Monday, 17 February 2014

TỨ THÁNH ĐỊNH (Bốn Thiền)



Bài này được ghi tóm tắt lại từ bài giảng "Tứ Thánh Định" của thầy Thích Thông Lạc. Bài này các bạn có thể tải về nghe tại đây.

I/ Sơ thiền: 

1.                       Muốn nhập sơ thiền thì phải tịnh chỉ ngôn ngữ, tịnh chỉ ngôn ngữ không phải là câm, chỉ là ít nói chứ không phải không nói. Độc cư không phải là độc câm.
2.                       Ngoài tịnh chỉ ngôn ngữ, còn phải sống đúng giới hạnh: Thiểu dục tri túc; Nhẫn nhục, tùy thuận mọi hoàn cảnh, mọi điều kiện, mọi người,…Bằng lòng là buông xả, không còn có gì làm chướng ngại trong tâm; lục hòa.
3.                       Ngoài tịnh chỉ hơi thở và sống đúng giới hạnh, còn phải phòng hộ sáu căn: giữ gìn giới bổn để phòng hộ sáu căn. Giới bổn là 10 giới sa di.
4.                       Tiếp đó là tu tập Chánh niệm tỉnh giác, làm cho mình luôn luôn tỉnh giác trong chánh niệm. Nghĩa là luôn đi kinh hành, tu trong hành động, làm cái gì  cũng luôn tỉnh thức.
-       Đang làm cái gì mà buồn ngủ thì phải tu định sáng suốt.
-       Tu tập tỉnh thức trong giấc ngủ: người còn ngủ là sẽ mất tỉnh thức trong khi nhập tứ thiền. Người nào tỉnh thức được thì nhập tứ thiền dễ dàng.
-       Muốn vào định được thì phải dùng pháp hướng, pháp hướng không phải nhắc một lần là được đâu, phải nhắc nhiều lần.
-       Trong 4 thời tu tập, không có hôn trầm thùy miên, không buồn ngủ, không lừ đừ, rất tỉnh thì bắt đầu tu tập tỉnh thức trong giấc ngủ.
-       Luôn phải xét tâm có còn muốn nói chuyện hay không? Khi biết tâm thích nói chuyện thì nhắc tâm không nên nói chuyện.
-       Luôn xét tâm có thiểu dục tri túc hay không? Khi thấy tâm ham muốn gì đó thì phải nhắc tâm không được ham muốn nữa.
-       Tu tập tỉnh thức là nhắc tâm tâm phải sáng suốt như ban ngày.
5.                       Tu tập thứ 5 là tu định vô lậu: quét sạch ngã, muốn quét sạch ngã thì phải quét sạch ngủ triền cái ( màn che mờ làm cho mình không biết minh đang tham, sân, hôn trầm thùy miên, trạo cử trạo hối (chuyện gì mình làm sai, làm cho mình nhớ đi nhớ lại hoài), nghi).

-       Kế đó là năm hạ phần kiết sử:
1-          Thân kiến kiết sử: chấp cái thân của mình, chấp cái gì đó là thường hằng bất biến, chấp phật tánh của mình, chấp có cái thường hằng sau khi chết.  
2-          Nghi kiết sử: trói buộc mình nghi ngờ cái gì đó, nghi người đó ăn trm, bắt mình cứ dòm chừng người đó hoài. Đó là nó đang trói buộc mình, gọi là nghi kiết sử.
3-          Giới cấm thủ kiết sử: Phật dạy chúng ta có 18 giới: mắt thấy đồng hồ sanh ra một cái thức, khởi ra tâm ham muốn. Vì vậy gọi là giới cấm thủ. Mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý; sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp và 6 thức biết, sanh ra ham thích. Chính 18 chổ này làm thành 18 sợi dây giới cấm thủ luôn trói buộc chúng ta. Thấy cái gì mà khởi ra ham muốn là nó đang trói buộc chúng ta.
4-          Tham kiết sử: trói buộc mình vào tham muốn cái này cái nọ.
5-          Sân kiết sử: trói buộc mình luôn khởi tâm sân hận ai đó.

-       Năm Thượng Phần Kiết Sử:
1-          Sắc tham: là giống như cái đồng hồ, khi thấy thì khởi lòng tham.
2-          Vô sắc tham: do nghe người ta nói cái gì đẹp, tốt liền khởi lòng ham muốn, đó là vô sắc tham.
3-          Mạn là kiêu mạn, lòng ngã mạn của mình.
4-          Trạo cử là nó làm cho mình nghĩ ngợi cái này, nghĩ ngợi cái kia hoặc cái thân bị ngứa ngái không ngồi yên được, nó gãy bên đây, móc bên kia, thì gọi là trạo cử thân, còn trạo cử tâm thì nó nghĩ hết cái này rồi nghĩ đến cái khác, lung tung đủ thứ. Hoặc là mình ngồi chổ này một lát, mình đứng dậy đi, rồi ngồi lại, rồi mình đứng, rồi nằm, đủ cách, đó là bị trạo cử.
5-          Vô minh.

