Monday, 25 November 2013

NHÂN QUẢ TRONG CUỘC SỐNG



Dưới đây là bộ tập hợp những câu hỏi của Phật tử và trả lời của thầy Thích Thông Lạc có liên quan đến nhân quả trong đời và đạo.


Kính mời quý vị tải những files cần thiết về (file pdf, doc, epubvà file nén .rar (chứa >100 bài mp3+file pdf+file doc)), hoặc bấm vào những đề tài ở dưới để đọc. Nếu bạn muốn nghe audio thì bấm vào đâyđể chuyển sang trang sách nói audio Nhân quả, rồi bấm vào đề tài nào mình thích.

Nói đến đạo Phật không ai là không biết về Nhân Quả. Nhân quả là một định luật chi phối môi trường sống, nó rất công bằng, công lý và không thiên vị ai. Không ai có thể mua chuộc được nhân quả dù là Phật.

Khi hiểu rõ được nhân quả chúng ta mới tự giác sống ngăn ác, diệt ác pháp, sanh thiện tăng trưởng thiện. Luôn sống thiện để tạo sự an vui cho mình, cho người và cho muôn loài vật.

- Hiểu rõ nhân quả cho nên chúng ta biết rằng nhân nào quả đó, quả nào thì nhân đó, một nhân cho ra nhiều quả, một quả có nhiều nhân. Nghiệp lực nhân quả từng giây, từng phút phóng xuất ra môi trường sống và tương ưng tái sanh ngay, không cần phải đợi đến sau khi chết mới tương ưng tái sanh.

- Hiểu rõ được nhân quả là công bằng và công lý, chúng ta mới biết không ai có thể mua chuộc được nhân quả, ai làm thì người đó chịu, phải chịu trách nhiệm với những gì mình đã làm, không thể có chuyện cầu cúng để tai qua nạn khỏi, không có chuyện cầu an cầu siêu để tiêu trừ tội ác. Không có chuyện dùng tha lực để cứu người mà chính mỗi người phải tự cứu mình.

- Hiểu rõ được nhân quả là nền đạo đức nhân bản - nhân quả, không phải là một thuyết định mệnh, số mệnh hay số phận, cho nên muốn thay đổi nhân quả xấu thành tốt chỉ có sống thiện, suy nghĩ thiện, nói lời thiện và hành động thiện. Do vậy, những chuyện xem bói, xem tướng, xem tử vi, xem ngày giờ tốt xấu, xem hướng, kiêng cử,... đều là mê tín.

- Hiểu rõ nhân quả, chúng ta biết rằng không có linh hồn hay thần thức nào đi tái sanh mà chỉ có nghiệp lực nhân quả do thân khẩu ý của mỗi con người, phóng xuất ra môi trường sống tương ưng tái sanh.

- Hiểu rõ nhân quả, chúng ta biết không có một thế giới siêu hình nào, không có chuyện hồn ma vất vưỡng trên cây, không có các tầng trời, thiên đàng hay địa ngục phán xét con người. Các nẻo luân hồi chỉ là các trạng thái của tâm con người. Thiên đàng hay địa ngục ở ngay tại thế gian này. Con người từ môi trường sống nhân quả sanh ra, sống trong môi trường sống nhân quả và chết trở về môi trường sống nhân quả. Chớ không phải từ đâu sanh ra và chết đi về đâu cả.

- Hiểu rõ nhân quả, chúng ta nhận ra không có chuyện thần thánh nào ban phước hay giáng họa cho chúng ta được. Sự an vui hoặc buồn khổ đều do chính chúng ta mà ra. Từ đó chúng ta nhận ra được những ông Ngọc Hoàng, ông Trời, ông Táo, ông thần Tài, bà chúa, Quan Âm, ông Địa, ông quan công, .... đều là những vị thần tưởng của con người dựng lên chứ không có thật, không ai có thể giúp gì được cho chúng ta ngoại trừ chúng ta ra.

- Hiểu rõ được nhân quả thì chúng ta sẽ thấy mọi việc trên đời này xảy ra đều là nhân quả, đủ duyên thì hợp, hết duyên thì tan, hợp tan tan hợp, vay trả trả vay, thay đổi vô thường, không có gì là bất biết, không có gì là ta, là của ta là bản ngã của ta. Tất cả mọi việc xảy ra đều là những màn kịch nhân quả. Ai chấp vào là ta, là của ta, là bất biến, là không thay đổi thì sẽ bị nhân quả lôi, làm nô lệ cho chúng và chịu đau khổ mãi mãi. Chỉ có giữ gìn tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự thì sẽ vượt qua được nhân quả.

- Hiểu rõ mọi việc xảy ra trong cuộc sống là do đủ duyên mà thành, hết duyên thì tan. Và vì tính chất của các duyên là vô thường thay đổi, khi các duyên thay đổi thì mọi việc cũng thay đổi theo, duyên thay đổi theo chiều hướng thiện thì việc xấu ác cũng thay đổi theo chiều hướng thiện. Ví dụ: một người giận dữ quát mắng ta, ta không quát mắng lại, không buồn tức giận họ mà chỉ im lặng, còn khởi tâm yêu thương và tha thứ cho họ thì ngay lúc đó nó đã thay đổi các duyên của các ác pháp đó thành các duyên cho các thiện pháp, do tánh chất các pháp vô thường thay đổi như vậy nên chúng ta thấy được một sự giải thoát cụ thể và rõ ràng. Qua ví dụ trên ta thấy, ở đâu có đạo đức nhân bản nhân quả thì mọi việc sẽ an vui và hạnh phúc.

Ví dụ 2: Khi hiểu rõ nhân quả, biết gốc của bệnh tật là do nhân giết hại và ăn thịt chúng sinh. Chỉ cần chúng ta nhận ra điều đó, biết thay đổi và bắt đầu sống tôn trọng sự sống, quyết không giết hại và ăn thịt các loài vạn vật khác nữa, luôn thương yêu sự sống của muôn loài vạn vật thì quả khổ bệnh sẽ từ từ chuyển đổi, không cần uống thuốc cũng hết bệnh.

- Hiểu rõ tất cả mọi việc xảy đến đều là nhân quả, cho nên chúng ta không sống ích kỷ mà biết sống yêu thương, tha thứ người và sống vì người khác , sống yêu thương tha thứ người là sống biết nhẫn nhục, tùy thuận và bằng lòng. Sống vì người khác là sống làm chủ từng suy nghĩ, lời nói và hành động không làm khổ mình, khổ người và khổ cả hai.

- Hiểu rõ nhân quả, chúng ta biết được những thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, tai nạn, lũ lụt, sóng thần, động đất, nủi lửa, chiến tranh đều do con người sống trong ác pháp, thường săn bắn, chài lưới, bắt cá, tôm, giết hại, ăn thịt chúng sinh, trộm cắp, dâm dục,...Chính những hành động ác của con người phóng xuất ra môi trường những từ trường ác. Chính những từ trường ác này tương ưng với những từ trường ác khác làm cho khí hậu thời tiết thay đổi dẫn đến thiên tai, bệnh tật, chiến tranh, tai nạn khắp nơi trên thế giới để gây hại lại chính những người có những hành động ác ở trên. Muốn chấm dứt thiên tai, bệnh tật, chiến tranh, tai nạn,... thì chỉ cần con người sống thiện, có những hành động thiện thì cuộc sống sẽ an vui hạnh phúc, thời tiết khí hậu ôn hòa bình lặng.

