Monday, 17 February 2014

TỨ NIỆM XỨ



Đây là bài tóm tắt bài giảng “Tứ Niệm Xứ” của thầy Thích Thông Lạc về Tứ Niệm Xứ. Bài này được nghe tại đây.

Phần I:

Tứ niệm xứ là 4 nơi (thân, thọ, tâm, pháp) để chúng ta đặt các pháp lên để gọt rửa, khắc phục tham ưu, làm cho sạch sẽ, thanh tịnh để làm cho 4 chổ này không còn đau khổ, không còn sanh tử luân hồi, thì chúng ta gọi là giải thoát.

Tất cả các pháp của Phật đều gọi là thiền định. Có 16 loại định: Định tư cụ (Tứ chánh cần), Chánh niệm tỉnh giác định, định quán vô lậu, định niệm hơi thở, định nhất thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền,… Đặt các định trên 4 chổ để làm cho 4 chổ đó trở nên sạch sẽ, thanh tịnh, không còn ác pháp nữa, thì ta sẽ giải thoát.

Đối với người phàm phu thì 4 chổ này là 4 chổ bất tịnh làm cho người đó đau khổ: bệnh, nhớ thương,… Đối với người tu thì 4 chổ này được lìa xa dục và ác pháp thì chúng dần dần thanh tịnh.

4 chổ này đang ô nhiễm, bất tịnh, uế trược, đau khổ, do vậy chúng ta phải đặt các định lên đó để gọt rữa nó.

1/Tứ niệm xứ là 4 nơi đem đau khổ đến cho con người, cho kiếp người. Bốn chổ này có nhân tướng của nó, hành tướng của nó và đặc tướng của nó.

Phần II:

Ví Dụ:
2/Nhân tướng của thân là có bộ phận nào, (đầu, chân, miệng, tai, tay, mũi, tóc, da, xương, gân, tim, gan, phổi).. kết hợp lại để thành cái thân. Đầu tiên chúng ta phải thấy ngủ uẩn, sau đó là 12 nhân duyên. Nói về ngủ uẩn thì sắc uẩn do sự kết hợp của tứ đại, trong này thiếu đất, nước, gió lửa thì cái thân sẽ bệnh. Hành tướng đúng thì cái thân an ổn, hành sai thì sẽ mang đến đau khổ, như hồi nhỏ đi ăn trộm bị người ta bắt, đánh, giam cho nên cái thân bị khổ. Đặc tướng là cá nhân riêng biệt của mỗi người, mỗi người có mỗi gương mặt giống nhau, tâm cũng vậy.

Tu về nhân tướng: nhân tướng ngoại: da, lông, móng tay móng chân, mắt, mũi, miệng,…nhân tướng nội gồm gan, tim, phổi, nhân tướng nội ngoại. Vậy chúng ta dùng định nào tu thân nội, ngoại này. Chỉ có định vô lậu tu nhân tướng nội, ngoại, nội ngoại, do quán xét  chúng ta thấy được chúng là bất tịnh, uế trược, vô thường, do vậy chúng ta không con chấp đắm, không còn lo cho cái ngã này nữa, không còn thấy cái thân của mình, nó do duyên nhân quả hợp lại, chứ không còn chấp cái thân là cái ngã của mình nữa.

Tu về hành tướng, có hành tướng nội, ngoại, nội ngoại. Hành tướng ngoại là đi, đứng, mặc y,…những hành động này mang đến những điều ác, vậy chúng ta tu định gì? Tu định chánh niệm tỉnh giác. VD đi giẫm đạp chúng sinh. Do tu tập định chánh niệm tỉnh giác chúng ta để ý đến các loài chúng sanh dưới chân. Hành tướng nội là tu định niệm hơi thở. Làm cho chúng ta ngăn chặn không cho ác pháp sanh khởi. Rồi hành tướng nội ngoại thì chúng ta kết hợp 2 loại định trên tạo nên sức tỉnh tuyệt vời.

Trên thân tu về đặc tướng, khi tu định niệm hơi thở thấy mệt quá thì phải thay đổi, dựa theo đặc tướng chúng ta phải tu thấy sự giải thoát ngay.