-       Thất kiết sử
1-          Ái kiết sử: thương yêu, ghét
2-          Sân kiết sử.
3-          Kiến kiết sử là ý kiến của mình, kiến chấp, cãi luận dựa vào kiến chấp của mình
4-          Nghi kiết sử: cũng giống như ở trên, nhưng ở đây nó tóm lược lại vào thất kiết sử để không bị trùng, cũng là sự trói buộc vào những nghi ngờ.
5-          Mạn là kiêu mạn, ngã mạn.
6-          Hữu tham kiết sử: thuộc về tham.
7-          Vô minh kiết sử thuộc về si.

Ở đây nó có nhiều cái trùng với ngủ triền cái,  năm hạ phần kiết sử và năm thượng phần kiết sử, chỉ có thêm 2 cái mới là ái kiết sử và kiến kiết sử. Do vậy sau khi so sánh, cái nào trùng hợp thì chúng ta chỉ lấy một mà thôi. Còn cái nào không trùng hợp thì mình ghi ra để mình nhớ dành cho phần tu tập,  để mình hướng tâm mình nhắc mình. Đó là chúng ta tu định vô lậu là để quét ngủ triền cái và thất kiết sử, tu như vậy chúng ta sẽ có cái tâm diệt ngã xả tâm.
Khi tu tập chánh niệm tỉnh giác thì chỉ chú trọng trong hành động thôi, không có suy tư. Còn có suy tư là đang tu định vô lậu. Lúc đó ta phải triển khai cái niệm đó ra. Nếu không chịu triển khai thì đó là sai. Bởi vì lúc đó tâm có sự thao thức nào đó, muốn tìm hiểu sâu về vấn đề nào đó, sự kiện nào đó chưa xả tâm được. Do vậy mình phải đi sâu vào quán thấu triệt, triển khai liền để xả tâm. Nó làm cho mình có trí tuệ, giải quyết tâm để giải thoát.  (hết phút 45)

- Tu tập định chánh niệm tỉnh giác trên Tứ Vô Lượng Tâm: phòng ngừa mọi hành động làm hại chúng sanh là tu tâm Từ, trước mọi đau khổ của chúng sanh mình khởi lòng thương yêu: ôm, nâng niu, chăm sóc, nhẹ nhàng, vuốt ve,... là tu tâm Bi, Trước mọi việc xảy ra mình luôn vui vẻ là tu tâm Hỷ, trước mọi việc xảy ra buông xuống hết là tu về tâm xả.

Tâm mình yếu lảnh vực nào thì thường xuyên nhắc tâm đối tượng đó để ly cho bằng được.

Sơ thiền là tu tập phần tâm. Phần thân là tu tập nhị thiền.

Đức Phật dạy chúng là làm xấu đi (cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa), cắt ái ly gia (sống không gia đình, dứt bỏ tài sản của cải, mọi dây tình cảm).

Muốn biết có giải thoát hay không thì qua quá trình tu tập từ xưa đến nay, chúng ta hãy tự quán xét lại mình:
·    Có còn tham ăn nữa không? Còn thèm ăn là chưa có kết quả. Không thèm ăn là giải thoát rồi.
·    Có còn giận nữa không, người ta chửi mắng mình mà mình không giận là mình đã không còn sân, là giải thoát rồi.
·    Có còn nghi nữa không?Xưa giờ chúng ta hay nghi ngờ người khác, bây giờ không nghi ngờ ai hết là giải thoát.
·    Ngồi đó không nghĩ đến con cái, cha mẹ là giải thoát rồi.
·    Qua quá trình tu, có kết quả hay không?
·    Tất cả những vấn đề của chúng ta như thế nào thì ta xét như vậy thì sẽ biết giải thoát hay không?


II/Nhị Thiền: 

1.                       Định niệm hơi thở, phải ổn định hơi thở không dài, không ngắn lắm. Tu tập hơi thở gom vào tụ điểm. Tu tập hơi thở chậm và nhẹ.
2.                       Dùng định diệt tầm giữ tứ. Tứ luôn luôn phải có để diệt tầm, không có tứ thì không diệt tầm được.
-       Pháp sổ tức không phải của Phật dạy.
-       Muốn hết vọng tưởng phải có sự điều khiển của mình, điều khiển bằng pháp hướng, bằng ý của mình,
-       Tác ý liên tục trong vòng 1 giờ rồi xả ra.
-       Còn tầm là còn vọng tưởng. Vào ngồi lúc nào cũng tác ý giữ tứ thì sau 30’-1 giờ sẽ không còn vọng tưởng. tác ý: “Hít vô tôi biết tôi hít vô, thở ra tôi biết tôi thở ra; hít vô tôi biết tôi hít vô đếm 1, thở ra tôi biết tôi thở ra đếm 1; hít vô tôi biết thân tôi vô thường, hít vô tôi biết thân không phải của tôi; (pháp diệt tầm câu hữu với xả tâm),… ”
-       Tiếp đến là Định diệt tứ: Chúng ta hướng tâm tịnh chỉ tầm tứ, sau đó ngồi xuống không có tầm tứ, yên lặng phăng phắt trong 30’-1 h thì đã thành công. Hướng tâm cách xa xa ra, không hướng tâm liên tục. Sau này quen, khi muốn nhập vào nhị thiền chỉ cần nhắc “tịnh chỉ tầm tứ”