- V.v...


Mục Lục (đọc)


  1. Có 3 nơi phát xuất luật nhân quả - Nhân quả do đâu mà có
  2. Chuyển đổi Nhân quả gia đình

NGƯỜI CHỨNG QUẢ ALAHAN CÒN NHÂN QUẢ VỚI CHÚNG SANH KHÔNG


Hỏi: Người đã chứng quả ALAHán còn nhân quả với chúng sanh không? Xin Thầy giảng cho con rõ vấn đề này.

- Đáp: Người tu chứng quả A La Hán còn nhân quả với chúng sanh trong hiện tại, chứ tương lai thì chấm dứt.

Người đã chứng quả A La Hán cũng do cha mẹ sinh ra, cũng có dòng họ anh em chị em ruột thịt, cũng có cô bác ông bà tổ tiên nhiều đời chứ không phải một đời này, cho nên họ ghi lại những kinh nghiệm tu tập của họ thành sách để lại cho đời là vì họ đền đáp công ơn của những ngƣời này, vì thế họ còn nhân quả trong một kiếp hiện tại này mà thôi. Khi trả nhân quả xong là họ ra đi vĩnh viễn không trở lui trạng thái này nữa.

Cũng như Phật khi dạy hết pháp thì nhập Niết bàn, Thầy cũng vậy khi biên soạn bộ sách GIỚI LUẬT ĐỨC HẠNH xong thì Thầy xin vĩnh biệt từ giả các con.
(Trích từ "Những bức tâm thư" 1)

ĐẶT TÌNH THƯƠNG KHÔNG ĐÚNG CHỔ


Hỏi 3: - Nhân quả của một người đặt tình thương không đúng chổ là gì? Ví dụ bố thí sai thì nhân quả là gì? Bố thí vì lòng yêu thương, nhưng sau đó biết rằng bố thí nhầm cho đối tượng thì nhân quả là gì?

Ví dụ một lần con đang chạy xe ở thành phố Vũng Tàu, con thấy một anh thanh niên nằm bên lề đường quằn quại ôm bụng trông rất tội nghiệp như người đau dạ dày. Con ngừng xe lại và quay lại ân cần hỏi thăm và tính chở anh ta đi bệnh viện, anh ta không đi mà vẫn nằm ôm bụng rên la. Đến giờ con phải đi làm cho nên con cho anh ta tiền gọi xe đến bệnh viện và tiền chữa bệnh, và nhờ ông chủ nước ngay đó nếu cần thì gọi xe dùm, rồi con đi làm. Sau vài tháng con thấy anh ta ở Sài gòn cũng với tình trạng như vậy. Lần này con đặt câu hỏi không biết thật hay giả đây? Nhưng con nghĩ thôi, thật hay giả thì coi như đã giúp 1 lần và tự an ủi rằng ít ra mình không thờ ơ trước những cảnh khổ của người khác và con tiếp tục đi không dừng lại nữa. Con đặt giả thuyết nếu như anh ta đóng kịch thì coi như việc con làm là đặt tình thương không đúng chổ, sai lệch. Vậy thì có đáng trách là con thiếu tỉnh giác hay không?

Đáp:Bố thí không đúng pháp là bị người lừa gạt, nên không làm lợi ích cho mình, vì mình bị gạt; không làm lợi ích cho người vì tạo duyên cho người khác làm điều ác nhiều hơn (lường gạt người khác)

Trong đức bố thí đều do lòng yêu thương nó là nhân quả thiện, nhưng nếu thiếu trí tuệ quan sát đối tượng được bố thí không thiện mà bố thí thì đó là nhân quả ác vì tạo duyên cho người làm ác nhiều hơn. Trường hợp của con bố thí bị lừa gạt như đem hạt giống tốt gieo trên đất xấu khô cằn cỗi.

Theo Phật giáo Nguyên Thủy bố thí phải có trí tuệ nhân quả. Khi thấy một người tàn tật hay gặp một người bị tai nạn hoặc một người ốm đau không tiền thang thuốc, đi bác sĩ hay đi bệnh viện. Đây là nhân quả của những người này, họ đang trả vay, nhưng có nhân duyên kiếp trước nên kiếp này mới gặp ta trong hoàn cảnh này. Vậy ta nên giúp đỡ họ như thế nào cho đúng pháp.?

Thấy người tàn tật biết rõ họ thật sự tàn tật thì gíup đỡ, còn gặp họ ở giữa đường thì ta nên tránh, vì người tàn tật đều có chỗ ở do các nhà từ thiện hoặc nhà nước, còn tàn tật ở ngoài đường là giả dốt, người tàn tật ở ngoài đuờng đi xin ăn làm nhục đất nước đó. Chúng ta không nên cho những người ăn xin ngoài đường, Người tàn tật bất hạnh trong xã hội đều có nhà dưỡng lão, nhà nuôi trẻ mồ côi, nhà nuôi những người khuyết tật, nhà tình thương nuôi dạy trẻ lang thang, v.v...Đó là trách nhiệm của Nhà nước, của những nhà từ thiện. Như vậy đâu có cớ nào lại có người ăn xin ngoài đường. Người bố thí cho kẻ ăn xin ngòai đường là không đúng pháp, đó là bố thí vô tình tạo thêm những người lừa gạt người khácvà cũng vô tình làm nhục đất nước (Đất nước ăn mày).

Còn bố thí cho người bệnh tật thì không nên trao tiền cho họ mà đưa họ vào bệnh viện, đi bác sĩ, nếu bác sĩ bảo đó là bệnh thật thì chúng ta mới bỏ tiền ra bố thí, còn nếu chúng ta bận việc không đưa đi bác sĩ hay bênh viện thì không nên bố thí. Bố thí là giúp người mà giúp người thì phải đem hết lòng ra giúp, chứ không thể bố thí theo kiểu lấy có. Bố thí như vậy là tạo duyên cho kẻ làm ác thêm (lừa đảo).

  (Trích từ "Những bức tâm thư" 1)

LUẬT NHÂN QUẢ


Trước khi học và rèn luyện Đạo Đức Thương Mình, tức là đạo đức nhân bản - nhân quả làm người, chúng ta cũng cần phải hiểu biết về luật nhân quả.

Luật nhân quả là một phép tắc, được quy định theo sự hoạt động tự nhiên của vũ trụ, để quân bình trật tự an toàn của các hành tinh trong không gian. Nếu không có luật nhân quả quy định trật tự thì các hành tinh trong không gian này sẽ bị đảo lộn, và như vậy muôn vật sống trên các hành tinh sẽ bị tiêu diệt.

Luật nhân quả không phải do con người quy chế hay một đấng tạo hoá nào lập ra, mà chính do các “hành” hoạt động theo sự vận hành vô minh tự nhiên của bản chất vạn vật mà lập thành. Từ khi có các hành vận chuyển trong vũ trụ, tạo thành những duyên mới, những duyên mới này phối hợp với các duyên khác sanh ra duyên mới khác nữa, và cứ như thế tiếp tục mãi mãi.

