh chỉ cho những oai nghi tế hạnh thuộc về hành động thiện.

Cùng một danh từ đạo đức, lúc thì chúng ta gọi là đức; có lúc chúng ta gọi là hạnh, do sự công dụng đạo đức đó lúc ở đức hay lúc ở hạnh mà gọi.; do sử dụng danh từ đạo đức đó lúc dùng làm chủ từ thì gọi là Đức; lúc dùng làm động từ thì gọi là Hạnh. Cho nên phân biệt giới đức và giới hạnh đòi hỏi chúng ta phải có trí kiến thấm nhuần đức hạnh thì biết lúc nào là đức và lúc nào là hạnh. Cho nên chúng ta càng học đạo đức thì càng thấm nhuần . 

Ví dụ 1: "Thương người như thể thương thân" Câu này dạy đức hiếu sinh khẩu hành.. 

Ví dụ 2: Chúng ta nên thương yêu mọi người vì mọi người quá đau khổ trong cơn bão số 9 vừa qua. Câu này dạy đức hiếu sinh khẩu hành. 

Hai câu trên là lời kêu gọi nên nó mang tính chất đạo đức, nên gọi là đức . 

Ví dụ : Chúng ta đem thực phẩm, quần áo cứu trợ cho đồng bào bị hỏa hoạn tại chợ Qui Nhơn. Câu này dạy Hạnh hiếu sinh thân hành. Tại sao câu này gọi là hạnh hiếu sinh? Vì đó là hành động đi cứu trợ.

---------------------------------------------
Còn giới hành là gì ?

Vì chưa tìm ra nguồn giải thích về giới hành, theo tôi nghĩ, giới hành là phương pháp thực hành, phương pháp tu tập giới đức.

Ví dụ: Trong sách "Văn hóa truyền thống 2" có nói rõ các giới hành về: cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, ly gia sống không nhà cửa, sống chế ngự thân, khẩu, ý...Đó là dùng phương pháp như lý tác ý.

Nếu các bạn có sự hiểu biết khác, xin vui lòng góp ý thêm.

Wednesday, 26 February 2014

THÂN TÂM VÔ SỰ

(Trích từ Những Bức Tâm Thư tập 3 trang 263)

Hỏi: Kính thưa Thầy! Câu: “Thanh thản, an lạc và vô sự”, con phải thực hành “VÔ SỰ” như thế nào đúng? Xin Thầy tư bi chỉ dạy.

Đáp: VÔ SỰ VỀ TÂM có nghĩa là tâm không phóng dật, không nghĩ ngợi suy tư một điều gì. Tâm không làm một việc gì khác, có nghĩa là không nghe băng, không đọc kinh sách, không xem ti vi, không ngửi mùi thơm, không nếm vị, không xúc chạm và không khởi niệm ác, ấy là tâm thanh thản, cho nên khi đi, đứng, nằm, ngồi đều thanh thản. Thanh thản là một niệm thiện vô lậu; niệm thiện vô lậu là niệm Bất Động của tâm.
 

Về THÂN VÔ SỰ thì thân không đau nhức, không mỏi mệt, không hôn trầm, thùy miên, v.v... Thân không làm một sự việc gì, có nghĩa là thân không ăn, không nhai, không nuốt, không uống, v.v... ấy là THÂN AN LẠC. Thân an lạc là niệm Vô Sự của thân.

Tâm thanh thản, an lạc và vô sự là mục đích giải thoát của Phật giáo. Tâm thanh thản, an lạc và vô sự ấy đâu phải là một điều khó tu. Khó tu là vì các bạn không chịu buông xả. Đời có gì đâu, các pháp đều vô thường, nay còn mai mất. Vậy mà các bạn không chịu buông xuống để mà chịu khổ, chịu đau, chịu phiền não. Thật là điên đảo. 


Buông xuống đi! Hãy buông xuống đi!
Chớ giữ làm chi, có ích gì?
Thở ra chẳng lại, còn chi nữa?
Vạn pháp vô thường, buông xuống đi!
***
Buông xuống đi! Hãy buông xuống đi!
Tâm hồn thanh thản, chẳng sầu bi.
Cuộc đời ngắn ngủi trong chớp mắt.
Còn có vui gì, chẳng bỏ đi?
***
Buông xuống đi! Hãy buông xuống đi!
Trò đời như mộng, có còn chi?
Tứ đại trả về cho tứ đại.
Thanh nhàn, an lạc lúc phân ly.

Con hãy cố gắng xả tâm, buông xuống cho thật sạch, đời người chẳng còn có gì đâu mà tiếc, mà thương, mà giận hờn, mà buồn phiền con ạ! Nếu quyết tâm tìm đường thoát khổ thì hãy buông xuống, buông xuống cho trắng bạch như vỏ ốc, cho tâm hồn phóng khoáng như hư không, thì không bao lâu nữa sẽ đạt được mục đích cuối cùng: “Thanh Thản, An Lạc và Vô Sự”.
 

Kính thư
Thầy của các con

LẠY, LỄ NHƯ THẾ NÀO?

(Trích từ "Những bức tâm thứ tập 3" trang 258)

Hỏi: Kính thưa Thầy! Xin Thầy chỉ dạy cho chúng con biết những cách thức lạy lễ như thế nào đúng và như thế nào sai? Ba lạy ý nghĩa như thế nào? Bốn lạy ý nghĩa ra sao? Khi lạy 3 lạy phải đứng lên lạy xuống 3 lần, hay chỉ quỳ xuống lạy một lúc 3 lạy?

Khi lạy úp hai bàn tay là nghĩa gì? Ngửa hai bàn tay là nghĩa gì? Bàn tay đưa ngang, bàn tay đưa thẳng là nghĩa gì? Kính ngưỡng mong Thầy từ bi chỉ dạy cho chúng con. 


Đáp: Văn hoá truyền thống dân tộc Việt Nam thường chịu ảnh hưởng đạo đức Tam cang, Ngũ thường và Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín của Nho giáo Trung Hoa, và đạo đức nhân bản - nhân quả “Tam Bảo” của Phật giáo Ấn Độ. Hai dòng đạo đức này có khác nhau.
 

Lễ là một hành động đạo đức nói lên sự tôn trọng, cung kính của con người đối với con người.
 

Nho giáo dạy bốn lạy:
1- Lạy thứ nhất là lạy trời;
2- Lạy thứ hai là lạy đất;
3- Lạy thứ ba là lạy vua;
4- Lạy thứ tư là lạy tổ tiên, ông bà, cha mẹ.
 

Phật giáo dạy ba lạy:
1- Lạy thứ nhất là lạy Phật bảo;
2- Lạy thứ hai là lạy Pháp bảo;
3- Lạy thứ ba là lạy Tăng bảo. 


Chúng ta lạy phải đứng thẳng, chắp hai bàn tay để trước ngực rồi đưa lên trán và trả trở về trước ngực, hai chân quỳ xuống lạy, nếu người nam lạy xong lạy thứ nhất thì đứng thẳng lên rồi lạy tiếp lạy thứ hai, thứ ba. Còn người nữ lạy thứ nhất xong đến lạy thứ hai và lạy thứ ba thì quỳ gối xuống lạy, chứ không nên đứng như người nam. Khi đặt hai bàn tay úp xuống, các ngón tay đưa thẳng về phía trước là lạy người đã chết; còn đặt hai bàn tay úp xuống, các ngón tay để ngang nhau là lạy người còn sống. Đặt hai bàn tay ngửa, các ngón tay đưa thẳng về phía trước là lạy sám hối với người đã chết; còn đặt bàn tay ngửa, các ngón tay nằm ngang nhau là lạy sám hối với người còn sống.


Đây là ý nghĩa của sự tôn kính lạy lễ của dân tộc Việt Nam. Một nền văn hóa truyền thống từ nhiều thế kỷ để lại cho dân tộc chúng ta có những đạo đức cao thượng và tốt đẹp, nhưng khoa học phát triển tiến bộ, hiện đại hóa, phục vụ nâng cao đời sống vật chất đầy đủ tiện nghi cho đời sống, khiến người ta quên mất đạo đức của ông cha, mà còn cho những đạo đức đó lỗi thời. Thật là đáng đau buồn. Phải không các bạn? 


✿✿✿

NIỆM PHẬT KIẾP SAU SINH LÀM NGƯỜI NAM?

(Trích từ "Những Bức Tâm Thư tập 3" trang 239)

Hỏi : Có lần Thầy bảo cho chúng con biết: “Đạo Phật không có tám mươi bốn ngàn pháp môn”. Vậy con mong Thầy chỉ dạy để mọi người cùng hiểu đúng chánh pháp của đức Phật, không bị 84.000 pháp môn của ngoại đạo lừa đảo. Con còn nghe người ta bảo: “Tu pháp môn niệm Phật (Tịnh Độ), kiếp sau đầu thai lên làm người nam, tiếp tục tu tập dễ hơn”. Có đúng như vậy không thưa Thầy?

Đáp: Tám mưới bốn ngàn pháp môn của Phật giáo chính là do các nhà Đại thừa tự đặt ra để lồng ghép giáo pháp của mình vào pháp môn của đạo Phật để đánh lận tín đồ Phật giáo.

Pháp môn niệm Phật A Di Đà là một pháp trong 84.000 ngàn pháp của Bà La Môn, chứ Phật giáo không có dạy pháp môn này. Chính đức Phật A Di Đà cũng là một vị Phật tưởng tượng do các vị học giả nghĩ tưởng sinh ra, và dựng lên một thế giới siêu hình Tây Phương Cực Lạc.


Niệm Phật để sanh được làm người nam thì đều này không thể xảy ra được. Vì niệm Phật không thể tương ưng với nam tín. Tại sao vậy? 


Các bạn cứ suy ngẫm: bản chất con trai thì thì gan dạ, hiếu động, không sợ hãi, cơ bắp khỏe mạnh, thích mạo hiểm, không rụt rè, không e thẹn, không làm duyên làm dáng, không thích trang điểm làm đẹp, giọng nói ào ào như sóng bổ, không nói thỏ thẻ như con gái, v.v... Nếu con gái muốn tái sanh làm con trai, thì phải tập sống như con trai, vì có tập sống như con trai thì sẽ tương ưng, kiếp sau sẽ làm con trai. Sự kiện này có thể xảy ra được. Còn không tập sống như con trai, thì làm sao sinh làm con trai được. Sự  kiện này không thể xảy ra được, phải không các bạn?


Tối ngày cứ ngồi niệm danh hiệu A Di Đà Phật, niệm như vậy để không có niệm khởi (thất nhật nhất tâm bất loạn chuyên trì danh hiệu A Di Đà Phật, dữ chư Thánh chúng hiện tại kỳ tiền...). Tâm không niệm khởi thì tâm tương ưng với cây đá, và như vậy khi chết sẽ tái sinh làm cây đá, chứ làm sao làm người nam được. Cho nên, lối tu tập này không thể tương ưng với cõi Tây Phương Cực Lạc, thì làm sao cầu vãng sanh về cõi ấy được, phải không các bạn? Tu tập như vậy chỉ có tương ưng với cây đá, thì sẽ sinh làm cây đá mà thôi; lý ấy logic rất khoa học, không ai phủ nhận được.