3/Trên thọ quán thọ tu nhân tướng của thọ. Nhân tướng của thọ là gì? Nhân tướng nội, nhân tướng ngoại của thọ là gì? Và tu cái định gì để phá thọ? Phải tu tam thiền, đặt tam thiền trên thọ mới xả thọ được, xả các trạng thái hỷ tưởng rồi mới nhập tam thiền, xả thọ, xả nhân tướng thọ nội ngoại. Khoảng đường từ tam thiền và tứ thiền chúng ta tu nhân tướng nội, ngoại, nội ngoại của thọ.

Hành tướng của thọ là đau khắp nơi, lúc đau chổ này, lúc đau chổ khác, lúc đau gan, hết đau gan thì đến đau tim, nó di chuyển khắp nơi.  Dùng pháp gì để đẩy lui thọ? Ngoài da mà ngứa ngáy là hành tướng ngoại, đau gan, tim là hành tướng nội.

Đặc tướng của thọ là có người đau tim, có người đau gan, có người đau xương,…

4/ Nhân tướng của tâm: tướng nội, tướng ngoại, tướng nội và ngoại. Đặt thiền để tu, đặt nhị thiền để tu, dùng nhị thiền để không cho tâm lăng xăng nữa.

5/Mọi vật xung quanh chúng ta đều là các pháp, pháp nào mà tâm chúng ta không lìa xa được, làm cho chúng ta đau khổ. Phải tu cách nào đây? Chỉ có tam minh mới có thể làm chủ các pháp.


Phần III: 
I/Quán thân trên thân (Bắt đầu từ phút thứ 8)

·    Tỳ kheo đi đến khu rừng, ngôi nhà trống, vị ấy tỉnh giác tuệ tri (tôi biết) hơi thở (18 đề mục của Định niệm hơi thở). Đức Phật dạy tu Định Niệm Hơi Thở
·    Quán thân trên thân, nội, ngoại, nội ngoại, quán tánh sanh, diệt trên thân.
·    Tuệ tri: “tôi đứng tôi biết tôi đứng, tôi nằm tôi biết tôi nằm, tôi đi tôi biết tôi đi, tôi ngồi tôi biết tôi ngồi”.Tu Chánh niệm tỉnh giác định, thân mình hành động gì thì mình biết hành động đó, gọi là định chánh niệm tỉnh giác. Ở đây chỉ biết hành động chứ không phải tập trung vào hành động, tu mà tập trung vào hành động (VD: bước chân) là sai. Đây là quán hành động ngoại.
·    Khi đứng, ngồi, im lặng, mặc áo,…biết mình đang làm cái này cái nọ, là quán trên nội thân. VD: khi ngồi ăn  chỉ biết mình đang ăn, chứ không tập trung vào biết từng hành động nhai, gắp thức ăn, đắng, cay. Chỉ biết tổng quát hành động mà thôi là đang ngồi ăn. Khi đi chỉ cần biết đang đi, chứ không cần biết chân đang bước ra sao.
·    Quán từ bàn chân trở lên, thân chứa những thứ bất tịnh như da, tóc, thịt, móng, mồ hôi, nước mắt, nước mũi. Đây là tu về nhân tướng thân của ta. Quán cả nội ngoại. Quan sát thân này do tứ đại hợp thành. Quán cái thân này phần nào thuộc địa đại, phần nào thuộc thủy đại, phần nào thuộc phong đại, phần nào thuộc hỏa đại. Quán tứ đại để không còn chấp cái thân là của mình.
·    Quán thân thể bị phòng lên trong nghĩa địa, sống quán thân trên nội thân, ngoại thân, nội ngoại thân, tánh,…để không chấp cái thân là của mình, là đẹp, thấy nó hôi thúi bẩn thỉu. Không còn chấp nó để ai đụng đến nó, nó không còn sân giận,…
·    Có 4 nơi táng: hỏa táng, địa táng, thủy táng, lâm táng (đem thân bỏ vào rừng để chó, chim gặm, xé, cắn, ăn cái thân đó, để chúng ta không còn ham thích cái thân nữa)
·    Quán cái thân chỉ còn gân xương, ở đây là  xương mông, ở đây là xương sường, ở đây là xương tay,…Thấy cái thân mình như vậy thì mình không còn ham muốn gì nữa, do quán như vậy cho nên ái kiết sử bị bỏ xuống.
·    Quán thân bị quăng bỏ trong nghĩa địa chỉ còn một bộ xương trắng, những bộ xương bị mục nát, bộ xương chỉ còn bột hôi thúi, … Do quán được như vậy thấy không chấp vào thân, bỏ ái kiết sử xuống, buông bỏ mọi ham muốn, sân giận xuống.  