Sự tiếp tục vận hành này chính đó là nguồn gốc sanh ra vạn vật, chứ không có “Đấng Tạo Hoá” như trên chúng tôi đã nói. Sự vận hành là một sự sinh diệt của vạn vật trong vũ trụ. Khi có vạn vật xuất hiện lại tiếp tục vận hành tạo thành một môi trường sống, môi trường sống phù hợp cho loài sinh vật nào th. loài sinh vật ấy xuất hiện. Mãi đến khi môi trường sống phù hợp với loài người th. loài người mới xuất hiện. Khi có loài người xuất hiện mới biết phân định các hành ra làm hai phần:

1- Hành thiện
2- Hành ác

Nhưng con người cổ sơ chỉ biết thiện, ác, nhân quả, mà chưa phân định luật nhân quả như thế nào đúng và như thế nào sai. Vì thế, “Đạo Đức Nhân Bản - Nhân Quả” đã biến thành “Triết Thuyết Định Mệnh” của người xưa. Mãi đến khi Đức Thích Ca Mâu Ni xuất hiện, tính từ ngày sinh của Ngài cho đến ngày nay (năm 2006) là 2550 năm. Ngài ra đời phân định được luật nhân quả đúng và sai. Từ đó, giáo lý của Ngài, nền đạo đức nhân bản - nhân quả trở thành chân lý của loài người (Đạo Đế).

Nếu thân, miệng, ý của chúng ta hành động thiện, thì đó là sự hoạt động đem lại sự no ấm, an ổn, yên vui, hạnh phúc cho sự sống của mình và của vạn vật sinh linh trên hành tinh này, gọi là “nhân thiện”. Nếu thân, miệng, ý của chúng ta hành động ác, thì đó là sự hoạt động đem lại sự bất công, bất an, đau khổ, v.v... cho sự sống của chúng ta và của vạn vật, gọi là “nhân ác”.

Bây giờ, chúng ta đã hiểu rõ được nhân thiện và nhân ác qua những hành động thân, miệng, ý của chúng ta.

Vậy NHÂN QUẢ là gì?

Nhân quả theo chữ Hán có nghĩa là hạt giống và bông trái. Ở đây chúng ta nên hiểu nghĩa nhân quả là hành động và kết quả của hành động. Để dễ hiểu, chúng tôi cho một ví dụ: Nếu chúng ta lấy một hạt cam gieo trồng xuống đất, hạt cam lên thành cây cam, cây cam lớn lên cho ta những quả cam ngọt, đó là nhân và quả của cây cam. Nếu ta lấy một hạt chanh đem ươm trồng, hạt chanh lên thành cây và cho những trái chanh chua, đó là nhân và quả của cây chanh. Hai ví dụ trên cho chúng ta thấy nhân nào thì quả nấy, hạt cam sẽ cho trái cam ngọt, hạt chanh sẽ cho trái chanh chua.

Hành động của chúng ta cũng vậy, nếu hành động ác là nhân ác, kết quả của hành động ác thì chúng ta sẽ phải thọ chịu quả khổ đau như chúng tôi đã nói ở trên. Ngược lại, hành động thiện sẽ mang đến hạnh phúc, an vui cho chúng ta. Để làm sáng tỏ luật nhân quả, chúng tôi xin lập lại:

Nếu chúng ta làm một điều ác, thì kết quả sẽ đem đến không những cho chúng ta, mà còn cho nhiều người khác những sự khổ đau, phiền muộn, tức giận, hận thù, oán ghét, tạo ra nhiều điều tội lỗi, v.v... Nếu chúng ta làm một điều thiện, thì kết quả sẽ mang đến không những cho chúng ta, mà còn cho nhiều người khác sự an vui, hạnh phúc.

Do hành động chúng ta làm ra, thì chúng ta phải chịu lấy trách nhiệm về hành động đó, nên gọi là luật. Chứ ở đây không có một Đấng Tạo Hoá, một ông Ngọc Hoàng, Thượng Đế, hay bất cứ một con người nào chế ra định luật nhân quả này, để bắt buộc chúng ta phải thi hành. Luật nhân quả không có người thi hành bắt bớ, phạt vạ hoặc giam cầm tù tội ai cả, nhưng nó phán xét rất công minh và xử phạt rất công lý do toà án lương tâm của mỗi người. Vì thế, luật nhân quả rất công bằng, không thiên vị một ai. “Ai làm ác thì phải gặt lấy quả khổ đau”, khi thời tiết nhân duyên đến.

Luật nhân quả này không có một người nào bắt buộc chúng ta thi hành được, mà chỉ có sự khổ đau và sự an vui của chúng ta mới bắt buộc chúng ta phải thi hành nó. Bởi vì, con người ai cũng muốn sống an vui, hạnh phúc, chứ không có mấy ai muốn sống khổ đau bao giờ. Vì thế, chúng ta tự bắt buộc chúng ta làm thiện, sống thiện để sống được an vui, hạnh phúc. Chính vì vậy, chúng ta mới thấy được lòng người sợ khổ, ưa vui. Còn nếu ngược lại, chúng ta ta không làm thiện, không sống thiện, thì sự an vui, hạnh phúc sẽ không đạt thành, và vì vậy chúng ta phải sống khổ đau.

Luật mà không có ai có quyền thi hành, bắt buộc phạt vạ mình, mà mình phải chịu sự trừng phạt của luật ấy rất công minh chánh trực như trên chúng tôi đã nói: “Luật nhân quả là một phép tắc được quy định theo sự hoạt động tự nhiên của vũ trụ, để quân bình trật tự an toàn của các hành tinh trong không gian”. Vì thế, luật nhân quả là một đạo luật của vũ trụ được đặt ra để quân bình trật tự vạn vật trong vũ trụ.
(Trích từ sách “Đạo đức làm người” tập 2)

CÓ BA NƠI XUẤT PHÁT LUẬT NHÂN QUẢ


Một người muốn sống đúng Đạo Đức Nhân Bản - Nhân Quả, thì phải đề cao cảnh giác ba nơi trong thân của chúng ta:

1- Ý thức
2- Miệng
3- Thân

Ba nơi này thường xuất phát luật nhân quả. Đó là ba nơi hoạt động trên cơ thể của con người, quyết định được sự khổ, vui của đời người.

Ý thức gồm có ba hành động ác gốc:

1- Tham, tức là lòng ham muốn
2- Sân, tức là lòng giận hờn
3- Si, tức là tâm mê mờ, không hiểu biết, không sáng suốt

Miệng lưỡi gồm có bốn hành động ác gốc:

1- Nói lời không thật
2- Nói lời hung dữ
3- Nói lời thêm bớt
4- Nói lời lật lọng

Thân gồm có ba hành động ác gốc:

1- Giết hại chúng sanh, ăn thịt chúng sanh
2- Trộm cắp, cướp giựt của người khác
3- Dâm dục

Từ những hành động ác gốc này sanh ra vô lượng hành động ác khác, và cứ thế tiếp diễn mãi mãi nên gọi là các pháp trùng trùng duyên khởi và trùng trùng duyên sanh. Sinh khởi theo ác pháp nên khiến cho sự sống trên hành tinh bất an như: thiên tai, động đất, lũ lụt, bão tố, hoả hoạn, chiến tranh, mưa không thuận, gió không hoà, sâu rầy phá hoại mùa màng, v.v...