Xưa, có một ngoại đạo tu hạnh con bò, đến xin đức Phật xác định mình tu như vậy có cộng trú với Phạm thiên được không? Nghe hỏi như vậy, đức Phật bảo: 


- Thôi! Thôi!!! Đừng có hỏi Ta như vậy.


Vị tu sĩ ngoại đạo van xin đức Phật ba lần, nhờ xác định tu hạnh con bò có đúng như vậy không?


Đức Phật mới bảo:
- Tu hạnh con bò thì sẽ thành con bò, chứ làm sao thành Phạm thiên được.


Bởi vì Phạm thiên đâu có sinh hoạt, ăn ngủ giống như con bò. Phạm thiên là những người sống đạo đức  không làm khổ mình, khổ người và khổ chúng sanh. Do đó, hạnh con bò làm sao tương ưng với hạnh của Phạm thiên được.
 

Nghe dạy lời này, vị tu sĩ ngoại đạo không cầm được nước mắt, khóc nức nở và đảnh lễ Phật, xin được tu hành theo giáo pháp và giới luật. 

Cho nên muốn sinh ra làm con trai thì phải tập sống như con trai; điều này có thể chấp nhận. Niệm danh hiệu Phật Di Đà là một vị Phật không có thật. Niệm một vị Phật không có thật, nên tương ưng với cái không thật, cái không thật là ảo tưởng, mà ảo tưởng thì làm sao thành người nam được. Cho nên lời dạy: “Tu pháp môn niệm Phật kiếp sau đầu thai lên làm người nam, tiếp tục tu tập dễ hơn”, đây là lời lừa đảo, lường gạt người nhẹ dạ, non lòng.


Niệm Phật như trong kinh nguyên thủy dạy tức là sống như Phật, làm như Phật, ăn như Phật, ngủ như Phật, đi như Phật, ngồi như Phật, nói như Phật, im lặng như Phật, v.v... Có sống như vậy, làm như vậy, nên mới tương ưng với Phật, vì thế sống cũng tương ưng và đến khi chết cũng tương ưng, nên thành Phật. Còn niệm Phật như Tịnh Độ tông dạy thì thành cây đá, chứ không thể làm Phật, sinh làm người nam được.


Kính thư
Thầy của các con

ĐIỀU KIỆN TU HÀNH GIẢI THOÁT



Người nào ý thức được:
  1. Tâm không phóng dật
  2. Xả tâm sạch.
  3. Nhàm chán thế gian.

Hỏi 1: Muốn đắc đạo ngay trong kiếp sống này, thì cần phải hội đủ các yếu tố, điều kiện nhân duyên nào?

Đáp: Muốn đắc đạo ngay trong kiếp sống này, thì cần phải hội đủ các yếu tố, điều kiện nhân duyên như sau:
1- Phải có ý chí dũng mãnh;
2- Phải có nghị lực kiên cường;
3- Phải bền lòng, không nản chí trước những khó khăn;
4- Phải gan dạ, và nhất là phải có lòng tin nơi Phật, Pháp, Tăng tuyệt đối.

Khi hội đủ các yếu tố trên, dù có đứng trước cái chết con cũng không hề nao núng bỏ pháp, do đó, chỉ trong một kiếp này con đạt được đạo.

(Trích từ những câu hỏi của Nguyên Phương trong "Những bức tâm thư tập 3" trang 223)

PHÁP TU CHO NGƯỜI CƯ SĨ

Quý vị là cư sĩ còn tại gia, thì nên bắt đầu tu tập xả tâm bằng tri kiến biết “các pháp vô thường, vô ngã đều do nhân quả”. Khi mọi việc xảy ra trong đời sống hằng ngày, thì quý vị nên thấy nó là nhân quả, là pháp vô thường, thì tâm quý vị sẽ được giải thoát ngay liền.

(Trích từ bài "Trả lời câu hỏi của Phật tử" trong "Những bức tâm thư tập 3" trang 162)

KHÔNG CÓ DỰ TÍNH


Chúng ta hãy đọc kỹ những đoạn kinh Tương Ưng dưới đây, để biết hành động sống của chúng ta có giải thoát hay không giải thoát, làm việc thiện có lợi ích phước báo hay không, mà đức Phật đã dạy: “Này các thầy Tỳ kheo, nếu người nào còn bị vô minh chi phối, dự tính làm phước lành, thức của người ấy đi đến phước lành, nếu người ấy dự tính làm phi phước lành, thức của người ấy đi đến phi phước lành, nếu người ấy dự tính làm bất động lành, thức của người ấy đi đến bất động lành”. 

Qua lời dạy này, chúng ta thấy rất rõ, nếu một người tu sĩ làm việc thiện thì tâm người ấy hướng về việc thiện, chớ không thể hướng về giải thoát được, cũng như làm một việc bất thiện thì tâm người ấy hướng việc bất thiện, chớ không thể hướng về sự giải thoát được.

Cho nên ở đây chúng ta dựa theo nhân quả mà xét một người tu sĩ, thì biết họ tu tập giải thoát hay không giải thoát. Làm việc thiện thì hưởng phước báo của việc thiện, làm việc ác thì phải thọ chịu quả khổ đau của việc làm ác đó. Không thể làm một việc này mà hưởng kết quả một việc khác được.

Nếu chúng ta đoạn tận VÔ MINH thì chúng ta có giải thoát như lời đức Phật dạy: “Này các thầy Tỳ kheo, khi nào vị Tỳ kheo đoạn tận vô minh, minh được sanh khởi. Vị ấy do vô minh đoạn tận, minh sanh khởi, không dự tính làm phước lành, không dự tính làm phi phước lành, không dự tính làm bất động lành. Do không có dự tính, không có dụng ý, vị ấy không chấp thủ một sự gì ở đời. Không chấp thủ, vị ấy không sợ hãi. Không sợ hãi, vị ấy hoàn toàn tịch tịnh. Vị ấy biết rõ: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa”. (150 Tương Ưng tập 2) 

Ðọc qua lời của Phật trên đây, chúng ta hiểu rất rõ, đức Phật không có dạy chúng ta lạy lễ Phật nhiều để lập công bồi đức, mà cũng không dạy chúng ta làm việc thiện để được hưởng phước báo rồi mới diệt vô minh để được giải thoát, mà đức Phật dạy: Muốn giải thoát thì ngay đó phải vào diệt VÔ MINH. Diệt vô minh thì không còn chấp thủ bất cứ một pháp nào, dù thiện hay ác. Không chấp thủ thì không còn sợ hãi, mà không còn sợ hãi thì tâm hoàn toàn tịch tịnh. Tâm hoàn toàn tịch tịnh thì: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa”.

Lời đức Phật dạy trên đây rất rõ, nếu một người còn vô minh, mà đem hết sức mình ra làm những việc thiện để cầu được phước báo nhân thiên; để cầu hưởng được những công đức lợi lạc cho mình, cho người; để được sự an vui giải thoát, điều này không bao giờ có. Vì còn vô minh nên dù làm thiện pháp hay phi pháp đều không giải thoát, chỉ uổng phí cho một đời tu tập mà thôi. Vì VÔ MINH nên dù làm điều thiện vẫn bị chấp thủ, do chấp thủ làm thiện nên người ấy thường sợ hãi, do sợ hãi nên không giải thoát. Có đúng như vậy không quý vị?

Cho nên một người đoạn tận vô minh, làm những việc gì họ đều không chấp thủ, do không chấp thủ nên họ không sợ hãi. Không sợ hãi nên được giải thoát.

Những lời dạy trên đây của đức Phật rất quan trọng, nếu chúng ta chỉ cần phá vỡ vô minh, đạt được minh thì giải thoát hoàn toàn. Vì tâm chúng ta không còn chấp thủ nên MINH mới có, còn chấp thủ thì minh không bao giờ có.

Cho nên tâm còn sợ hãi là tâm còn chấp thủ, tâm còn chấp thủ là tâm vô minh. Một người chưa biết, chưa tu học theo Phật pháp thì còn vô minh. Cho nên mọi người trên thế gian còn khổ đau là do chấp thủ, nên họ hoàn toàn còn vô minh.

Trong 12 nhân duyên, quan trọng nhất là vô minh và minh, nhờ đó chúng ta mới dễ xác nhận một người chứng đạo và một người chưa chứng đạo. Chứng đạo là một người phải sạch VÔ MINH, khi vô minh sạch thì MINH hiện tiền.

Một người chứng đạo ai chửi mắng hay làm bất cứ một việc gì họ vẫn thản nhiên, TÂM BẤT ÐỘNG, còn một người chưa chứng đạo thì đụng việc gì họ cũng dễ sân hận phiền não, v.v... Khi tâm còn phiền não sân hận là còn VÔ MINH, khi nào tâm hết sân hận phiền não là MINH.

Bởi còn dự tính làm việc này việc khác là còn CHẤP THỦ, nên còn VÔ MINH. Ngược lại, làm một việc gì chúng ta cần làm là cứ làm, chớ đừng dự tính, làm trong sáng suốt, việc gì ra việc nấy và thành công tốt đẹp, đó là làm trong MINH. Cho nên làm trong minh là làm không có DỰ TÍNH trước. Trong hiện tại thấy điều gì cần làm là cứ làm, đó là làm việc trong minh. Do làm không dự tính nên không chấp thủ, không chấp thủ thì không sợ hãi, không sợ hãi thì giải thoát hoàn toàn.

(Trích từ "Những Bức Tâm Thư tập 3" trang 156)

Monday, 24 February 2014

NHÀM CHÁN THẾ GIAN

Người tu sĩ là người bỏ đời đi tìm sự giải thoát trong đạo Phật. Nhưng mấy ai bỏ được đời, dù đang mặc chiếc áo tu sĩ, nhưng tâm đời còn đầy dẫy dục vọng, cho nên chắc chắc không thể nào tìm thấy sự giải thoát chân chính của đạo Phật. Có vào đạo thì cũng tìm danh lợi trong đạo mà thôi.

Chỉ những ai nhàm chán thế gian, thấy rõ những tác hại, nguy hiểm, hiểu rõ và thấm nhuần sự vô thường thay đổi của vạn vật trên thế gian thì mới nhàm chán và buông bỏ tất cả, quyết tâm tìm đường giải thoát.

Như thế nào là người nhàm chán thế gian?