Có 2 phần ức chế: cơ (khả năng tỉnh thức 1 phút mà tu suốt ngày thì thân rối loạn, tập trung vào cơ thế suốt ngay, mắt nhìn chăm chăm vào một tụ điểm nào đó) và tâm (pháp hướng tâm). Tu đúng cái mực của chúng ta, sức tỉnh thức ít, thì chúng ta tu ít, vừa đi vừa hướng tâm, cứ nhắc tâm nhắc hoài suốt ngày thì tâm sẽ ức chế, do vậy khả năng chỉ tỉnh thức 1’ thì chỉ tu 1’, chỉ nhắc trong vòng 1 phút đó thôi, sau đó xả nghỉ 30 phút đi chơi, sau đó tu tiếp. Miễn sao vẫn giữ gìn giới luật nghiêm chỉnh, ăn ngày một bữa, ngủ đúng giờ, độc cư nghiêm chỉnh.  

Nếu một người có khả năng tỉnh thức được 30’ thì pháp hướng sẽ có hiệu quả, tỉnh thức được 1 tiếng thì pháp hướng có hiệu quả hơn.

Sau khi tâm thuần thanh tịnh sống giữ giới luật thì sức tỉnh thức sẽ có hiệu quả.

Phần IV:

II/Quán Thọ trên thọ (phút thứ 3)
Khi cảm giác lạc thọ, tuệ tri cảm giác lạc thọ. Cảm giác lạc thọ là khi ngồi đó có một cơn gió thổi đến thì thấy mát, đang khát nước được uống nước thấy đã quá thì đó là cảm thấy lạc thọ, ăn một miếng bánh thấy ngọt thì đó là cảm giác lạc thọ, còn ăn mà không biết ngon ngọt thì không cảm giác lạc thọ.

Cảm giác khổ thọ, tuệ tri cảm giác khổ thọ. Khi cái chân bị nhức thì chúng ta biết cái chân đang nhức. Ngay ở chổ nào ta biết chổ đó. Còn nó nhức trên tay mà cảm giác trên đùi thì đó không phải là tuệ tri (biết) đúng.

Cảm giác bất lạc bất khổ, thì tuệ tri bất lạc bất khổ, là cái thân không có khổ và không có lạc.

Cảm giác lạc thọ thuộc về vật chất: có một người dùng cây đánh vào mình, mình có cảm giác đau. Một người đem bánh cho mình ăn, đem một ly nước cho mình uống, mình cảm giác mát. Mình cảm giác được cái bánh, ly nước ngon ngọt, đó là cảm giác lạc thọ hoặc khổ thọ thuộc về vật chất.

Cảm giác lạc thọ không thuộc về vật chất. Một người đang ngồi thiền cảm nhận trong miệng toát ra ngọt,mặc dù họ không có ăn gì cả, hoặc đang ngồi không có gió, mà cảm nhận được hơi mát thì đó là cảm giác không thuộc về vật chất.

Cảm giác bất lạc bất khổ thuộc về vật chất. Như tờ giấy để lên tay, không làm cho mình có cảm giác gì hết thì đây là phần thuộc về không thọ lạc không thọ khổ thuộc về vật chất.

Biết rõ những cái thọ này để dùng các pháp lìa nó. VD: Khi biết trên đầu đau thì thầy dùng các pháp xả thọ đi, thầy phải ở trên tứ thiền để xả bỏ cái thọ đó đi.

Ngoại thọ là ở trên thân bị ngứa, tim, gan, phòe, phổi đau là nội thọ. Chỉ trên thân mới có cảm thọ, thọ không thể ở ngoài được. Cả ngoại và nội cùng đau thì có nội ngoại thọ.

Quán tánh sanh khởi của thọ. Ví dụ tánh sanh khởi khi ngồi kiết già là cái chân từ từ tê, nóng, đau từ từ, có khi đau liền, có khi không đau. Quán tánh diệt tận trên cái thọ, bây giờ nó đau, sau đó dần dần nó hết. Quán tánh sanh diệt trên các thọ. Có khi nó đến rồi nó đi rất nhanh.

Quán như vậy để biết nó vô thường không còn sợ thọ nữa, không còn tham ưu nữa. Vì cái thọ đó nên mình không chấp cái gì trên đời. Đây là tu tập vô lậu.