Ví dụ: “Nhân” do con người tham sắc dục, tham rượu chè, tham ăn thịt chúng sanh thì “quả” sẽ có chiến tranh, bằng chứng lịch sử loài người đã xác định và chứng minh điều này. Thời đại nào nhà vua ham mê tửu sắc, hoang dâm vô độ thì đất nước ấy sẽ có chiến tranh. Vua là người lãnh đạo mà còn ham mê tửu sắc thì nhân dân nước đó cũng không có khác gì. Vì thế đất nước đó sẽ bị ngoại xâm. Cho nên, muốn xâm chiếm một nước nào thì nên quan sát nhân dân nước đó, thấy nhân dân nước đó ham mê cờ bạc, rượu chè, thịt cá và sắc dục thì biết nước đó suy yếu và đánh chiếm rất dễ dàng.

Quả” lũ lụt, bão tố, hoả hoạn là do “nhân” con người tham lam chặt phá, đốt rừng, săn bắn chim, thú hoặc lưới chài cá, tôm, v.v... Trên đây chúng tôi nêu lên một vài ví dụ, để các bạn suy ngẫm và để nhận thấy rõ con người do sống thiếu đạo đức mà tự tạo ra nhân quả thiện ác. Để rồi phải tự mình gánh chịu sự khổ đau ấy, chứ không phải là một sự ngẫu nhiên trùng hợp hoặc có một vị Thánh, Thần nào làm ra chiến tranh, lũ lụt, bão tố, hoả hoạn, v.v...

Đó là sự bất an do luật nhân quả tác động, chi phối mọi loài vật trên các hành tinh trong vũ trụ, không riêng gì ở hành tinh trái đất của chúng ta mà còn ở các hành tinh khác. Cho nên, luật nhân quả là một đạo luật chung trong vũ trụ, xử phạt phân minh không thiên vị một ai.

Vì quân bình trật tự an ổn cho muôn loài vạn vật trên hành tinh này, Đạo Đức Nhân Bản - Nhân Quả ra đời đồng thời với vạn vật, ngỏ hầu giúp cho mọi người, mọi vật biết phương cách để tạo một sự sống bình đẳng, yêu thương nhau, đùm bọc lấy nhau, v.v... Do đó tất cả hành động ác đều được chấm dứt, còn hành động thiện được duy trì và tăng trưởng thêm mãi. Nhờ thế, luật nhân quả luôn tác động trên những từ trường thiện, lập thành, an bài một sự sống yên lành, an ổn cho muôn loài.

Trên đây là tóm lược đại khái để mọi người hiểu biết sơ lược về luật nhân quả một cách tổng quát. Nhưng đến khi học tập và tu sửa những điều bất thiện và có thể đi sâu về đạo đức nhân bản - nhân quả, thì chúng tôi sẽ triển khai từng hành động đạo đức ấy, để mọi người ai ai cũng biết cách thực hiện một cuộc sống cho đúng những hành động Đạo Đức Làm Người: Không Làm Khổ Mình, Khổ Người.

(Trích từ Đạo đức làm người tập 2)

Sunday, 24 November 2013

CHUYỂN ĐỔI NHÂN QUẢ GIA ĐÌNH

TÂM THƯ GỬI LIÊN TÂM Ngày 17 tháng 11 năm 2008

Kính gửi: Liên Tâm! Vợ chồng, con cái là nợ nhân quả của nhau trong tiền kiếp, nên kiếp này phải gặp nhau để trả quả, để đòi nợ nhau. Cớ sao các con lại không thấy nhân quả mà cho đó là chồng, là vợ, là con của các con. Nếu là chồng, là vợ, là con của các con sao họ lại đối xử với các con quá tệ bạc, quá bạo lực, đánh các con, chửi mắng các con thậm tệ v.v.. Các con có thấy chăng?

Biết bao nhiêu gia đình trong xã hội này, có gia đình nào không xung đột, không cãi cọ, không mắng chửi nhau và họ còn dùng những lời lẽ thô tục, kém văn hoá mạt sát nhau như những người thù địch, họ lại còn đánh đập nhau, gây thương tích, để lại một vết thương tinh thần muôn đời khó quên. Trong khi đó họ là chồng, là vợ, là con là những người thân thương cùng sống trong một mái nhà, cùng nhau chia vui xẻ buồn lúc trở trời trái tiết, cùng nhau chia cay xẻ đắng lúc bệnh tật tai nạn, lúc nào đều cũng có bên nhau.Thế sao họ lại đối xử với nhau như vậy, thật là cay đắng trăm phần. Phải không hỡi các con?

Chính vì các con đang mê mờ, mù ám không thấy biết nhân quả trong ba thời gian: quá khứ, vị lai và hiện tại. Do không thấy biết nhân quả nên không sợ nhân quả quá khứ, không sợ nhân quả hiện tại và không sợ nhân quả tương lai, nên tạo cảnh bất an cho mình, cho người và cho cả hai. Bởi vậy kiếp trước vay như thế nào thì kiếp này phải trả như thế nấy, không ai tránh khỏi qui luật nhân quả này. Đường đi của nhân quả có ba nơi trên thân người, nó luôn ở đó để thực hiện vay trả, trả vay từ kiếp này sang kiếp khác.

Ba nơi này gồm có:

1- Ý hành là bộ tham mưu của nhân quả, nó tính toán tư duy theo tưởng tri nên tạo ra muôn ngàn nhân, khi nhân đã tạo thì ngay đó liền có quả, đó là nhân hiện tại quả hiên tại, nhưng cũng có khi nhân hiên tại mà quả tương lai. Thường con người sinh ra trên cuộc đời này đều do nhân quá khứ, đó là nhân quá khứ thì quả hiện tại. Vì nhân quá khứ quả hiện tại nên mới thọ lấy thân người. Thọ lấy thân người nên mới trả quả khổ đau vô cùng, vô tận. Nhưng con người đâu biết các pháp là nhân qủa nên cứ đam mê ham thích những cái gì trên đời này cho nó là thật có, nó là ta, là của ta. Vì lầm chấp như vậy nên con người đã tạo biết bao nhân mới để rồi phải gặt biết bao quả khổ đau.

2- Khẩu hành là nơi xuất phát hành động ngôn ngữ do ý hành chỉ đạo để tạo ra nhân quả thiện hay ác. Trên đời này khổ đau vì khẩu hành không sao kể hết, nếu không mở miệng ra thì thôi mà mở miệng ra là có việc, không việc này thì việc khác, việc vui cũng có, nhưng việc buồn cũng không sao kể siết. Do nhân quả như vậy chúng ta làm người cần phải cẩn thận khẩu hành khi nói ra phải toàn lời nói thiện thì mới mong thoát khỏi mọi sự khổ đau trong cuộc đời này.

3- Thân hành là nơi xuất phát ra những hành động nhân quả tay chân do ý hành chỉ huy để tạo ra nhân quả thiện ác, cho nên hãy cẩn thận lúc nào cũng tỉnh giác khi làm một điều gì nên tránh không làm khổ mình, khổ người và khổ cả hai. Người tu sĩ Phật giáo những oai nghi chánh hạnh đi, đứng, nằm, ngồi phải nhẹ nhàng êm ái, không vội vàng, không hấp tấp, thường khoan thai, ôn tồn, êm dịu đối xử với mọi người mọi vật như nhau.

Do từ ba nơi này mà nhân quả theo đó điều khiển con người trả vay, vay trả mãi mãi từ đời này sang đời khác không bao giờ dứt. Cho nên các con hãy cẩn thận lời nói, hãy cẩn thận hành động tay chân, khi nói ra coi chừng trả quả khổ đau, khi nói ra coi chừng gieo nhân không lành. Về hành động tay chân cũng vậy, vì thế đức Phật dạy: “Chánh Ngữ và Chánh Nghiệp”.