  1. Họ không còn ham thích những dục vọng thế gian như: ăn, ngủ, sắc dục, danh, lợi nữa.
  2.     Họ không còn tham có của cải tài sản, vật chất, nhà lầu, xe hơi hay những thứ sa sỉ khác nữa. Bởi vì càng có nhiều tài sản, của cải, tiền bạc,... thì tâm càng bất an, lo lắng, sợ hãi, ...sợ mất sợ trộm, sợ cướp, sợ bị giết, sợ bị lường gạt,...dẫn đến đủ loại bệnh tật.
  3.     Họ không còn ham thích nói chuyện, không thích tiếp xúc với người khác, không thích bàn chuyện với người, không thích gặp người nữa,...
  4.     Họ không còn thích đi chơi, thích đi du lịch, ngắm cảnh, xem hoa, xem trời, xem biển, xem núi, xem hồ, suối, sông,...gì nữa cả.
  5. Họ không còn ham thích xem phim ảnh, nghe nhạc,...vì những thứ này chỉ làm cho con người lún sâu, đam mê vào thế giới dục lạc thế gian như tình yêu nam nữ, danh vọng, quyền lực, tiền tài, của cải, tài sản, bạo lực, ăn uống, chơi bời,... Phim ảnh ca ngợi sự hoàn mỹ của cuộc sống nhưng thực chất đâu ai biết được cuộc sống dục lạc thì làm sao có hạnh phúc được. Tất cả phim ảnh đều đang tạo ra những thế giới tưởng,  làm cho con người hiểu lầm là thật. Chúng là những công cụ tuyên truyền, có thể thay đổi tư tưởng của con người bất kỳ lúc nào mà không ai biết, đến khi nhận ra thì đã muộn và đã học được những bài học quý giá như thất tình, bị lường gạt vì mê tín, thất bại vì ham danh lợi, phá sản vì chơi chứng khoán, ứng xử bạo lực với bạn bè thầy cô,...
  6.    Họ từ bỏ mọi danh vọng, nghề nghiệp, bằng cấp, học vị,... vì những thứ đó chỉ biến họ trở thành nô lệ cho công việc, cho ông chủ, cho hãng, cho cty, làm ngày làm đêm,... để đổi lấy được những lời khen, thăng chức, càng thăng chức cao thì trách nhiệm càng nặng, càng lo lắng bất an nhiều, càng ít thời gian rãnh rỗi sống cho mình, cho gia đình mình.
  7.     Họ thấy rõ thân người là bất tịnh, hôi thúi, vô thường thay đổi nên họ không còn ham mê sắc dục, thích gặp người khác phái nữa, mà ngược lại họ chỉ muốn tránh xa người khác phái, thấy rõ sự nguy hiểm khi gần người khác phái,... thấy rõ người khác phái là nguyên nhân của sanh tử luân hồi, thấy rõ nghiệp tướng sai biệt của mỗi người đều do nhân quả mà ra, thân người là do các duyên nhân quả mà thành, không có gì là ta, là của ta cả, do vậy đối với người khác họ biết thân kia cũng không phải của họ, vậy thì tham cho ai đây, thấy rõ cái thân con người mỏng manh, dễ bệnh, dễ đổ máu, dễ đau, không có gì bền vững cả.
  8.     Họ thấy rõ gia đình là một chuỗi dài ngày đầy đau khổ, đầy triền phược, đầy lo lắng, bất an, hết lo lắng này đến lo lắng khác,...Gia đình là nơi chứa đầy những dục vọng và ác pháp, sống gần gia đình rất dễ bị lôi kéo vào những dục lạc và ác pháp. Gia đình là nơi ồn náo, ai cũng cho là mình đúng, không ai nhường ai, là nơi đầy những kiết sử trói buộc,...Trong gia đình không có sự tôn trọng nhau, người lớn thì dùng quyền hành bắt người nhỏ sống và làm theo ý họ, không biết lắng nghe ý kiến, cảm nhận, ước nguyện của người nhỏ tuổi,...
  9. Sống chung đụng với nhiều người càng làm cho tâm càng phiền não, phiền não vì phải thỏa mãn những tham muốn của họ, phiền não vì trái ý nghịch lòng, phiền não vì mỗi người một ý, phiền não vì mọi người mang đến cho nhau những gánh nặng nhiều hơn là gánh bớt trách nhiệm trong đời sống. Phiền não vì lời nói của mọi người; phiền não vì cách sống, cách ăn, cách mặc của mỗi người khác biệt; sở thích khác biệt; suy nghĩ khác biệt; sinh hoạt khác biệt; nghề nghiệp công việc khác biệt; giờ giấc khác biệt. Phiền não vì lòng tự ti, ghen tị; phiền não vì tín ngưỡng khác biệt; phiền não vì luôn tồn tài sự khác biệt giữa người và người, không ai giống ai, không ai nhường ai, không ai tha thứ cho ai,...
  10.     Họ thấy rõ phần nhiều đại đa số khoa học hiện đại ngày nay chỉ cố tạo ra nhiều dục lạc lôi kéo cám dỗ con người để mang về lợi nhuận, khiến con người trở thành nô lệ cho những máy móc thiết bị hiện đại và những sản phẩm mới.
  11.     Họ luôn thấy khắp nơi ngoài đường phố đều đầy đủ mọi quảng cáo lôi kéo, cám dỗ con người vào những dục vọng như ăn, nghỉ, sắc dục, danh và lợi. Khắp nơi đầy ấp những quán ăn, cửa hàng bán quần áo, quán nhậu, quán bia, coffee,...
  12.     Họ luôn thấy con người chỉ thích nói chuyện về những dục vọng như ăn, ngủ, sắc dục, danh và lợi. Toàn là những chuyện hạ liệt, nói xấu người, phê phán chỉ trích người, nói cái lỗi cái sai của người này người nọ, nói chuyện ảo tưởng, nói chuyện quá khứ đã xảy ra được đăng trên báo chí, nói chuyện chính trị quốc tế, nói chuyện về ông này bà nọ, nói chuyện về tiền bạc của cải, tài sản, nói chuyện về cách kiếm tiền, cách đầu tư, cách tiêu tiền, nói chuyện về món ăn này món ăn nọ, nói chuyện về sắc dục, yêu đương, trai gái, dâm dục, cưới hỏi, nói chuyện về danh vọng, địa vị…
  13.     Họ luôn thấy mọi nơi con người vì cuộc sống mà tranh giành, đấu đá nhau, chà đạp lên nhau, lường gạt nhau mà sống, sống ích kỷ chỉ biết bản thân, không biết nghĩ đến người khác, chỉ thấy lợi ích cho mình.
  14.     Họ thấy rõ con người không ai mà không khổ vì cuộc sống, vì chén cơm manh áo, căn nhà, chiếc xe,... vì gia đình vợ chồng con cái phải cực khổ đầu óc và sức lực từ sáng sớm đến chiều tối quần quật đi làm, hết ngày này đến ngày khác, hết năm này đến năm khác, đến già, đến chết.
  15.     Họ thấy rõ ai ai cũng phải đau bệnh khổ sở, không bệnh này thì bệnh khác, nhỏ cũng bệnh, trẻ cũng bệnh, già cũng bệnh, chỉ có người bệnh mới biết nỗi đau của mình, người thân có đứng bên cạnh cũng không đau dùm được. Khi mình bị bệnh thì khổ cực cho những người thân, phải chạy đây chạy đó, bỏ công ăn việc làm lo cho mình, tốn hao tiền của viện phí, thuốc men, bác sĩ,...
  16.     Họ thấy rõ thân người già đi nhanh chóng, lụm khụm, răng rụng, chân tay run rẩy, lưng khòm, nói năng lắp bắp, trí nhớ giảm sút quên trước quên sau, đi đứng phải có người dìu dắt, tiểu tiện phải có người lo, ăn phải có người đút, tắm thay quần áo cũng phải có người tắm dùm thay dùm. Ngoài chuyện về già cái thân của mình khổ mà còn phải liên lụy đến mọi người xung quanh trong gia đình phải hy sinh thời gian quý báo của họ chăm sóc cho mình, khiến không ai vui. Cả đời làm lụng bao nhiêu để có tiền của, đến khi bệnh già thì có tiền của mua thức ăn cũng không ăn được, ăn không còn ngon nữa, chỉ nhìn cho đỡ thèm thôi.
  17.     Họ thấy rõ ai cũng phải chết, chết trong đau đớn, chết bất đắc kỳ tử, chết non, chết trẻ, chết già. Cả đời dù có làm lụng được bao nhiêu của cải tài sản, khi chết cũng không mang theo được thứ gì hết. Chết bên cạnh người thân chỉ làm cho họ buồn khổ thêm, bắt họ phải lo mai táng, hao tốn tiền, tốn sức chạy đây chạy đó mua áo quan, mua đất để chôn,...lo cho cái thân tàn lụi của mình.
  18.     V.v...

Đạo Phật là đạo làm chủ được sanh, lão, bệnh, tử. Ai thấy rõ lợi ích này thì còn gì mà ham thích cuộc sống thế gian nữa, phải không các bạn? Nếu không nhàm chán thế gian thì sự giải thoát không bao giờ đến tay. Tu hành chỉ có tiếng chứ không bao giờ hưởng được mùi vị giải thoát của đạo Phật.

Ai biết nhàm chán thế gian, quyết tâm buông bỏ tất cả, bước chân vào đạo Phật là thấy ngay sự giải thoát, không còn bất kỳ sự lo lắng, buồn phiền, sợ hãi nào. Tâm luôn thanh thản, an lạc và vô sự.

Mời các bạn bổ sung thêm để đề tài thêm phong phú. Cám ơn.

ỨC CHẾ THÂN TÂM

Như thế nào là tu ức chế thân, tâm ?

Do sự hiểu biết của tôi còn nông cạn, tôi chỉ cố gắng nêu ra những gì mình hiểu biết, để giúp cho đường tu của mình rõ ràng hơn, bởi vì không khéo tu tập, chỉ cần lỡ một chút là tu ức chế tâm, tu sai, có thể đi xa ngàn dặm, biến sự giải thoát của Phật giáo trở thành chướng ngại cho cuộc đời tu của mình.

Từ những lời dạy của thầy Thích Thông Lạc, tôi biết được trạng thái giải thoát của đạo Phật nằm ở chổ tâm thanh thản, an lạc và vô sự. Vậy như thế nào là thanh thản, an lạc và vô sự ?

Thanh thản ở đây là chỉ cho tâm thanh thản, không bị chướng ngại, không bị dục và ác pháp lôi kéo, là tâm không dính mắc vào 6 trần, là tâm không còn tham, sân, si, mạn, nghi và 17 kiết sử trói buộc.

An lạc ở đây là chỉ cho thân an lạc, là thân không bị chướng ngại hay cảm thọ nào như không có bệnh tật, đau nhức, ngứa ngáy, khó chịu, nhột, mệt mõi, buồn ngủ, hôn trầm thùy miên, vô ký, ngoan không,... Thân không làm một sự việc gì, có nghĩa là thân không ăn, không nhai, không nuốt, không uống, v.v... ấy là THÂN AN LẠC. Thân an lạc là niệm Vô Sự của thân.