Ví dụ: một người bị đau đầu, họ chỉ mới tỉnh thức được 30’, họ dùng định niệm hơi thở để đuổi cái đau đi. Gom tâm trên tụ điểm của hơi thở, bắt tâm tập trung hơi thở, bám chặt, truyền lệnh đuổi thọ đi. Từ từ thọ sẽ đi khỏi. Nổ lực, yên ổn không dao động nằm yên 5-10 để xả thọ. Sức định tỉnh thức càng cào (>30 phút) thì thọ sẽ hết mau hơn.

III/Quán Tâm trên tâm (từ phút thứ 20)
Thầy tuệ tri tâm có tham, sân, si, tán loạn, quảng đại, hẹp lượng, hữu hạn, vô thượng, bệnh, tỉnh, tưởng, giải thoát,… tuệ tri biết có tham, sân si, tán loạn, quảng đại, hẹp lượng, hữu hạn, vô thượng, bệnh, tỉnh, tưởng, giải thoát,….

Tâm không có tham, sân, si, tán loạn, quảng đại, hẹp lượng, hữu hạn, vô thượng, bệnh, tỉnh, tưởng, giải thoát,…  thì biết tâm không có tham, sân, si, tán loạn, quảng đại, hẹp lượng, hữu hạn, vô thượng, có bệnh, có tỉnh, có tưởng, giải thoát,…

Quán tánh sanh diệt tâm trên tâm.

Khi biết rõ  tâm như vậy thì mình đang tỉnh giác, tỉnh giác như vậy thì không có ức chế. Đây gọi là tầm tứ.

Vậy ta dùng định gì để xả? dùng định vô lậu quán xét nó để xả xuống.

IV/Quán Pháp trên pháp (từ phút thứ 26)

Các pháp này là những lời phật dạy: ngủ triền cái là những mà ngăn che, chúng ta quán để chúng không còn ngăn che chúng ta nữaá

1.                       Ngủ triền cái gồm có tham, sân, si, mạn, nghi.
-       Quán tâm có ái dục, sân giận, mạn, nghi thì biết nội tâm có ái dục, sân giận, mạn, nghi. Quán tâm không có ái dục, sân, si, mạn, nghi biết nội tâm không có ái dục, sân, si, mạn,nghi, quán nội tâm ái dục, sân, si, mạn, nghi sanh khởi, quán tâm ái dục, sân, si, mạn, nghi bị diệt.
-       Si của ngủ triền cái là hôn trầm thùy miên, cái buồn ngủ, cái ham ngủ. Dùng định chánh niệm tỉnh giác để phá hôn trầm thùy miên, tu định chánh niệm tỉnh giác thì phải đi kinh hành, chứ không phải ngồi yên một chổ. Đi kinh hành ở đây không có nghĩa là tập trung liên tục vào tỉnh giác đó, tỉnh giác bước đi của mình, vì sức tỉnh thức của mình chỉ có 1 phút à, mà bây giờ mình đi hoài cho hết buồn ngủ, mình cứ tập trung như vậy thì ức chế nó, làm cho mình sanh loạn tưởng.

Do chổ tu tập không đúng cách, mình đi kinh hành, đi với một cách thư giản của mình và mình chỉ nhắc: “cái hôn trầm này phải rời khỏi cái thân này, không được ở đây ” đi với cách không được tập trung vào bước chân đi và mình làm sao cho cái thân mình động để không buồn ngủ, và thường xuyên mình nhắc “cái hôn trầm hãy đi đi, không được ở đây”. Nhắc như vậy, nhưng mà phải đi, chứ không phải ngồi đó. Nhắc và đi, đừng tập trung vào bước chân vì sức tỉnh thức của mình chưa đủ 30 phút hoặc 1 tiếng động hồ để hết hôn trầm, ở đây mình chỉ đi tới đi lui, đi qua đi lại, có lúc mình thấy khỏe thì mình nhắc: “đi kinh hành tồi biết tôi đi kinh hành” Cứ đi, cứ động thân, miển sao phá cho sạch cái hôn trầm này.

Có lúc khi đi mình dùng định vô lậu, suy tư về tâm si, về hôn trầm thùy miên, si là ngu, là làm cho mình không sáng suốt, làm cho mình không có trí tuệ, làm cho mình là người thiếu đức thiếu hạnh, tham ăn, tham ngủ, do đó phải đi, đi đến cho hết rồi mới không đi, không được nghe theo lười biếng mà nằm xuống. Ra lệnh như vậy mạnh lên, làm cho nghị lực của ta mạnh lên trên từng bước đi.