Khi trả quả các con hãy vui vẻ chấp nhận trả nợ nhân quả thì có việc gì làm cho các con buồn lo được. Phải không hỡi các con? Các con có biết không? Họ là chồng, là vợ, là con của biết bao nhiêu người khác, chứ đâu phải của riêng của các con mà các con ghen tuông nói thế này, nói thế khác, các con lại muốn chiếm hữu làm sao chiếm hữu được khi đang sống trong qui luật nhân quả. Có vay thì có trả, vay đâu thì trả đó. Cho nên mọi việc xảy ra trên đời này đều theo nghiệp nhân quả, thế sao các con không hiểu mà khư khư chấp có, chấp không để rồi lại buồn rầu than khóc khổ đau.

Cái gì làm cho các con đau khổ? Chính các con không hiểu nhân quả nên cuộc đời các con mới khổ đau không bao giờ dứt. Hãy cứu mình ra biển khổ, không ai cứu các con bằng chính các con, như đức Phật đã dạy: “Các con tự thắp đuốc lên mà đi”. Đời toàn nhân quả khổ đau có vật gì trên đời này đáng cho các con tiếc rẻ. Phải không hỡi các con? Tất cả các pháp trên đời này đều vô thường, có pháp nào vĩnh viễn thường hằng đâu? Có pháp nào là của các con đâu? Có pháp nào là bản ngã của các con? Rồi đây ngày mai các con chết thì chồng hay vợ và con của các con có còn là chồng, là vợ, là con của các con nữa đâu? Các con chết đi có mang họ theo được không? Hay chỉ chết một mình…

Ôi thật là đau thương! Nhân quả! Nhân quả! Sao người công bằng đến đổi không còn ai tránh né trốn chạy người được. Tạo nhân nào thì phải gặt quả nấy các con hãy cẩn thận, trước khi nói hay làm phải suy nghĩ cho thật kỹ rồi mới nói, mới làm, đừng vội vàng nói ra hay làm hấp tấp rồi sẽ gặt lấy quả mình khổ, người khác khổ hoặc cả hai cùng khổ. Đó là hành động nhân quả ác thiếu suy nghĩ chín chắn, thiếu cẩn thân trong lời nói hay trong hành động làm. Nếu các con bình tĩnh, cẩn thận, dè dặt suy tư chín chắn trước khi nói hay trước khi làm thì sẽ mang lại sự an vui cho mình, cho người hoặc cho cả hai, thì đó là các con thực hiện nhân quả thiện mà tránh được nhân quả ác. Chỉ vì con người không sợ nhân quả nên nói và làm không cân nhắc kỹ lưỡng, vì thế nên luôn làm khổ mình, khổ người và khổ cả hai thật là đáng trách. Cuối cùng chúc các con vượt qua nghiệp lực và làm chủ nhân quả, đừng để nhân quả làm chủ các con.

Kính thư, Thầy của các con Trưởng lão. Thích Thông Lạc

Saturday, 16 November 2013

GIEO NHÂN GÌ GẶT QUẢ BỊ LÊN ĐỒNG, NHẬP CỐT

Hỏi 12: Người đời quá khổ đau khi có người thân trong gia đình bị lên đồng, nhập cốt (ma nhập). Họ phải chạy đôn, chạy đáo tìm thầy này đến thầy khác, hết lên núi rồi lại về chùa. Có người thì được may mắn trở lại như người thường, có người vẫn thế mãi. Không biết họ gieo nhân gì mà gặp quả quá khắc nghiệt vậy? Nếu người tu sĩ Chơn Như gặp những người như thế sẽ chia sẽ những gì, để làm vơi bớt đi sự đau khổ của họ. Trong khi mình tu tập chưa đến nơi đến chốn? Mong Thầy thương xót chỉ bảo.
 

Đáp: Cuộc sống của con người hoàn toàn đang bị luật nhân quả chi phối và điều hành, cho nên những hiện tượng tưởng (lên đồng, nhập cốt) hoặc tai nạn, bệnh tật xảy ra đều do tiền kiếp gieo nhân nào thì đời này phải gặt lấy quả nấy. Nếu đời trước không học làm thầy cúng cầu siêu, cầu an, thầy pháp chiêu
hồn luyện âm binh, đánh thiếp lên đồng nhập cốt, thầy bùa bắt ấn vẽ bùa, đọc thần chú trừ tà ếm quỷ, trừ ma trị bệnh, và thầy ngải dùng ngải nghệ mê hoặc người, làm cho người ta rối loạn thần kinh trở thành điên khùng. Nhất là quý thầy Mật tông luyện bùa đọc thần chú, tạo thành một thế giới tưởng để mê hoặc lòng người, nhờ đó nên làm tiền bất chánh. Lại thêm quý thầy phong thủy coi tuổi coi hướng, để làm ăn phát tài phát lộc. 


Thật sự không phải vậy, từ xưa đến nay đã chứng minh cụ thể, mọi người làm nhà không ai mà không xem ngày giờ tốt xấu; không ai mà không coi phương hướng. Vậy mà có người giàu, có người nghèo, chứ đâu có nhờ coi ngày giờ tốt xấu và đặt phương hướng mà ai nấy đều giàu sang cả. Các vua chúa đều đem hài cốt ông cha của mình chôn vào hàm rồng để mãi mãi con cháu làm vua chúa. Điều
này đã minh chứng trong lịch sử cho chúng ta thấy, không có một giòng họ nào làm vua mãi mãi, chỉ vài ba trăm năm là có sự thay đổi giòng họ khác. Và như vậy, quý thầy phong thủy chỉ dựa vào sách dạy về phong thủy của người xưa để lại. Người xưa dựa theo quy luật nhân quả âm dương làm ra sách vở này, nhưng các Ngài không rõ luật nhân quả.


Vì quy luật nhân quả vô thường thay đổi liên tục, nếu nhân thiện thì hưởng quả an vui hạnh phúc, còn ngược lại nhân ác thì quả phải chịu nhiều điều buồn khổ. Cho nên sách phong thủy chỉ dùng cho những ông thầy lừa đảo.


(Trích từ câu hỏi của thầy Minh Phước, trang 190, sách "Hỏi đáp oai nghi chánh hạnh")

TẠI SAO CÁC NƯỚC LẤY PHẬT GIÁO LÀM QUỐC GIÁO VẪN NGHÈO VÀ KHỔ

Hỏi 1: Do có hữu duyên có được thưa chuyện cùng quý Phật tử N.N, bác ấy có đưa ra một câu hỏi như sau: Bác định hỏi Thầy là tại sau đất nước Miến Điện (Myanmar), Trung Quốc, Tây Tạng, v.v... Dân chúng các nước đó rất có lòng tin vào đạo Phật, số Phật tử rất đông, mà đời sống lại khổ, hay bị thiên tai nặng nề. Kể cả Việt Nam, đời sống của người dân rất khổ, tình trạng kinh tế giai đoạn này rất suy thoái. Con đã mạn phép để trao đổi và thưa chuyện cùng bác. 