Không cột chặt 6 căn như: Tập trung mắt nhìn vào một điểm không chớp mắt, tai tập trung nghe âm thanh nào đó không bỏ ra,... Thích ngồi thiền kiết già lâu, càng lâu càng tốt, ngồi nhiều giờ, ngồi kiết già đau chân là bị chướng ngại ở thân, ráng ngồi chịu đau là đang ức chế thân; đi kinh hành nhiều giờ làm cho thân mệt mõi là đang ức chế thân. Muốn thân an lạc thì ngồi kiết già thấy đau chân thì xả ra ngay, đi kinh hành thấy mõi chân thì ngồi nghỉ.

Vô sự là chỉ cho thân tâm không còn bị chướng ngại nào cả, không còn dính mắc vào điều gì, vào bất kỳ pháp nào.

Không vô sự nghĩa là đang hữu sự. Hữu sự là đang dính mắc. Đang dính mắc có thể là dính mắc vào dục, ác pháp, kiết sử, các pháp trần bên ngoài, vào pháp tu tập, vào các trạng thái tu tập,... Ví dụ: đang tu tập các loại pháp môn là đang hữu sự, đang nhiếp tâm cho hết vọng tưởng, nhiếp tâm không cho khởi niệm thiện niệm ác, đang ngồi thiền, đang tụng kinh, đang sám hối, đang trì chú, đang niệm thần chú, đang chú tâm vào hơi thở, đang tập trung nhìn vào một điểm nào, đang chú tâm nhìn bụng phình xẹp, đang đếm hơi thở, đang tập pháp này pháp nọ, đang tập trung nhìn vào bước chân đi hay từng hành động của thân, đang bám vào hay đang nhìn hoặc đang cố giữ các trạng thái vắng lặng, tĩnh lặng, khinh an hỷ lạc, trạng thái bất động thanh thản an lạc và vô sự, đang tư duy quán xét là đang hữu sự,....

Còn một trạng thái tu ức chế tâm mà ít ai thấy đó là người đi tu thích vào chùa, tu viện tu, hoặc đi tìm những nơi vắng vẻ để tu hành. Vào những nơi thanh tịnh như vậy thì làm sao biết được tâm mình có xả hay không? không có chướng ngại hay đối tượng thì làm sao biết tâm mình còn tham, sân, si, mạn, nghi hay không? tu như vậy là tu ức chế tâm. Ngược lại, người tu tập có đối tượng mà luôn xả tâm thì sự giải thoát nhanh và không bị ức chế tâm.

Từ sự suy xét trên tôi rút ra được bài học, người tu theo đạo Phật muốn tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự thì chỉ có ngồi chơi thanh thản, an lạc và vô sự. Ngồi, đi, đứng, nằm tự nhiên như người nhàn ru, nhưng phải tỉnh táo với ý thức biết rõ mọi vật xung quanh, thấy biết rõ mọi pháp xung quanh, mọi đối tượng tác động vào nhưng không dính mắc, không bị lôi kéo cám dỗ, đó gọi là thiền xả tâm của đạo Phật. Ngồi chơi biết rõ từng tâm niệm. Niệm ác thì quán xét tư duy thấy rõ tai hại, nguy hiểm của chúng, dùng pháp "Như lý tác ý" đuổi, cương quyết không làm theo, từ bỏ và đoạn diệt. Niệm thiện thì cũng quán xét tư duy sâu để tăng trưởng chúng.

Sự giải thoát của đạo Phật đâu cần tu tập gì nhiều, đâu cần công phu sáng chiều tối, đâu cần ôm pháp này tu ôm pháp kia tu,...Không cần tu tập gì cả mới thấy được sự giải thoát của đạo Phật. Đó là trạng thái giải thoát cần được giữ gìn và hộ trì. Ngồi chơi suốt ngày, không sướng hay sao, hay là phải cực nhọc ôm pháp này tu, ôm pháp khác tu mới gọi là thoải mái. Trong bài giảng “Tu Tập Giải Thoát” thầy Thích Thông Lạc có dạy rõ điều này. Mời các bạn đọc hoặc nghe tại đây.

Tu là xả tâm, là sửa tâm, sửa những tật, những thói quen, những tâm xấu thành tốt, sửa những tâm chạy theo dục và ác pháp thành tâm ly dục và ác pháp. Chỉ cần chúng ta hiểu đâu là dục, đâu là ác pháp, đâu là tai hại, sự nguy hiểm của chúng, rồi chúng ta không chạy theo sự cám dỗ của chúng nữa là xong.

Càng ôm pháp tu tập thì càng làm cho thân tâm mõi mệt, đó là chúng ta đang ức chế thân tâm. Tu theo đạo Phật là xả tâm, xả những tâm tham, sân, si, mạn, nghi, những kiết sử trói buộc.

Chúng ta thử tự suy xét lại xem, ngồi thiền, tụng kinh, niệm Phật, luyện thần chú, tập trung vào hơi thở, tập trung chú ý bụng phình xẹp,... có làm hết tham sân si, mạn, nghi và những kiết sử không? Muốn tham, sân, si, mạn, nghi và những kiết sử hết thì chúng ta phải tự mình ly, từ bỏ và đoạn diệt chúng bằng cách sống không còn chạy theo những cám dỗ của chúng nữa. Chỉ cần chúng ta sống giữ gìn giới luật, sống độc cư, ngồi chơi thì những thói quen, tật xấu, những dục lạc, ác pháp, kiết sử sẽ tuông trào ra cám dỗ, lôi kéo chúng ta chạy theo chúng. Nhưng nếu chúng ta không làm theo, không chạy theo, không để chúng lôi kéo là chúng ta đang ly dục, ly ác pháp và các kiết sử. Chỉ có như vậy thì các tâm tham, sân, si, mạn, nghi mới không còn nữa.

Từ xưa tới nay chúng ta đã huân tập vào những dục lạc ham muốn và ác pháp của thế gian. Chúng đã tạo thành nghiệp. Hôm nay chúng ta sống giữ gìn giới luật, sống độc cư, phòng hộ sáu căn thì những niệm dục và ác pháp phải tuông trào ra. Chúng tuông trào ra là chúng đang vùng vẫy giãy dụa, chúng đang lý luận đủ mọi cách để lôi kéo chúng ta trở về đời sống dục lạc thế gian, vì đó là môi trường sống của chúng. Giống như nước là môi trường sống của các loài cá. Khi cá bị bắt lên bờ hoặc mắc cạn, các chú cá vùng vẫy, giãy dụa, nếu không cho trở về môi trường nước lại thì chúng sẽ yếu dần và chết. Cũng vậy, trong môi trường giới luật, sống độc cư, phòng hộ sáu căn, những niệm dục, ác pháp và các kiết sử sẽ vùng vẩy, giãy dụa tuôn trào ra, lúc đầu rất mạnh, nhưng nếu chúng ta kiên trì ly dục ly ác pháp, không chạy theo những cám dổ, lôi kéo của chúng thì chúng sẽ hết sức, yếu dần và mất hẳn. Lúc đó chúng ta sẽ nhận ra rằng “tâm tôi không có tham, tôi biết tôi không tham, tâm tôi không sân, tôi biết tôi không sân, tâm tôi không si, tôi biết tôi không si,...”. Chính chổ tâm không còn tham, sân, si, mạn, nghi là tâm đang bất động thanh thản an lạc và vô sự.

Dĩ nhiên trong quá trình tu tập khi thân tâm có chướng ngại pháp, bị dục và ác pháp tấn công thì chúng ta phải ôm pháp tu tập, nhưng khi các chướng ngại pháp, dục và các ác pháp bị đẩy lui thì chúng ta phải buông bỏ các phương pháp tu tập xuống, đừng ôm mãi nữa. Vì còn ôm pháp là còn hữu sự, chưa vô sự.

Do vậy, người tu theo đạo Phật rất cần thiết


  1.     Giữ gìn giới luật, giới luật không phải là luật pháp hay giới cấm. Chúng ta phải hiểu rằng giới luật là thiện pháp, là những đức hạnh dạy chúng ta sống không còn làm khổ mình, khổ người và khổ chúng sinh nữa. Giới luật giúp cho chúng ta thay hình đổi dạng, từ người xấu trở thánh tốt thiện, biết sống thương yêu và tha thứ. Giới luật giúp cho chúng ta mang niềm vui và hạnh phúc đến cho mình, mọi người và muôn loài vạn vật chúng sinh khác.
  2.     Tu Định Chánh Niệm Tĩnh Giác và Định Niệm Hơi Thở để tâm luôn tỉnh thức nhận ra được từng tâm niệm ác thiện, từ đó mới nhận ra được từng tâm niệm dục và ác pháp, do nhận ra thì mới ngăn và diệt ác pháp, làm cho sanh và tăng trưởng những niệm thiện.
  3.     Tu Định Vô Lậu để thấy rõ, hiểu rõ những nguy hại, nguy hiểm, tác hại của những niệm dục, ác pháp và những kiết sử. Sau khi quán xét vô lậu rõ ràng thì chúng ta mới buông xả dễ dàng. Tu định vô lậu còn để thấu hiểu các pháp thế gian, những sự việc, những diễn biến xảy ra hằng ngày xung quanh đều là những màn kịch của nhân quả. Mỗi người, mỗi vật, mỗi hoàn cảnh xung quanh chúng ta đang là những diễn viên, tài tử, phim trường, kịch trường đại diện cho nhân quả diễn xuất những nhân quả thiện ác mà chúng ta đã gieo trong quá khứ. Trong phim ảnh hay kịch bản thì phải có người tốt, người xấu, người phản diện, người chánh diện, người đóng vai phụ, người đóng vai chánh, nhưng dù họ đóng vai trò gì thì sau khi phim kịch kết thúc, họ đều trở về một người bình thường, không liên quan gì đến kịch bản cả. Do hiểu rõ nhân quả như vậy, khi bị ai hai, chửi mắng, đánh đập, cướp giật, chỉ trích, nói xấu, lừa dối,... chúng ta đừng trách móc, hờn giận, chửi mắng nói xấu ai, bởi vì họ đang đóng kịch nhân quả thôi, họ cũng không muốn đóng vai phản diện, vai xấu như vậy đâu. Lỗi là lỗi của ta đã gieo nhân xấu cho nên ngày nay mới gặp những tài tử xấu này, chính họ đang cho chúng ta thấy lại những gì chúng ta đã gieo, do hiểu rõ điều này chúng ta hãy luôn sống thương yêu và tha thứ, dù nhân quả đến như thế nào, diễn xong vỡ kịch này họ sẽ trở về đời sống bình thường của họ, vẫn là một người tốt, không ai là không muốn trở thành người tốt, không ai muốn trở thành người xấu đâu, nhân quả là vô thường mà, rồi tất cả sẽ trở thành người tốt, người thiện, và người lành. Họ đang giúp đỡ chúng ta đó, đang là đối tượng để giúp chúng ta tu tập xả tâm,... Do có đôi mắt nhân quả như vậy mà tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự. Biết sống nhẫn nhục, tùy thuận và bằng lòng.
  4.     Tu Định Sáng Suốt để thân tâm trở về trạng thái cân bằng, khỏe mạnh sau khi tu tập các loại định trên. Nghĩa là ngồi xả nghỉ nhưng tâm luôn sáng suốt không bị mê mờ, không rơi vào các trạng thái hôn trầm, thùy miên, vô ký ngoan không.