Do vậy khi chúng ta dùng pháp hướng, nhiệt tâm, tinh cần khắc phục thì cái hôn trầm thùy miên sẽ hết.

Khi bị hôn trầm thùy miên thì bỏ hết những pháp khác, chỉ lấy định chánh niệm tỉnh giác mà phá cho được hôn trầm thùy miên.

Trạo hối tức là loạn tưởng. trạo hối là nó có một điều gì làm cho mình hối hận, rồi nó cứ nghĩ đến cái đó, nó buồn, nó tức, nó thấy người đó làm cái chuyện sai như vậy mà không biết xấu hổ, cho nên mình rối loạn trong tâm của mình, người đó làm như vậy là không đúng, làm cho mình bực tức quá.

Do như vậy mình nên tu tập cái gì? Mình ngồi lại tu 1-2 phút để cho cái tâm nó yên rồi đứng dậy đi kinh hành 1-2 vòng rồi lại ngồi xuống tu hơi thở 1-2 phút tiếp rồi tiếp tục đứng dậy đi kinh hành 1-2 phút, cứ thế cho đến khi hết loạn tưởng. Ở đây mình tu 2 loại định, định niệm hơi thở và định chánh niệm tỉnh giác, nhưng chỉ tu với vừa sức tỉnh thức của mình, nếu sức của mình chỉ 1-2 phút thì chỉ tu định niệm hơi thở 1-2 phút, giữ tâm không loạn tưởng, rồi đứng dậy đi kinh hành 1 vòng tập trung vào bước chân đi để không cho nó bị trạo hối. Nếu chúng ta tu định niệm hơi thở quá sức tỉnh thức của mình thì trạo hối, loạn tưởng sẽ tràn vào phá đi sức tỉnh thức, sẽ không mang đến một kết quả nào. Do vậy chỉ tu tập vừa sức thì sẽ diệt được trạo hối, loạn tưởng.

Khi trạo cử không phải tu cả ngày . Chỉ ta vừa sức sau đó xả ra tu tứ chánh cần, nhắc tâm, “đây là tâm ác, đi đi”

2.                       Ngủ uẩn (phần 5)
Quán sắc uẩn là quán: đây là sắc tập, đây là sắc diệt, đây là thọ tập, đây là thọ diệt, … đây là thức tập, đây là thức diệt.

a/ Sắc tập là thân, là tập hợp, gom trở lại, đây là thân của mình, đây là thực phẩm nuôi cái thân, đó là tập khởi, những cái bệnh trên thân gọi là tập khởi, hoặc bây giờ cái thân không có gì nó bắt đầu tập khởi những cái bàn , ghế, nhà cửa, bà con,… xung quanh tạo nên sắc tập làm cho chúng ta dính mắc và khi bị mất đi thì chúng ta cảm thấy đau khổ. Còn Sắc diệt là chúng ta lìa xa chúng dần dần và cuối cùng chỉ còn lại cái thân này thôi, không còn đau khổ nữa.
b/Thọ: là cảm giác của mình bất lạc bất khổ, thọ lạc, thọ khổ. Thân thọ, tâm thọ, mình đang tức, chân bị đau, chân mình bị ghẻ đau, tâm mình lo lắng thì gọi là thọ tập. Thọ diệt là khi chân mình hết đau, tâm không còn lo lắng nữa. VD: khi cái đầu bị nhức, mình dùng pháp hướng, cái đầu hết đau gọi là thọ diệt.
c/Tưởng: mình nghĩ cái này cái kia gọi là tưởng tập. Nếu là tưởng thiện thì không sao hết, còn nếu là tưởng ác nó tính toán, mưu mô, suy tính thế này thế kia thì gọi là tưởng tập. Còn trong đầu không có tưởng nào hết gọi là tưởng diệt.
d/Hành: Hành tập là bây giờ chân mình đang đi, đầu suy nghĩ gọi là hành tập. KHi đang đi, không có suy nghĩ gì hết, không có tập trung vào chân gì cả gọi là hành diệt.
e/Thức: Thức tập là nó ngồi đây biết vật này vật nọ như cái bàn, cái ghế, TV, tủ lạnh thì gọi là thức tập, còn khi nó ngồi đó mà không biết gì cả, không biết có cái bàn, cái ghế, cái TV, tủ lạnh thì gọi là thức diệt.