Con đã giải thích, rằng mặc dù đất nước và người thân nơi đó theo đạo Phật, có đức hạnh hơn các nước khác, mà sao đời sống kinh tế vẫn đói khổ, là vì họ chưa được học và rèn luyện nhân cách đạo đức hiếu sinh một cách thực tế và cụ thể vào đời sống. Vẫn còn giết hại và ăn thịt chúng sinh. Chưa có phương pháp để áp dụng đạo đức nhân bản - nhân quả, vẫn còn sống vô tình và cố ý làm khổ mình, khổ người và khổ chúng sanh, v.v... Do vậy, cuộc sống của người dân vẫn phải gánh chịu những quả khổ đau do chính họ gây ra đúng với luật nhân quả, không một người nào tránh khỏi.


Người dân các nước đó, kể cả Việt Nam chúng ta, đến với đạo Phật bằng sự mê tín, họ tin rằng đức Phật là một vị thánh có thể ban phước, giáng họa nếu không bằng lòng. Do vậy, quý vị chỉ lo cầu cúng, tế lễ mà không được biết đạo Phật là một nền đạo đức rất cụ thể thực tế, sẵn sàng đem lại niềm vui an lạc cho con người, nếu họ sống đúng với những lời dạy của đức Phật. Nhưng điều này từ xưa đến nay ít ai triển khai và dạy đúng lộ trình này, nên ít ai biết. Chỉ hiện nay đức Trưởng Lão đang đào tạo những hạt giống để gây dựng cho tương lai. Chính những hạt giống mà đức Thầy đang chăm bón, vun trồng này, tương lai sẽ góp phần làm cho đời sống người dân bớt khổ đau bằng đạo đức nhân bản - nhân quả. Đạo đức và những oai nghi chánh hạnh, mà quý tu sinh đã được học và áp dụng vào cuộc sống hằng ngày.


Kính thưa thầy, đó là sự hiểu biết nông cạn của con, kính xin Thầy từ bi hoan hỉ chỉ dạy.


Đáp: Đúng vậy, con hiểu đúng không sai. Các nước từ dân đến quan, vua đều tôn thờ Phật giáo, lấy Phật giáo làm quốc giáo của đất nước họ, thế mà chỉ biết tụng niệm cầu cúng cho đất nước bình an và thế giới hòa bình, nhưng tụng niệm cầu cúng vẫn tụng niệm cầu cúng còn đất nước và thế giới nào có bình an và hòa bình đâu. Bằng chứng tại đất nước của họ đâu có bình an, nay biểu tình chống đối, mai khủng bố thế này thế khác, luôn luôn là nhân dân sống trong sự bất an, còn thế giới không nước này chiến tranh thì nước khác. Vậy thế giới có hòa bình đâu! Cho nên, việc cầu cúng cho hòa bình thế giới là một việc làm mê tín lạc hậu.


Quý vị cứ xem, ngay cả những nước lấy Phật giáo làm quốc giáo, nhưng nạn khủng bố, biểu tình chống đối nhau khiến cho những người dân các xứ đó sống bất an. Cho nên tụng niệm cầu cúng chỉ là một ảo tưởng hòa bình, chứ đạo Phật không có dạy họ làm những điều đó, mà đức Phật chỉ dạy: “Các con hãy tự thắp đuốc lên mà đi...” Vậy mà các nước Phật giáo hiện giờ lại đi ngược lại lời dạy của Người. Thật là đau lòng! 


Các nước lấy Phật giáo làm quốc giáo như: Thái Lan, Campuchia, Miến Điện, Tây Tạng, v.v... Đó là các nước được xem như Phật giáo trong lòng dân tộc của họ. Nhưng chính các nước này thường biểu tình chống đối nhau, thật là bất an. Nhất là nạn khủng bố, hằng loạt người chết oan vô tội. Thật là khủng khiếp và man rợ.


Xét qua những biến cố đã xảy ra trên các nước này, thì biết ngay Phật giáo đến với xứ sở của họ là đến với sự mê tín, biến ông Phật thành ông thần có đủ thần thông pháp thuật, để phò hộ cho nước họ thoát mọi sự khổ đau, đem lại sự bình an. Nhưng đó là một ảo tưởng. Đó là một hiện tượng mê tín của dân tộc các nước này; một việc làm sai không đúng lời Phật dạy thì nhân dân cả nước của họ phải gánh chịu những nỗi sống bất an.


Vào thế kỷ thứ 21, sau khi tu tập làm chủ sinh, già, bệnh, chết, Thầy mạnh dạn đứng lên triển khai dựng lại con đường chánh pháp của Phật. Dù biết rằng dựng lại chánh pháp của Phật thì phải chịu biết bao gian nan thử thách, nhưng vẫn kiên gan bền chí, luôn luôn thay đổi theo hoàn cảnh nhân quả của chúng sinh. Nhưng mỗi lúc thay đổi vị trí chỗ ở của Thầy thì chánh pháp của Phật lại sáng tỏ, khiến cho mọi người tu hành dễ dàng hơn và tiến đến mục tiêu nhanh chóng hơn. Và ước mong của Thầy là nền đạo đức nhân bản - nhân quả của Phật giáo sẽ được truyền rộng ra khắp nơi trên thế giới.


Các nước này mang danh là đất nước Phật giáo, nhưng lại hiểu sai Phật giáo, nên chẳng lợi ích gì. Toàn dân sống trong ác pháp, ngày nào cũng giết hại và ăn thịt chúng sinh, sống thường làm khổ mình, khổ người và khổ cả hai, thì làm sao đất nước đó bình an cho được. Vì thế lũ lụt, bão tố, sóng thần, động đất, v.v... không đến thăm đất nước họ sao được.


Một đất nước mà toàn dân sống bằng xương máu của các loài chúng sinh như: trâu, bò, heo, dê, gà, vịt, cá, tôm, sò, ốc, v.v... thì đất nước ấy làm sao nhân dân tránh khỏi thiên tai, lũ lụt, bão tố, sóng thần, động đất. 


Thử hỏi trước cái chết thảm thương của loài vật trong bàn tay của con người, mà chính con người đã tận mắt nhìn thấy sự giãy giụa, kêu la cầu cứu của loài vật. Cảnh tượng ấy con người còn có chút lòng thương tâm không?

Còn trước cái chết thê thảm của con người khi thiên tai, hỏa hoạn, lũ lụt, bão tố, động đất, sóng thần đến, thì con người có thương tâm không?


Chắc chắn ai cũng phải xót xa nhìn cảnh nhà tan, người chết nằm vất vưởng trên cành tre, bên bờ suối, cơ thể sình trương hôi thối; nhìn cảnh người còn kẻ mất, v.v... Thật là thương tâm vô cùng. Phải không quý vị? 


Nhưng sao quý vị không thương con cá, con gà đang giãy giụa trên dao dưới thớt của quý vị?


Có bao giờ quý vị khóc một con cá đang lăn lộn giãy giụa trên chảo dầu sôi của quý vị không?


Cả thế giới loài người đang khổ đau là vì loài người đã đánh mất lòng yêu thương của mình đối với sự sống của muôn loài. Quý vị có biết không?


(Trích ra từ câu hỏi của một tu sinh, trang 206, sách "Hỏi đáp oai nghi chánh hạnh")

GỐC CỦA BỆNH TỪ ĐÂU ?