Tóm lại, sự thông suốt đúng đường lối tu tập của đạo Phật giúp cho chúng ta đi đúng, tu đến đâu là thấy sự giải thoát ngay đến đó, giống như lời Phật dạy “Đạo ta, không có thời gian, đến để mà thấy”. Đến là thấy sự giải thoát ngay. Tu mà chỉ ngồi chơi thì làm sao không thấy sự giải thoát phải không các bạn?

Ngược lại nếu chúng ta thấy chúng ta tu tập mà gặp quá nhiều chướng ngại, thấy thân tâm mệt mõi, bệnh tật đến thăm triền miên, nay đau chổ này, ngày mai đau chổ khác, không thấy thân tâm thanh thản an lạc và vô sự thì chúng ta nên coi lại cách tu của mình, do mình quá vội vã chưa thông suốt những gì cần thông suốt mà đã lo tu tập, do mình hiểu sai, chọn sai cách tu tập, do mình chọn lầm pháp môn tu tập, do mình không tu pháp xả tâm mà chỉ lo ôm pháp tu ức chế tâm, do mình chưa xả tâm ở ngoài đời mà đã vào chùa tu,... Trong bài giảng “Căn bản tu hành từ thấp đến cao” thầy Thích Thông Lạc đã nói về vấn đề này. Các bạn có thể tìm thấy tại trang web tuvienchonnhu.net.

Vào chùa tu ít đối tượng thì làm sao biết được tâm mình mà xả, vào chùa ôm pháp này pháp kia tu làm sao gọi là xả tâm được, chỉ làm cho thân tâm thêm mệt mõi, đâu khác gì người ngoài đời đi làm, ngày nào cũng như ngày nấy ôm cái máy tính, ôm máy móc để sửa, ôm một đống giấy tờ để làm sổ sách,... Do cứ ôm pháp này pháp nọ tu rồi biến pháp tu tập đó thành cái nghề luôn, như nghề tụng kinh, nghề cầu an, cầu siêu, nghề dạy ngồi thiền, nghề dạy bắt ấn, nghề dạy luyện thần chú.

Do sự tu tập của tôi còn chưa có nhiều kinh nghiệm, không tránh khỏi còn nhiều thiếu xót trong vấn đề nhận ra sự ức chế của thân tâm. Nếu quý đạo hữu nào biết như thế nào là tu tập ức chế thân tâm, kính mong quý đạo hữu bổ sung thêm để giúp tôi sớm nhận ra. Cám ơn.

ĐẶT TÌNH THƯƠNG KHÔNG ĐÚNG CHỔ

KHÔNG LÀM KHỔ MÌNH, KHỔ NGƯỜI
 
*****

CÂU HỎI CỦA DIỆU HIỀN: Kính bạch Thầy, Thầy dạy không làm khổ mình, khổ người, nhưng trong cuộc sống tương quan hằng ngày con thấy khó mà giữ cho tuyệt đối và trọn vẹn. Ví dụ:

1- Một bà mẹ vì thương con, thấy con làm sai, lầm lỗi, nên phải la rầy, đánh dạy. Đứa con bị la rầy, đánh dạy nên buồn phiền đau khổ.
2- Một cậu trai yêu một cô gái. Cô gái không yêu đáp lại. Cậu trai đau khổ, buồn phiền.
3- Anh B sai. Anh A dùng lời ngay thẳng để khuyên nhắc anh B. Anh B tự ái rồi giận khổ, buồn phiền.

Kính bạch Thầy, những chuyện này có nằm trong “khổ mình, khổ người” không? Con thấy hầu như tất cả mọi người ai cũng đều có cái khổ; khổ do họ làm hoặc người khác vô tình hay cố ý làm. Như vậy làm sao cho sự “không làm khổ mình, khổ người” được trọn vẹn?

TRƯỞNG LÃO TRẢ LỜI: Để trả lời câu hỏi này, tức là trả lời ba ví dụ con đã nêu.

1/ Để trả lời ví dụ thứ nhất:

Chỉ vì con người chưa học đạo đức làm người, nên thường làm khổ mình, khổ người. Trong cuộc sống chung của con người mà không có đạo đức, thì con người vô tình đã tự làm khổ đau cho nhau mà còn đổ thừa tại người khác, chứ không phải tại mình.

Một người mẹ vì thương con, thấy con làm sai, lầm lỗi, nên tức giận la rầy, đánh con, làm cho đứa con khổ đau. Đó là người mẹ không học đạo đức làm người, nên “đặt tình thương không đúng chỗ”.

Đặt tình thương không đúng chỗ, khiến cho mẹ con cách biệt nhau; con làm điều gì đều giấu mẹ, vì sợ mẹ la rầy, đánh, mắng. Đến khi đứa con nghiện ngập xì ke, ma túy hoặc bị tù tội thì việc đã rồi, còn mong gì cứu chữa được.

Cho nên, hầu hết một số thanh niên hư hỏng đều do cha mẹ đặt tình thương sai hướng mà đưa con mình vào cuộc đời đen tối. Đó là một trách nhiệm rất lớn của những bậc làm cha mẹ phải gánh chịu những hậu quả này.
Muốn đặt tình thương đúng chỗ, thì những bậc làm cha mẹ phải xem con mình là một người bạn, hơn là một đứa con.

Thương con mà rầy mắng, đánh con là một điều sai, là một việc thiếu đạo đức làm người:

1- Cái sai thứ nhất là tự mình tức giận, làm khổ mình mà không thấy.
2- Cái sai thứ hai là làm cho đứa con đau khổ (rầy mắng, đánh làm người khác khổ)

Khi biết đứa con làm sai, lầm lỗi, thì cha hay mẹ phải tìm thấy lỗi của mình trước:

1- Lỗi thứ nhất là cha mẹ không gần gũi con cái, mà cứ mải lo làm ăn, đầu tắt mặt tối, cứ nghĩ rằng có tiền là mua tiên cũng được.

2- Lỗi thứ hai là cha mẹ thiếu chăm sóc con cái từ cái ăn, cái mặc cho đến sự học tập, có nghĩa là cha mẹ chỉ thỉnh thoảng mua quà cho con và không thường xuyên xem xét sự học hành của con.

3- Lỗi thứ ba là cha mẹ thiếu ban tình thương âu yếm cho chúng: một lời nói, một cử chỉ, một cái nhìn.
4- Lỗi thứ tư là cha mẹ không dùng lời nói ôn tồn, nhã nhặn, nhẹ nhàng đối với con mình.

5- Lỗi thứ năm là cha mẹ không xem con cái là một người bạn thân, mà chỉ xem chúng là một đứa bé khờ dại trong khi chúng đã trưởng thành, có nhiều sự hiểu biết và có nhiều sự ham muốn đang phát triển.

Nếu các bậc làm cha mẹ đã thấy được những lỗi lầm này của mình, thì con cái của mình đâu còn làm sự sai trái, phải không hỡi con?

Ở đời, người ta chỉ thấy lỗi người mà không thấy lỗi mình, do đó mà đã tự tạo khổ cho nhau. Nếu ai cũng thấy được lỗi mình tức là đã thấy được nhân quả; thấy được nhân quả tức là chuyển được nhân quả; chuyển được nhân quả thì trên thế gian này còn ai là người đau khổ nữa.

Người ta biết thương yêu là một điều thiện, nhưng lòng thương yêu đặt không đúng chỗ thì sẽ trở thành một điều ác, một điều khổ.

Người ta ở đời thường che đậy, hoặc vô tình không thấy những lỗi lầm của mình, mỗi mỗi đều thấy lỗi lầm của người khác, do đó mà có sự khổ đau trên thế gian này vậy.

2/ Để trả lời ví dụ thứ hai:

Một cậu trai yêu thương một cô gái, nhưng cô gái không yêu đáp lại; cậu trai đau khổ buồn phiền, đó là cậu trai “đặt tình yêu sai hướng”.

Một cậu trai không quá nông nổi thì không bao giờ đặt tình yêu thương vào một người, mà người ấy không yêu mình.

Tình yêu chân thật không cho phép chúng ta yêu thương nông nổi, mà phải có sự tìm hiểu đôi bên; sự tìm hiểu đó giúp chúng ta đặt tình yêu thương đúng chỗ, khiến mình hạnh phúc mà người mình yêu thương cũng hạnh phúc.

Bởi người ta không học đạo đức làm người, nên người ta đặt tình yêu thương sai hướng; đặt tình yêu thương sai hướng, nên người ta mới tự làm khổ đau như vậy.

Trai gái yêu thương nhau là tìm hạnh phúc an vui cho nhau, chứ không phải tìm sự khổ đau, nhưng thật sự người ta không tìm chân hạnh phúc giữa trai và gái, mà tìm sự đau khổ giữa trai gái nhiều hơn. Nếu ai đã có chồng, có vợ, có con thì hãy tư duy xem lời nói của Thầy có đúng hay không.

Trên đời này, ai đã trải qua tình chồng, nghĩa vợ, nuôi con thì mới rõ được lời đức Phật dạy: “Đời là khổ”, không những đôi vợ chồng khổ mà đoàn con cái được sanh ra đời sau này cũng đều khổ.

3/ Để trả lời ví dụ thứ ba:

Anh B làm sai; anh A dùng lời ngay thẳng để khuyên nhắc anh B, nhưng anh B tự ái rồi giận khổ, buồn phiền, đó là anh A đặt tình thương không đúng chỗ, và không xét lời nói của mình có trọng lượng đối với anh B hay không.

Muốn khuyên người thì hãy xét lại mình; mình sống có đúng đạo đức làm người chưa? Mình có làm gương hạnh đạo đức cho ai chưa? Tất cả mọi người xung quanh có ai kính trọng mình chân thật chưa?

Nếu chưa thì Thầy xin quý vị đừng khuyên nhắc ai hết, mà hãy khuyên nhắc mình không làm khổ mình, khổ người để tâm hồn mình được thanh thản, nhẹ nhàng, an vui.

Anh A vẫn còn khổ đau, vẫn còn làm khổ mình và người khác khổ, thế mà đi khuyên nhắc người khác thì có ai mà nghe cho! Người ta đã không nghe mà còn sinh ra tức giận và cho anh A là người muốn làm thầy dạy đời.