 Phật dạy chúng ta trên ngủ uẩn, thọ của thọ uẩn không phải thọ của tứ niệm xứ. Tâm của TNX giống như thức bên ngủ uẩn, tâm bên ngủ uẩn vừa là ý thức , vừa là tâm thức.

 Đặt ngủ uẩn này trên TNX để thấy ngủ uẩn không phải của mình, để xả ngã, phá ngã mà 4 chổ này (thân, thọ, tâm, pháp) lầm chấp.

Ngủ uẩn là cái pháp, để chỉ cho chúng ta thân gồm 5 uẩn, chứ không phải cái thân của ta, là những duyên hợp tạo thành cái thân của chúng ta mà ta lầm chấp nó là cái ngã.

Đặt hơi thở để tác ý, để phá nó không còn bị lầm chấp nữa.

3.                       Sáu nội xứ, sáu ngoại xứ (Sáu căn và sáu trần) (phần 5 phút thứ 16)
Ở đây tỳ kheo tuệ tri con mắt nội xứ và ngoại xứ , do 2  vật này xúc chạm mà sanh ra dục.

Vị ấy tuệ tri lổ tại, âm thanh, mũi và mùi hương, miệng và vị, thân và xúc chạm,…

Muốn đoạn diệt lòng ham muốn thì phải dùng định vô lậu quán xét để không còn bị trói buộc nữa.

4.                       Thất giác chi (phần 5 phút thứ 23)
- Niệm giác chi: nội tâm tuệ tri có niệm giác chi, hay nội tâm không có niệm giác chi. Niệm ở đây là bồ đề, đó là tâm giải thoát, là tâm thiện. Ngồi đây không có tham sân si nghĩa là tôi đang giữ niệm giác chi, tâm đang thanh thản an lạc và vô sự thì đó ta đang có niệm giác chi. Niệm giác chi sanh khởi là tâm quay vô, tầm tứ nó diệt không muốn nghĩ ngợi gì cả.
-       Trạch pháp giác chi là chọn lựa. Hướng tâm làm theo cái lệnh biểu đó mà nó làm theo thì gọi là đã thành tựu trạch pháp giác chi. VD: Diệt tầm tứ nhập nhị thiền, nó không tịnh chỉ, hoặc tịnh chỉ một chút rồi bung ra thì chưa gọi là trạch pháp giác chi.
-       Tinh tấn giác chi: siêng năng, tự nó, không bắt ép nó, nó không buồn ngủ, không còn lười biếng nữa, làm cho mình thích tu, trong tinh tấn có bồ đề giải thoát, làm mình ham tu, thích ở trong đó.
-       Hỷ giác chi. Nội tâm có gì đó vui mặc dù chưa nhập định, tự nó đến với mình.
-       Khinh an giác chi.
-       Xả giác chi. Ai xin cái đầu, cánh tai, nó cho liền. bởi vì trong xả giác chi có khinh an giác chi cho nên nó vẫn cảm thấy bình thường.

Khi chúng ta tu đến đó thì  các giác chi xuất hiện chứ không phải ôm giác chi mà tu tập.

5.                       Tứ diệu đế (phần 5 phút thứ 33)
Tỳ kheo tuệ tri đây là khổ, đây là khổ tập, khổ diệt, con đường đưa đến diệt khổ. Ở đây vị ấy quán tánh sanh khởi của chúng, quán tánh diệt khởi của chúng.

Đặt cái thân, thọ, tâm pháp của chúng ta trên cái khổ là như thế nào?

Quán tánh sanh khởi cái pháp khổ: Quán thân chuẩn bị mọc cái mục ghẻ, đầu tiên là nó chỉ mới đau, nhức nhối, một đốm đỏ, nổi đỏ lan dần ra, lở ra, bể mục, hết đau, rồi hết đau, lành lại, đó gọi là pháp khổ.

Trên cái khổ đặt cái chết, cái bệnh, trước khi cái chết, cái bệnh thì nó làm sao?

Quán tánh sanh diệt trên pháp khổ: có người đánh trên vai, mình cảm thấy đau, rồi dần dần giảm dần hết đau.

Quán tánh sanh diệt trên khổ tập – nguyên nhân của cái khổ. Là do lòng ham muốn. Do quán xét thấy các pháp bị khổ là do lòng ham muốn cho nên chúng ta buông xuống hết.