Hỏi 1: Qua bài học “Một đêm ở bệnh viện Chợ Rẫy”, con nghĩ một người bệnh hay một bác sĩ hiện nay họ vẫn còn ý tưởng ăn thịt cá để bổ dưỡng lấy lại sức trong lúc bệnh, điều này chứng tỏ họ không hiểu nguyên nhân gốc của bệnh từ đâu? Cho nên họ tự gieo cho mình một nhân bất thiện mới thì làm sao
chấm dứt bệnh được phải không, thưa Thầy?


Xã hội hiện giờ sốt xuất huyết đang tăng cao ở một số nơi (Bình Dương, Cà Mau), nên họ đưa ra giải pháp phòng chống diệt muỗi và lăng quăng... để đem lại sự bình an. Điều này đối với Phật giáo sẽ giải thích như thế nào? Xin Thầy chỉ dạy cho con được thông
suốt hơn?

Đáp: Đúng vậy, tất cả mọi người trên hành tinh này hiện nay không ai hiểu gốc bệnh của con người từ đâu sinh ra, vì thế mới bảo nhau ăn thịt cá mới có sức khoẻ, mới trị hết bệnh. Hiện nay mọi người trên hành tinh này đều ăn thịt chúng sinh, nhưng có ai tránh khỏi bệnh không? Bởi mọi người không hiểu luật nhân quả nên làm sao hiểu nguyên nhân gây ra bệnh được. Nhân giết hại chúng sinh thì quả phải
bệnh đau, đó là điều chắc chắn không thể ai chối cãi và phủ nhận được. Nhân như thế nào thì quả như thế nấy. Cho nên bệnh viện Chợ Rẫy là nơi để những người giết hại và ăn thịt chúng sinh trả quả báo.


Thời xưa cũng có muỗi, cũng có lăng quăng, nhưng người ta không có bệnh sốt xuất huyết, nhưng tại sao thời nay lại có bệnh sốt xuất huyết? Đem thuốc độc để diệt lăng quăng và muỗi để phòng chống bệnh sốt xuất huyết là trị cái ngọn, chứ không phải trị các gốc của bệnh. Muốn phòng chống bệnh sốt xuất huyết tận gốc thì không nên dùng thuốc diệt muỗi và lăng quăng, mà mọi người chỉ cần sống với
đạo đức vệ sinh bảo vệ môi trường. Vì muỗi và lăng quăng không có tội, mà có tội là do con người sống làm ô nhiễm môi trường, khiến cho môi trường sống bẩn thỉu. Lăng quăng và muỗi sinh ra từ trong môi trường bẩn thỉu không vệ sinh. 


Mọi người không học đạo đức vệ sinh nên không thấy trách nhiệm bổn phận của mình là phải giữ gìn vệ sinh công cộng. Rác rưởi ném bỏ đầy hai bên đường trông thật dơ bẩn, nhất là kinh rạch quá dơ bẩn. Lại thêm xe cộ, nhà máy phóng xuất khói bụi làm ô nhiểm bầu không khí. 


Nếu bệnh sốt xuất huyết không xuất hiện thì lại phát sinh những loại bệnh khác. Ở nơi đâu ô nhiễm chất bẩn nào thì nơi đó phải phát sinh ra bệnh tật nấy. Nhất là nơi đó mọi người đều giết hại và ăn thịt chúng sinh thì lại càng bệnh đau nhiều hơn, nhất là những bệnh ngặt nghèo nan y.


Bệnh gốc do nhân quả của loài người giết hại và ăn thịt chúng sinh như trên đã nói, vì thế những nơi nào phát sinh ra bệnh này hoặc bệnh khác đều là do duyên nhân quả hội đủ như: ăn ở hung ác, sát hại sinh linh, thiếu đức vệ sinh, nên vi trùng, vi khuẩn, muỗi mòng, lăng quăng, vi rút, v.v... xuất hiện. Khi đã xuất hiện thì bệnh tật phát sinh, đó là điều chắc chắn.


Diệt muỗi, lăng quăng chỉ phòng ngừa bệnh ở ngọn, mà lại tạo thêm tội ác giết hại và ăn thịt chúng sinh, do tội giết hại và ăn thịt chúng sinh thì lại phát sinh ra một loại bệnh khác nữa, hoặc những thảm họa khác to lớn hơn, giết hại nhiều hơn như lũ lụt, bão tố, động đất. Tất cả bệnh tật hay những thảm
họa thiên tai xảy ra trên hành tinh đều do nhân quả của con người tạo nên.


Nơi đâu con người sống thiện, tròn đầy đạo đức không làm khổ mình, khổ người và khổ chúng sinh thì nơi đó không bệnh tật, không tai ương thảm họa, còn nơi đâu sống ác làm khổ mình, khổ người và khổ chúng sinh thì nơi đó không thể nào thoát khỏi thảm họa, bệnh tật, lũ lụt, bão tố, sóng thần động đất, v.v... Những bệnh tật, thiên tai, hỏa hoạn, bão tố, lũ lụt, sóng thần động đất là sự cảnh cáo của nhân quả. Vậy mà loài người không biết, thật là mê mờ và ngu muội hết sức.


Cho nên, muốn ngăn ngừa tất cả bệnh tật thì duy nhất mọi người đừng giết hại và ăn thịt chúng sinh, và luôn luôn cần phải sống một cuộc đời đầy đủ đạo đức vệ sinh nhân bản - nhân quả.


(Trích từ câu hỏi của thầy Minh Phước, trang 171 sách "Hỏi đáp oai nghi chánh hạnh")

Wednesday, 13 November 2013

KHÔNG CÓ CẢNH GIỚI NIẾT BÀN, TU RỒI VỀ ĐÂU?

Hỏi: Kính bạch Thầy, người tu giải thoát trong kiếp này thì về đâu thưa Thầy? Vì Thầy nói là không có cả cảnh giới Niết bàn, vậy nơi đó gọi là gì?

Đáp: Thầy đã xác định không có cảnh giới Niết Bàn mà có trạng thái Niết Bàn, trạng thái Niết Bàn như đức Phật đã dạy trong kinh Tứ Diệu Đế, nó được gọi là “Diệt Đế ”. “Diệt Đế” là một trạng thái lìa xa và đoạn dứt tâm ái dục và các ác pháp. Khi người tu hành xong thì lúc nào họ cũng ở trong trạng thái đó, như đức Phật thường dạy ở trong trạng thái đó là nhập vào Bất Động Tâm Định. Nhập vào Bất Động Tâm Định là nhập vào Niết Bàn. 


Niết Bàn là một trạng thái thanh thản, an lạc và vô sự của thân tâm, dù cho bất cứ các cảm thọ hay các ác pháp nào đến cũng không làm cho họ dao động tâm được.

Chúng ta hãy lắng nghe đức Phật xác định Niết Bàn: “Này Bà La Môn, khi vị ấy cảm thọ tham ái được đoạn tận, không có dư tàn, cảm thọ sân đoạn tận không có dư tàn, cảm thọ si được đoạn tận không có dư tàn. Như vậy này Bà La Môn Niết Bàn là thiết thực hiện tại, không có thời gian đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí giác hiểu ”. (Tăng Chi tập 1 trang 285).

Như vậy Niết Bàn không phải là một cảnh giới mà là một trạng thái của tâm không còn tham, sân, si nữa phải không quý vị? Cho nên Niết Bàn là một trạng thái của tâm mình, khi người tu chứng có về đâu? Ngay chỗ trạng thái tâm hết tham, sân, si, mạn, nghi là chỗ về. Chỗ trạng thái tâm hết tham, sân, si, mạn, nghi là Niết Bàn, chứ đâu có cảnh giới Niết Bàn để về.