Những ví dụ trên đây, đều nằm trong việc thiếu đạo đức làm khổ mình, khổ người con ạ! Không có một sự đau khổ nào của con người mà hiện hữu được nằm ngoài luật nhân quả cả.

Con người là thừa tự của nghiệp lực nhân quả; nghiệp lực nhân quả là cha mẹ đẻ sanh ra loài người, vì thế làm sao có sự đau khổ ngoài luật nhân quả được. Cho nên người sống đúng đạo đức nhân bản không làm khổ mình, khổ người là người sống đúng đạo luật nhân quả, nên chuyển tất cả quả khổ thành quả vui; mình vui, người vui.

Người sống đúng đạo đức nhân quả không làm khổ mình, khổ người là người phải ly dục, ly ác pháp; là người có tâm bất động trước các pháp. Người có tâm bất động trước các pháp là vị Thánh đệ tử Phật chứ không còn là một kẻ phàm phu tục tử nữa.

Vì thế, các con là đệ tử của đức Phật thì phải thực hiện sống cho bằng được đạo đức nhân bản làm người, thì mới xứng đáng là con của Phật, thì mới không phụ lòng mong ước của Phật, của Thầy. Phải không hỡi các con?

(Trích từ "Những Bức Tâm Thư tập 3" trang 57)

Sunday, 23 February 2014

KHỞI NIỆM THOẢI MÁI

*****
CÂU HỎI CỦA DIỆU HIỀN: Kính bạch Thầy, hằng ngày con cứ tác ý “khởi niệm thoải mái”, rồi xem niệm nào là niệm tham, sân, si thì con quán xét từ bỏ, nếu niệm nào là thiện, có lợi cho mình, cho người thì con tiếp tục theo niệm ấy. Bạch Hòa Thượng, đó có phải là ngăn ác diệt ác pháp, sanh thiện tăng trưởng thiện pháp không? Nếu con có hiểu sai, xin Hòa Thượng giảng cho con rõ.

TRƯỞNG LÃO TRẢ LỜI: Đúng vậy, con đã hiểu đúng; cách thức tu tập thiền định của đạo Phật là như vậy, nên sự tu tập này đức Phật gọi là Định Tư Cụ, có nghĩa là phương pháp tu tập thiền định.
Con tu như vậy con có thấy kết quả giải thoát đau khổ không? Nếu có kết quả giải thoát tâm con không còn buồn rầu, sơ hãi, giận hờn, phiền toái, đau khổ, v.v… thì con đã tu đúng.

Nếu có thật sự như vật tức là con đã ngăn và diệt được ác pháp; con hãy cố gắng tiếp tục tu tập để tạo cho mình một cảnh sống thiên đàng tại thế gian này. Hãy tự thắp đuốc lên mà đi con ạ! Không ai thay thế đi cho con được, mà phải chính con.
*****
Trích đoạn Tâm Thư ngày 16/11/2000 (Những Bức Tâm Thư tập 3)

ĐỐI CẢNH VÔ TÂM

*****
CÂU HỎI CỦA DIỆU HIỀN: Kính thưa Thầy, “đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền” và “tâm bất động trước các pháp” có phải giống nhau không?

TRƯỞNG LÃO TRẢ LỜI: Không, “đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền” và “tâm bất động trước các pháp” là hai pháp khác nhau như một trời một vực.

Câu “đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền” có nhiều nghĩa như:

1- Tâm chai lì vì chịu đựng quá nhiều sự bất hạnh, nên lì mặt ra như không có chuyện gì xảy ra cả, nghĩa là quá quen thuộc với các ác pháp.

2- Tâm lọt vào chỗ không ngơ (như như) trở thành cây đá chẳng còn phân biệt giống như một cỗ máy. Hòa Thượng chùa Phước Hậu tu Tịnh độ ức chế tâm lọt vào chỗ như như, nên Hòa Thượng có để lại một bài kệ:

Kinh điển Phật truyền tám vạn tưTu hành không thiếu cũng không dưĐến này chừng đã như quên hếtChỉ nhớ trên đầu một chữ “Như”

Câu chuyện Hòa Thượng lội qua sông sau đây chắc nhiều phật tử nghiên cứu Thiền và Tịnh Độ tông cũng đã biết. Người ta kể lại, khi Hòa Thượng lội qua sông và lên bờ thì Hòa Thượng quên mặc quần áo, cứ để trần truồng mà đi; người thị giả chạy theo gọi Hòa Thượng mặc quần áo thì Hòa Thượng mới nhớ.
Tu hành mà trí tuệ quên như vậy thì quý vị nghĩ sao? có giống như người máy không? Đó chính là “đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền”. Thiền định như vậy chúng ta tu để làm gì, để trở thành người mất trí ư?!

3- “Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền”, đó là một cụm từ rất kêu của Thiền tông dùng để nói lý thuyết, chứ không phải sự sống thiền là như vậy.

Thiền tông không ngờ, khi tu tập đến chỗ chẳng niệm thiện niệm ác, tưởng là đối cảnh vô tâm, nào ngờ lại trở thành lẫn trí. Trong khi chúng tôi về học và tu thiền ở Chân Không trong khóa tu thứ nhất, ở đấy có một vị Đại diện Phật giáo tại Tỉnh Vĩnh Long đồng tu học với chúng tôi. Không biết ông tu thế nào, nhưng sau này chúng tôi được biết ông trở thành người lẫn trí.

Trong cuộc đời tu hành của chúng tôi có biết bao nhiêu bạn tu thiền Đông Độ, nhưng chúng tôi chưa từng thấy người nào “đối cảnh vô tâm”, là vì tất cả quý vị hiện giờ đều hữu tâm. Hữu tâm như thế nào?
Chùa to, Phật lớn, xe cộ đầy đủ, nói chung về vật chất thế gian có vật gì thì quý thầy đều có đầy đủ như: tủ lạnh, máy điều hòa, radio, cassette, tivi, v.v… Như vậy làm sao gọi quý thầy là vô tâm được.

Bất Động Tâm Định là tên gọi một kết quả thiền định xả tâm của đạo Phật, để chỉ cho một quá trình tu tập đức hạnh và giới luật của bậc Thánh tăng, để diệt ngã xả tâm, ly dục ly ác pháp, chứ không phải là những danh từ suông như Thiền tông dùng “đối cảnh vô tâm”.

Bất Động Tâm Định là chỉ cho một trạng thái vô1 tham, sân, si của một hành giả tu tập đúng giáo pháp nguyên thủy, mà xưa kia đức Phật đã thành tựu viên mãn và đã từng dạy cho các đệ tử của mình.

Vậy khi chúng ta bị đánh rất đau, thì lúc bấy giờ chúng ta có VÔ TÂM được hay không? Trái lại, BẤT ĐỘNG TÂM khi bị đánh chúng ta không vô tâm nên biết đau rất rõ, nhưng chúng ta không giận người đánh, không phiền não cho số phận của mình, mà chúng ta biết nhân quả rất rõ, biết thiện ác không sai, biết tâm mình không dao động trước cái đau. Đó là tâm bất động trước các pháp.

Tóm lại, khi tu tập tâm hết tham, sân, si thì gọi là BẤT ĐỘNG TÂM TRƯỚC CÁC PHÁP, nó còn có một cái tên khác nữa là Vô Tướng Tâm Định; Vô Tướng Tâm Định đó là một trạng thái hoàn toàn giải thoát của đạo Phật. Chính nó là Niết Bàn của chư Phật.

(Trích: Tâm thư ngày 16/11/2000 trong "Những bức tâm thư tập 3" 

CHỈ LỖI NGƯỜI PHẠM GIỚI

*****
CÂU HỎI CỦA DIỆU HIỀN: Kính thưa Thầy, thấy quý thầy tu phạm giới, nếu mình nói ra có phải là mình phạm giới hay không? Trong Bồ Tát giới dạy: “Nếu nói lỗi của tu sĩ sẽ bị tội đọa”. Một cư sĩ có thể nói lỗi của người xuất gia được không? trường hợp này mình phải làm thế nào?

TRƯỞNG LÃO TRẢ LỜI: Bồ Tát giới là giới luật của các Tổ đặt ra để bịt miệng các cư sĩ, để mọi người không được nói lỗi của tu sĩ. Đó là lối hăm dọa để ngăn chặn người khác nói lỗi mình, để các vị tỳ kheo tăng và ni tự do phá giới luật Phật, đó là mục đích của Bà La Môn có chủ tâm diệt Phật giáo.

Vì như lời đức Phật dạy: “Giới luật còn là Phật giáo còn; giới luật mất là Phật giáo mất”. Do đó, Bà La Môn biết được như vậy nên chế ra Bồ Tát giới, có mục đích là diệt Phật giáo, tạo điều kiện cho tu sĩ Phật giáo phá giới bằng cách thêm bớt trong kinh sách nguyên thủy rất nhiều.

Các Bà La Môn rất khôn khéo bịa đặt ra câu chuyện để sau này chúng tỳ kheo phá giới mà không có tội: “Trong thời đức Phật còn tại thế, lúc bấy giờ có một vị tỳ kheo trời tối mờ mịt còn ôm bình bát đi khất thực để ăn tối, đến một nhà kia đứng trước cửa. Người chủ nhà mở cửa, thấy một bóng đen đứng lù lù; bà ta sợ hãi và té xỉu. Khi tỉnh lại, bà chửi tan nát vị tỳ kheo ấy. Do đó, khi hay được tin này đức Phật mới chế ra giới cấm ăn phi thời, ngày ăn một bữa”.

Câu chuyện trên đây để chứng minh đạo Phật chấp nhận ăn uống phi thời, nhưng vì lý do xảy ra ở trên nên buộc lòng đức Phật phải chế giới cấm ăn phi thời. Điều này thật vô lý! Bởi vì muốn ly tham, đoạn ác, nên người tu sĩ đạo Phật mới không ăn phi thời, vì ăn phi thời là tâm còn tham; tâm còn tham là đi ngược lại với đạo Phật.

Mười ba năm đầu, tuy không chế giới luật, nhưng chúng tỳ kheo và đức Phật không ăn phi thời, vì họ sống đúng Phạm hạnh, cho nên trong kinh thường nhắc đi nhắc lại: “Vì sự nghiệp giải thoát Ta mới sống đời sống Phạm hạnh”. Thưa quý vị, sống đời Phạm hạnh có ăn phi thời không?

Giới luật còn là có người tu chân chánh; giới luật mất là không có người tu chân chánh, vì thế, hiện giờ thắp đuốc lên đi tìm một bậc chân tu của Phật giáo khắp năm châu bốn biển vẫn khó mà tìm thấy được.
Đối với Phật giáo, một người cư sĩ có quyền nêu rõ những vị tỳ kheo phạm giới, phá giới, bẻ vụn giới mà không có lỗi gì cả. Tại sao vậy?