III/ Tam Thiền:

-       Nương vào hơi thở khéo tác ý, đang ở nhị thiền tác ý hơi thở chậm và nhẹ. Nếu có thấy trạng thái tưởng nào đó, quan sát thật kỹ, khi thấy thân nhúc nhích hoặc các tưởng khác thuộc sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, thì dùng pháp hướng xả ngay. 

    Ngồi đây nó khởi nghĩ rằng: như vậy mình tu như vậy như vậy là đúng thì đó là pháp tưởng, phải xả ly ngay. Khi trở về trạng thái bình thường thì tu định vô lậu, Phát triển trạch pháp giác chi, tìm nghĩa lý của vấn đề nào đó. 
-       Tu tập tỉnh thức trong giấc ngủ, xả chiêm bao, chuẩn bị cho ta tỉnh thức trong tam thiền để chuyển qua tứ thiền. Ngủ mà tỉnh, không mộng.
-       Dùng pháp hướng xả ly 18 loại hỷ tưởng. Đó là những trạng thái làm cho chúng ta thích, làm cho chúng ta ghét, làm cho chúng ta chán, bất mãn, chối tâm,.... Nếu chúng ta không thấy được mặt của nó thì chúng ta khó xả nó.

IV/ Tứ Thiền:

-       T nhị thiền đến tam thiền thì thuộc về định tâm. Còn sơ thiền thì thuộc về tuệ và giới đức hạnh.
-       Đến tứ thiền cần tu tập: Cần nương hơi thở khéo tác ý, hơi thở chậm và nhẹ.
-       Tịnh chỉ âm thanh, nhĩ thức im lặng chỉ nghe hơi thở, tác ý “nhĩ thức không nghe cái gì hết, nằm ngủ đi”. Nó ngủ được thì chúng ta không nghe gì cả. Chúng ta đã tu tập tỉnh thức trong giấc ngủ, nằm ngủ nhưng vẫn tỉnh nhưng không nghe gì cả là đã tịnh chỉ được nhĩ thức rồi.
-       Nhưng mà cái thọ nó đánh cho lỗ tai nó thức dậy, lúc này để tịnh chỉ âm thanh, phải hướng tâm tịnh chỉ cái thọ.
-       Cái thọ kéo dài làm cho thân động đậy, thì chúng ta phải tịnh chỉ hơi thở. Nếu hơi thở còn thở thì cái thọ nó còn. 2 cái này phải tịnh chỉ đồng thời một lượt. Hơi thở tịnh chỉ thì cái thọ nó mới hết. Hơi thở mà chưa tịnh chỉ thì cái thọ chưa tịnh chỉ.
-       Bây giờ, hơi thở nó ngưng rồi, nhưng chưa an trú được dài, thì cái thọ nó cựa mình, cho nên chúng ta phải tịnh chỉ các hành về hơi thở. Mặc dù cái hơi thở nó không còn thở đó, nhưng trong phổi của chúng ta nó còn động đậy đó. Chúng ta phải hướng tâm “các hành về hơi thở phải ngưng” Khi chúng không hoạt động, thì chúng ta sẽ nhập tứ thiền, chúng ta cứ kéo dài trạng thái này, nằm trong trạng thái vắng lặng này, nhắc tâm thường xuyên “tâm phải yên lặng, kéo dài sự vắng lặng này ra” (không thọ, không hơi thở, không nghe gì cả; thọ đoạn dứt, hơi thở đoạn dứt, âm thanh đoạn dứt)
-       Bây giờ nó tịnh chỉ rồi, thì cái tịnh thức chúng ta phải còn, nếu tỉnh thức mất thì chúng ta rơi vào cái KHÔNG rồi. Nên chúng ta phải thường xuyên nhắc tâm để giữ tâm trong tỉnh thức: “cái tâm phải nằm yên trong sự yên lặng đó, không thọ, không hơi thở, không nghe gì cả.”
-       An trú trong cái định, nhẹ nhàng hướng tâm. Phải nằm yên, vắng lặng, phải nhắc để luôn tỉnh thức chứ không nhắc sẽ mất rơi vào vô ký, ngoan không. Tu như vậy 1,2 ngày cho đến 1 năm.
-       Sau này quen rồi thì sẽ không cần nhắc nữa. Khi đang tu tứ thiền thì nếu nó muốn thoát ra thì các con ra, đừng có ép nó. Khi thoát ra được thì thấy tâm nó tỉnh lắm, cực kỳ thông minh, sáng suốt.