Khi tu xong tâm không còn tham, sân, si nữa, thì chỗ tâm không còn tham, sân, si, mạn, nghi chính là Niết Bàn, chứ không còn chỗ nào khác gọi là Niết Bàn như trên đã nói. Còn có chỗ nào khác gọi là Niết Bàn thì chỗ ấy là cõi tưởng, cõi không có thật.

Niết Bàn cũng như một bàn tay có 2 phía, mặt và trái - Trái là tham, sân, si, mạn nghi - Mặt là không tham, sân, si, mạn, nghi. Vậy trái và mặt của một bàn tay có phải là một bàn tay hay là hai bàn tay? Chỉ có một bàn tay mà thôi, nhưng mặt trái của bàn tay thì không giống mặt phải của bàn tay. - Mặt trái là sự khổ đau, - Mặt phải là sự hết khổ đau.

Do đó chúng ta suy ra Niết Bàn không phải là một cảnh giới mà là một trạng thái của tâm mình không còn tham, sân, si, mạn nghi nữa. Niết Bàn là một danh từ để chỉ cho một trạng thái của tâm, chứ không phải Niết Bàn là một cảnh giới theo kiểu của các nhà Đại thừa dựa theo kinh sách phát triển giàu tưởng tượng bịa đặt ra để lừa đảo con người.

Vì thế người tu chứng đạo khi bỏ thân tứ đại này thì không có về cõi Niết Bàn mà họ đang ở trong Niết Bàn, vì ngay khi còn sống họ tu chứng thì luôn luôn sống trong trạng thái Niết Bàn của tâm họ, mà ở trên Thầy đã dạy: “Bất Động Tâm Định”. Nếu chúng ta không gọi nó là Niết bàn mà gọi nó là “TÂM KHÔNG THAM, SÂN, SI, MẠN, NGHI” hay gọi cách khác nữa là “TÂM THANH THẢN, AN LẠC VÀ VÔ SƯ ” hay gọi khác nữa là “DIỆT ĐẾ” như trong kinh TỨ DIỆU ĐẾ hay gọi là “ĐẠO ĐỨC NHÂN BẢN – NHÂN QUẢ SỐNG KHÔNG LÀM KHỔ MÌNH KHỔ NGƯỜI VÀ KHỔ CẢ HAI” thì có gì là khác đâu. 


 (Trích từ Đường Về Xứ Phật tập IX) 

DÂM DỤC LÀ CON ĐƯỜNG TÁI SANH LUÂN HỒI


Dâm dục là bản chất sinh tồn của muôn loài động vật và thực vật. Cho nên từ động vật nhỏ nhất, cho đến loài động vật thông minh nhất như
loài người đều không thoát khỏi uy lực của dâm dục. Đối với đạo Phật, dâm dục là con đường bất tịnh, uế trược, nhiều khổ đau, và đó là con đường mãi mãi tiếp tục luân hồi.


Muốn làm một cư sĩ Phật giáo, tức là muốn cho thân tâm mình thanh tịnh, trong sạch, không còn ô nhiễm, uế trược, thì phải diệt trừ dâm dục. Đó cũng chính là mục đích để cho thân tâm được nhập vào các định, được làm chủ sự sống chết và được khai mở tuệ Tam Minh, chứng Thánh quả A La Hán, xứng đáng là Thánh cư sĩ đệ tử của đức
Phật.



Muốn thoát khỏi luân hồi sanh tử thì con đường dâm dục phải đoạn dứt. Vì thế đạo Phật có giới không dâm dục để giúp cho thân tâm thanh tịnh, trong sạch, xứng đáng làm một bậc Thánh cư sĩ đệ tử Phật. 


Chúng ta nên lưu ý: Một con người bình thường thì cũng như muôn thú vật trên hành tinh này, không bao giờ lìa xa tâm dâm dục được, dù
có học thức sâu rộng bao nhiêu họ cũng không tránh khỏi tâm dâm dục. Nhưng một người tu theo đạo Phật là phải vượt thoát ra khỏi tính dâm dục, tức là vượt thoát ra khỏi bản chất của loài thú vật. Có thực hiện ra khỏi bản chất của loài cầm thú thì mới được gọi là Thánh.


Một người phàm phu chỉ hơn con thú vật là ở chỗ dâm dục có cương thường đạo lý làm người, có tôn ti trật tự, không thể cha con hay mẹ con lấy nhau, v.v... Nhưng một bậc Thánh như Phật và chúng Thánh Tăng đã nói ở trên thì phải vượt hơn loài người và loài thú vật, là không còn dâm dục nữa. Có người hỏi rằng:



Hỏi: Khi con người không còn dâm dục thì con người do đâu mà sinh ra?

Đáp: Khi con người không còn dâm dục thì họ là những bậc Thánh nhân rồi. Đã là Thánh nhân sao lại còn tái sanh luân hồi trong đường dâm dục? Khi con người không còn dâm dục thì con người sinh ra bằng đường hóa sinh. Con đường hóa sinh là con đường thanh tịnh, trong sạch dành riêng cho những bậc Thánh nhân, chứ không phải hóa sanh là sâu hóa bướm, v.v...; chứ không phảihóa sanh là biến hóa tàng hình. Mà hóa sanh là tự dùng thần lực hợp các duyên ngũ uẩn tạo thành con người.



✿✿✿



Hỏi: Con người không còn tái sanh luân hồi thì con người về đâu?

Đáp: Đã không còn tái sanh luân hồi mà còn hỏi sanh về đâu là sao? Câu hỏi như vậy là câu hỏi không đúng chỗ?



Con người hết dâm dục thì sinh nơi chỗ không dâm dục. Chỗ không dâm dục là chỗ nào? Chỗ tâm không dâm dục là chỗ tâm thanh thản, an lạc và vô sự, mà hiện giờ không gian, vũ trụ, vạn vật và mọi người ai cũng có.



✿✿✿



Hỏi: Từ con người không dâm dục thành raThánh nhân. Thánh thì không còn sanh tử luân hồi. Vậy khi bỏ thân này Thánh nhân ở đâu?

Đáp: Một Thánh nhân khi còn sống cũng như lúc bỏ thân tứ đại, họ đều ở trong trạng thái ly dục, ly ác pháp. Ở trong trạng thái ly dục ly ác pháp thì không còn tái sinh luân hồi. Đó là “nơi” mà những bậc Thánh nhân đến và ở đó, khi còn sống cũng như lúc đã chết. Cho nên họ không đến, không đi. Vì thế Thầy xác định, con đường sanh tử luân hồi là con đường “dâm dục”. Ai còn tâm dâm dục là phải còn chịu luật sanh tử luân hồi chi phối. Ai hết tâm dâm dục là chấm dứt sanh tử luân hồi.



Quí phật tử cứ suy ngẫm lại đi rồi hãy tin lời Thầy nói, đừng vội tin lời Thầy. Vì lời nói của Thầy không bắt buộc ai tin cả. Bởi vì ai còn đắm chìm trong dục lạc thế gian là phải chịu quy luật sinh tử luân hồi. Còn chịu quy luật sinh tử luân hồi là phải chịu nhiều khổ đau, phải không quí phật tử?



(Trích từ Những Chặng Đường Tu Học Của Người Cư Sĩ – Giới Cấm Dâm Dục, trang 148)