Tại vì những người dám chỉ thẳng lỗi của người xuất gia, là những người biết xây dựng tốt nhiều mặt cho đạo và cho đời:
1- Giúp cho các vị tỳ kheo trở lại tu tập theo con đường chân chánh: “Giới luật nghiêm chỉnh”.
2- Giúp cho các vị tỳ kheo không còn mượn chiếc áo đạo tạo cuộc sống thế gian.
3- Giúp cho các vị tỳ kheo không còn lừa đảo tín đồ và mọi người.
4- Khiến cho Phật giáo được hưng thịnh và trường tồn.
5- Khiến cho mọi người không còn khinh chê Phật giáo.
6- Khiến cho mọi người dù là người không tôn giáo cũng luôn luôn kính trọng Phật giáo.

Như vậy, sự chỉ trích và chỉ thẳng tội lỗi phạm giới của những vị tỳ kheo có ích lợi như vậy thì quý vị nghĩ sao? Dù cho thật sự có tội nhất định chúng ta cũng không sợ phải không hỡi quý bạn? Là vì làm lợi ích cho đời, cho đạo quá rõ ràng.

Nếu chúng ta che dấu những vị tỳ kheo phạm giới, phá giới thì chúng ta có lỗi rất nặng, đó là tội a dua a tòng theo Bà La Môn diệt Phật giáo, và tội ác nặng nhất là làm mất đạo đức nhân bản của loài người.

(Trích: Tâm thư ngày 16/11/2000 trong "Những bức tâm thư tập 3" 

TU CÓ ĐỐI TƯỢNG

*****
CÂU HỎI CỦA DIỆU HIỀN: Kính thưa Thầy, trong cuộc sống hằng ngày con phải va chạm rất nhiều người và sự việc khiến tâm con bất an. Có phải chăng, nếu con cứ gặp hoài là con không biết tránh duyên? còn nếu con tránh gặp có phải là con tu không có đối tượng? hay tại con chưa biết tu?

TRƯỞNG LÃO TRẢ LỜI: Đúng vậy, chính vì phần đông người ta tu theo đạo Phật, nhưng có mấy ai đã tu đúng theo giáo pháp của đức Phật; mọi người đã tu lạc vào giáo pháp Bà La Môn.

Giáo pháp của Phật dạy: “Ngăn ác diệt ác pháp” hay: “Các pháp ác chớ nên làm”. Nếu chúng ta cố tránh duyên thì làm sao có ác pháp đâu để tu tập; nhờ có ác pháp mới thấy được tâm giải thoát, “phiền não tức Bồ đề” là vậy.

Cho nên, người tu theo đạo Phật phải nghiên cứu và tìm hiểu cho rõ ràng lời dạy của đức Phật rồi mới tu tập, đừng vội cứ nghe đâu nói là Phật thuyết rồi cứ tin theo thì tiền mất tật mang mà còn phí công vô ích.

Có nhiều người hiểu lầm cần phải tránh duyên để sống một mình trong thất tu tập thiền định, sau một thời gian tu tập, chừng nào tâm có nội lực rồi mới tiếp duyên, đó là sự hiểu biết theo kiểu tu tập giáo pháp của Bà La Môn chứ không phải của Phật giáo.

Đức Phật dạy “sống độc cư”, không có nghĩa là sống tránh duyên, mà sống trong mọi hoàn cảnh, mọi duyên nhưng tâm KHÔNG PHÓNG DẬT, tức là sống ngăn ác, diệt ác pháp; tức là sống ly dục, ly ác pháp; tức là sống an trú trong Sơ Thiền.

Từ cuộc sống đó chúng ta suy ra, HẠNH ĐỘC CƯ tức là sống trong các chướng ngại mà tâm không hề dao động.

Muốn được vậy, thì người tu theo đạo Phật cần phải có đối tượng để tu tập, vì tu tập trong đối tượng nên phải lấy giới luật làm sự sống, làm thành lũy bảo vệ, làm sự phòng hộ sáu căn, làm Phạm hạnh của bậc Phạm thiên.

Nếu tu tập không có đối tượng là tu theo ngoại đạo, là độc cư theo ngoại đạo, hành theo pháp ngoại đạo. Ngược lại, tu theo đạo Phật sống không tránh né các đối tượng mà tâm không phóng dật tức là sống độc cư, sống trầm lặng, vì thế, thiền định của đạo Phật là THIỀN XẢ TÂM, còn tất cả các loại thiền định khác đều là THIỀN ỨC CHẾ TÂM.

Trong hoàn cảnh của con mà tu tập theo đạo Phật thì phải được trang bị với trí tuệ giới luật, tức là đạo đức làm Người, làm Thánh; đạo đức làm Người, làm Thánh tức là đạo đức không làm khổ mình, khổ người.
Khi được trang bị với đạo đức như vậy mà con khéo áp dụng vào đời sống hằng ngày thì chính là con tu tập theo đạo Phật, và tu tập như vậy mới thật sự là thiền định.

Thiền định của đạo Phật là một loại thiền định thực tiễn giải thoát trong đời sống của chúng ta. Nếu đã tu tập theo đạo Phật thì chúng ta sẽ tìm thấy sự giải thoát ngay liền, tức là tâm chúng ta thanh tịnh, có nghĩa là tâm chúng ta không còn tham, sân, si và không còn phiền não, đau khổ, bất toại nguyện nữa.

Cho nên, người tu hành theo pháp môn của đức Phật càng có đối tượng, càng có chướng ngại pháp thì sự tu nhanh hơn người tu không có chướng ngại. Nhưng sự tu hành có chướng ngại pháp thì người tu sĩ phải có ý chí lớn – “cưỡi cá kình vượt sóng to” – phải có nghị lực dũng mãnh, phải có gan dạ phi thường, phải có bền chí dẻo dai thì mới tu nổi.

Đạo Phật tu không khó, nhưng khó ở chỗ này, các con nên nhớ lấy: “Tu sai một đường tơ, ngàn năm không thấy đạo”. Chỉ một đường tơ tu sai thì lạc đi hơn ngàn vạn dặm. Đừng nghĩ rằng pháp môn tu nào tu tới rốt ráo cũng về một chỗ. Đừng nghĩ chung chung như vậy không bao giờ có được, vì mỗi con đường đều dẫn về một con đường khác nhau.

Người ở đời muốn cho các tôn giáo hòa hợp, nên mới có những tư tưởng như vậy, nhưng các tôn giáo đều có một mục đích khác nhau, nhất là đối với đạo Phật không có thế giới chân thật; thế giới chỉ là duyên hợp thì làm sao về cùng một mục đích được.

(Trích: Tâm thư ngày 16/11/2000 trong "Những bức tâm thư tập 3" 

NHẪN NHỤC, TÙY THUẬN, BẰNG LÒNG


*****
CÂU HỎI CỦA DIỆU HIỀN: Kính bạch Thầy, có một công việc biết là sai, nhưng phải tùy thuận làm, cuối cùng thì phí công, phí của, chẳng lợi ích gì cho mình, cho người. Vậy phải tùy thuận như thế nào? và tùy thuận không bị lôi cuốn nghĩa là sao? Xin Thầy cho ví dụ.

TRƯỞNG LÃO TRẢ LỜI: Biết việc làm không lợi ích cho mình, cho người, làm sẽ hoài công vô ích mà cứ làm, đó là người không trí tuệ, chứ không phải sống tùy thuận.

Biết việc làm không lợi ích cho mình, cho người, làm sẽ hoài công vô ích, vì thế không làm, nhưng không chống trái lại việc làm của người khác, mặc dù mình có góp ý nhưng có nghe hay không nghe đó là quyền của người khác, đó là sống tùy thuận.

Thấy việc ác không làm theo, nhưng không chống trái việc làm ác của họ, mặc dù chúng ta đã có lời khuyên, đó là sống tùy thuận.

Người ta chửi mắng mình; mình không chửi mắng lại người, nhưng trong lòng có phiền não tức giận là sống nhẫn nhục trong tùy thuận.

Người ta chửi mắng mình mà mình không chửi mắng lại, không giận hờn phiền não, đó là sống tùy thuận.

Người ta mời mình đi đánh bạc mà mình khéo léo từ chối không đi đánh bạc là người sống tùy thuận.

Người ta mời mình uống rượu mà mình lấy cớ bị bịnh không uống rượu được, đó là sống tùy thuận.

Tùy thuận mà không bị lôi cuốn phải sống như thế nào?

Ví dụ, mình là người ăn chay mà đi dự tiệc cưới, hay đám giỗ hoặc đám ma chay, khi ngồi vào bàn tiệc mình tìm bánh, trái cây để ăn, không ăn thịt, cá, đó là tùy thuận mà không bị lôi cuốn.

*****
(Trích: Tâm thư ngày 16/11/2000 trong "Những bức tâm thư tập 3" 

CHỈ CÓ VƯỢT QUA

*****
CÂU HỎI CỦA DIỆU HIỀN: Kính thưa Hòa Thượng, xin Hòa Thượng chỉ dạy cho con được rõ:“Đứng lại thì chìm xuống, bước tới thì trôi dạt, chỉ có vượt qua”. Vậy bước tới và vượt qua khác nhau như thế nào? Con chưa hiểu hết ý ba câu này.

TRƯỞNG LÃO TRẢ LỜI: Bước tới và vượt qua là hai danh từ khác nhau và nghĩa cũng khác nhau. Để nêu lên ví dụ thì con dễ hiểu hơn.

Ví dụ 1: Có người chửi mắng con; con không chửi mắng lại mà tâm con tức giận, phiền muộn, đau khổ, đó là nghĩa của sự đứng lại.

Ví dụ 2: Có người chửi mắng con; con liền chửi mắng lại, đó là nghĩa của sự tiến tới.

Ví dụ 3: Có người chửi mắng con; con không chửi mắng lại và cũng không giận hờn người đó, đó là nghĩa của sự vượt qua.

- Vì sự nghiệp giải thoát của Phật giáo, đệ tử của đức Phật phải thông suốt lý này, nên cuộc sống hằng ngày không chấp nhận đứng lại, vì đứng lại là thiếu đạo đức đối với mình, tự làm khổ mình, không chiến thắng được hoàn cảnh hiện tại, không chuyển hóa được nhân quả; đó là những người thiếu tri kiến giải thoát, phi đạo đức nhân bản làm người. Người như vậy đối với đạo Phật được xem là người vô minh và hèn nhát.
- Vì sự nghiệp giải thoát của đạo Phật, người đệ tử của đức Phật không chấp nhận tiến tới, vì tiến tới sẽ làm khổ mình, khổ người; làm khổ mình, khổ ngườilà người phi đạo đức nhân bản làm người. Người như vậy đối với đạo Phật được xem là người ngu si, người mê muội, người không tĩnh giác. Người như vậy được xem là một ác thú chỉ biết gầm hét, đánh đá, cắn xé nhau, tranh giành, chà đạp lên nhau vì vật chất, vì miếng ăn manh áo, v.v…

- Vì sự nghiệp giải thoát của đạo Phật, người đệ tử chân chánh của đức Phật chấp nhận sự vượt qua, vì vượt qua là không làm khổ mình, khổ người; không làm khổ mình, khổ người là người có đầy đủ đạo đức nhân bản làm người; là người có trí tuệ tri kiến giải thoát; là người có đầy đủ trí tuệ nhân quả, biết chuyển hóa được nhân quả; là người khôn ngoan, minh mẫn tĩnh giác; là người đệ tử xứng đáng của đức Phật; là người biến cảnh thế gian thành Thiên Đàng, Cực Lạc; là người đầy đủ Phạm hạnh tâm bất động trước các ác pháp, là bậc chân nhân, là người giải thoát khỏi phiền toái của cuộc đời, là người làm chủ đươc sanh y; là người thiện hữu xứng đáng cho chúng ta làm bạn. Người như vậy là ngọn đuốc sáng soi đường cho chúng ta đi, là tấm gương soi để cho chúng ta soi chiếu lại mình.

(Trích: Tâm thư ngày 16/11/2000 trong "Những bức tâm thư tập 3"

BỐN QUẢ THANH VĂN

CÂU HỎI CỦA DIỆU HIỀN: Kính bạch Thầy, con đọc kinh sách Phật thấy lúc đức Phật còn tại thế, quý tu sĩ cũng như cư sĩ chỉ nghe thuyết giảng một bài pháp, hay một bài kệ bốn câu từ kim khẩu Phật nói ra là quý vị đã chứng quả Tu Đà Hoàn, thậm chí có người chứng luôn quả A La Hán. Kính thưa Thầy, như vậy có thật hay không?

Vậy quả Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm và A La Hán là như thế nào? Làm sao để biết được một người tu chứng những quả vị này? Sách của Thầy sao con không thấy nói đến những quả vị này? Ngưỡng mong Thầy từ bi chỉ dạy cho chúng con được rõ.

TRƯỞNG LÃO TRẢ LỜI: Trong kinh Sa Môn Quả thuộc Trường Bộ Kinh tập 1, tạng kinh nguyên thủy, đức Phật không có dạy bốn quả này trong số những quả Sa Môn.

Kinh Sa Môn Quả là kinh nói về kết quả của một vị tỳ kheo bắt đầu mới vào tu theo đạo Phật cho đến khi viên mãn đạo giải thoát hoàn toàn, nhưng bốn quả nói trên không được đức Phật liệt kê vào kinh Sa Môn Quả, thì có lẽ chúng ta phải đặt câu hỏi bốn quả này có phải của Phật giáo hay không?

Kinh nguyên thủy dạy: khi xuất gia cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, sống không nhà cửa, không gia đình, ba y một bát là có quả Sa Môn ngay liền; quả đó là sự cung kính, đảnh lễ và cúng dường, từ người dân bình thường đến các vua, quan đều cung kính, tôn trọng.

Vả lại, khi xuất gia cạo bỏ râu tóc như vậy thì đời sống có giải thoát cũng ngay liền, tâm hồn phóng khoáng như hư không, trắng bạch như vỏ ốc, không còn bị gò bó trói buộc trong thập thất kiết sử. Đó là những quả Sa Môn đầu tiên của những người mới vào tu, còn những quả cao hơn, tuyệt diệu hơn, đó là sự làm chủ sinh, già, bệnh, chết và chấm dứt luân hồi.

Trong kinh Sa Môn Quả chúng tôi nghe đức Phật dạy những quả Giới luật, tức là dạy những kết quả đạo đức làm Thánh và đạo đức làm Người, rồi dạy đến những quả của bốn thiền như Sơ Thiền được quả gì, Nhị Thiền được quả gì, Tam Thiền được quả gì, Tứ Thiền được quả gì, và cuối cùng Tam Minh được quả gì.

Trong kinh Sa Môn Quả chúng tôi cũng thấy đức Phật nói về quả của Tứ Không và Diệt Thọ Tưởng Định. Nhưng cũng trong kinh này chúng tôi không tìm thấy đức Phật nói về bốn quả Thanh Văn Tiểu thừa.

Con người thời đức Phật và con người hiện tại của thế kỷ chúng ta có khác nhau không? Là con người thì không khác nhau phải không?

Lại nữa, trình độ và kiến thức của người xưa và người nay cũng không kém nhau, như vậy, tại sao người xưa nghe Phật thuyết là chứng quả ngay liền, còn chúng ta ngày nay lại phải tu hết sức, chỉ có ly dục, ly ác pháp àm làm không xong?

Cho nên, khi nghe thuyết pháp xong là chứng quả ngay liền, chỉ vì chúng ta không đủ lòng tin những lời dạy này, vì lòng dục và ác pháp không phải là việc dễ buông bỏ.

Bởi vậy, đây là những lý luận của Bà La Môn không chân thật, với mục đích dìm đạo Phật, khiến cho chúng ta mất lòng tin với Phật giáo.

Đạo Phật là một tôn giáo lấy đạo đức nhân bản làm nền tảng cho giáo pháp của mình, cớ sao lại nói vọng ngữ như vậy? Phật nói hay Tổ nói?
Điều này chúng ta nên nhường lại cho các nhà sử học phán xét.

Bốn quả Thanh Văn Tiểu thừa là:

1- Tu Đà Hoàn
2- Tư Đà Hàm
3- A Na Hàm
4- A La Hán

Bốn quả Thinh Văn này do đâu mà có? Chữ Thinh Văn này do ai đặt ra?
Hỏi tức là trả lời, nếu không phải các nhà Đại thừa đặt ra thì còn ai vô đây?

1- Thinh Văn thừa
2- Duyên Giác thừa
3- Tiểu thừa
4- Bồ Tát thừa
5- Đại thừa
6- Tối Thượng thừa

Bốn quả Thanh Văn thừa này có nghĩa là kết quả của sự tu tập của hàng Thanh Văn Tiểu thừa, mà các nhà Đại thừa đã tưởng giải ra và gán cho làm bốn quả giải thoát của Phật giáo:

I/ Tu Đà Hoàn còn có những tên khác như là: Nhập lưu, Nghịch lưu, Dự lưu, Thất lai.
1- Nhập lưu có nghĩa là nhập vào dòng Thánh.
2- Nghịch lưu có nghĩa là đi ngược lại dòng đời.
3- Dự lưu có nghĩa là được dự vào dòng Thánh.
4- Thất lai theo nghĩa của các nhà Đại thừa giải thích thì hành giả tu đắc được quả vị này thì còn phải tu bảy kiếp nữa mới chứng quả A La Hán; bảy kiếp nữa tức là phải chịu tái sanh làm người bảy lần, do đó mới có tên là Thất lai.

II/ Tư Đà Hàm còn có tên khác là Nhất lai. Nhất lai có nghĩa là tu đắc quả này rồi thì còn phải tu một kiếp nữa mới chứng quả A La Hán; một kiếp nữa tức là phải chịu tái sanh làn người một lần nữa.

III/ A Na Hàm con có tên khác là Bất lai hay là Bất hoàn, nghĩa là người tu chứng được quả này thì không còn tái sanh trở lại đời này nữa, có nghĩa là không còn tái sanh lại làm người nữa.

IV/ A La Hán còn có các tên khác như: Sát tặc, Ứng cúng, Bất sanh.
1- Sát tặc có nghĩa là giết hết giặc phiền não.
2- Ứng cúng có nghĩa là bậc xứng đáng nhận tứ sự cúng dường của Trời, Người.
3- Bất sinh có nghĩa là mãi mãi vào Niết Bàn, không còn chịu quả báo sống chết nữa. Theo các nhà Đại thừa cho bậc A La Hán là quả vị cao nhất của Tiểu thừa.

Theo kinh nghiệm tu hành của chúng tôi, trong bốn quả này chúng tôi chấp nhận quả A La Hán là đúng nghĩa của nó, còn những quả kia không đúng nghĩa, vì trong kinh Sa Môn Quả không có dạy những quả này.

Vả lại, khi nhập được Sơ Thiền thì chúng tôi thấy tâm LY DỤC LY ÁC PHÁP, mà tâm đã ly dục ly ác pháp thì tâm KHÔNG PHÓNG DẬT, mà tâm không còn phóng dật là tâm CHÁNH GIÁC như đức Phật đã dạy: “Ta thành Chánh giác là nhờ tâm KHÔNG PHÓNG DẬT”.

Tâm còn phóng dật làm sao gọi là Thánh được, mà không gọi là Thánh thì làm sao gọi là Nhập lưu; mà đã Nhập lưu thì tâm phải LY DỤC LY ÁC PHÁP; ly dục ly ác pháp thì còn cái gì mà đi tái sanh đến bảy lần, một lần; do DỤC và ÁC PHÁP mới tạo thành nghiệp, nghiệp mới tái sanh luân hồi. Cho nên, các nhà học giả Đại thừa do không tu nên giảng giải theo tưởng của mình làm mất ý nghĩa chân thật của đạo Phật.

Đây là ý đồ của Bà La Môn lấy các quả vị này để dìm Phật giáo xuống hàng Tiểu thừa – khi được vào dòng Thánh mà còn phải bảy lần tái sinh làm người – thật là vô lý!

Muốn biết người tu chứng bốn quả vị này thì lấy GIỚI LUẬT làm tiêu chuẩn mà xét:
1- Giới luật nghiêm chỉnh, không hề vi phạm một lỗi nhỏ nhặt nào.
2- Tâm phải ly dục ly ác pháp, tức là tâm bất động trước các pháp.
3- Đời sống phải thiểu dục tri túc, ba y một bát.
4- Sống độc cư trầm lặng một mình, ít nói, không tranh luận hơn thua.

Sách Thầy viết không nói đến những quả vị này ngoại trừ quả A La Hán, còn những quả khác Thầy không đủ niềm tin, vì nhập vào dòng Thánh mà còn phải bảy lần sanh làm người. Thánh tăng của Phật giáo sống đúng GIỚI HẠNH là sống toàn thiện, mà sống TOÀN THIỆN thì tâm tham, sân, si đâu còn; tâm THAM, SÂN, SI KHÔNG CÒN thì còn cái gì tái sanh, chỉ có những Thánh tăng Phật giáo Đại thừa sống phạm giới, pháp giới, ăn uống phi thời, đời sống chạy theo dục lạc thế gian, v.v… thì không những phải tái sanh bảy đời mà phải tái sanh vô lượng đời.

Thăm và chúc con vui mạnh, tu tập xả tâm tốt, sống đời đạo đức nhân bản không làm khổ mình, khổ người để đem lại lợi ích cho mình, cho người và cho tất cả chúng sanh.

Kính thưThầy của con
*****
Tâm Thư ngày 30/11/2000 (Những Bức Tâm Thư tập 3) tại tu viện Chơn Như.