Tuesday, 9 April 2013

TÂM GIẢI THOÁT

Dựa vào bài "Món ăn giải thoát" của thầy Thích Thông Lạc giảng, chúng ta đã xác định được tâm giải thoát của đạo Phật là "tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự".

Cái quan trọng là làm sao giữ gìn, bảo vệ và hộ trì chân lý này suốt cuộc đời, bởi vì chính tâm này là tâm Niết Bàn.

Qua những bài giảng cuối đời của thầy Thích Thông Lạc, thầy luôn luôn nhấn mạnh cho chúng ta thấy đạo Phật là đạo trí tuệ, trí tuệ đó là do chúng ta tự triển khai sự hiểu biết đúng với đường lối của Tứ Diệu Đế, lý nhân quả, lý vô thường, lý vô ngã, quán thân bất tịnh, thức ăn bất tịnh, ... để từ đó đứng trước mọi việc xảy ra trong cuộc sống, tâm chúng ta không  bị lo lắng, phiền não, sợ hãi, sân giận và đau khổ, tâm luôn giữ được bất động thanh thản an lạc và vô sự.

Lời thầy Thích Thông Lạc dạy: "Trí tuệ là sự hiểu biết và tư duy đều giống nhau cả. Nhưng sự tư duy suy nghĩ một điều gì mà do lòng ham muốn và nghiệp tham, sân, si thúc đẩy thì đó gọi là trí tuệ thế gian; còn sự tư duy, suy nghĩ đó mà đi ngược lại với lòng ham muốn và nghiệp tham, sân, si thì đó là trí tuệ giải thoát, còn gọi là tri kiến giải thoát."

Nếu không triển khai tri kiến hiểu biết về Tứ Diệu Đế, nhân quả, vô thường, lý vô ngã, quán bất tịnh, ... thì tâm sẽ bị lo lắng, buồn phiền, sợ hãi, sân giận và đau khổ. Do vậy việc triển khai tri kiến rất rất là quan trọng. Không có tri kiến giải thoát này thì chúng ta tu hành sẽ bị rơi vào ức chế tâm, không xả tâm được, chỉ dồn nén, chịu đựng mà thôi.

Tại sao nói rằng tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự là tâm giải thoát?

Chúng ta hãy thử giải thích từng cụm từ một.

  1.     Bất động là không dao động trước bất kỳ một pháp nào nữa nghĩa là tâm không dao động trước các dục, ác pháp và các cảm thọ. Không bị chúng lôi kéo, cám dỗ, xúi dục, trước các cảm thọ đau nhức tâm không lo lắng, sợ hãi, phiền não, sân giận và đau khổ.
  2.     Thanh thản là tâm không còn lo lắng, buồn phiền, sợ hãi, sân giận và đau khổ.
  3.     An lạc là nói về thân được khinh an, an lạc không bị một bệnh tật đau nhức nào.
  4.     Vô sự là nói về sự buông xả hoàn toàn, không còn dính mắc vào thứ gì trên đời, tất cả đều buông xuống, không còn lo lắng, buồn phiền, sợ hãi và đau khổ nữa.

Do đó tâm bất động, thanh thản an lạc và vô sự là tâm giải thoát, là tâm chứng đạo, là tâm niết bàn.

Khi biết được trạng thái tâm giải thoát này chúng ta hãy luôn giữ gìn,bảo vệ và hộ trì chúng bằng phương pháp "Như Lý Tác Ý" và bằng Tứ Niệm Xứ. Như Lý ở đây là như lý của sự giải thoát, như lý của sự giải thoát là "tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự", đó là chân lý thứ ba trong Tứ Diệu Đế - diệt đế. Tác ý là thầm tác ý hoặc hướng tâm đến lý giải thoát này. Khi chúng ta thường xuyên tu tập pháp NHƯ LÝ TÁC Ý thì tâm của chúng ta ở trong trạng thái CHÁNH NIỆM TỈNH GIÁC.


Trước mọi việc xảy ra trong cuộc sống, chúng ta phải mạnh dạn vượt qua, không để bị đắm nhiễm, nhiễm ô vào dục và ác pháp, không để cho chúng lôi kéo, cám dỗ và xúi dục chúng ta, bằng câu tác ý: "tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự."

Ví dụ: khi đứng trước nữ sắc hoặc nam sắc, chúng ta triển khai tri kiến, thân họ là bất tịnh, là thân hôi thúi, uế trược, là nguyên nhân của sanh tử luân hồi,...Sau đó ta tác ý trong đầu: "tâm phải bất động thanh thản an lạc và vô sự, không được dính mắc vào, dính mắc là đau khổ muôn ngàn kiếp".

- Khi bị chửi mắng, la hét, ta triển khai tri kiến rằng: người đó đang nóng giận, họ đang đau khổ, hãy yêu thương họ, hoặc ta quán nhân quả thấy việc họ la mắng ta là do ta đã gieo nhân xấu trong quá khứ, nay phải chịu quả báo như vậy, ta thấy lỗi là do mình trước, nên im lặng hoặc nhận lỗi để giúp cho cơn sân giận của họ được giảm xuống, sau đó thầm nhắc: "tâm phải bất động thanh thản an lạc và vô sự, không được sân giận, hãy yêu thương họ".

- Khi tâm khởi lên muốn ăn uống phi thời, ta triển khai tri kiến về thức ăn là bất tịnh, ăn vào rồi thì chúng đã thành phân, thành những thứ chua hôi, có nhổ ra cũng không ai dám ăn. Chúng ta ăn để mà sống, sống để tu, nhất quyết không ăn uống phi thời, ăn uống linh tinh, chạy theo tâm tham dục ăn uống, do vậy ta thầm nhắc "tâm phải bất động thanh thản an lạc và vô sự, tâm không được tham ăn, tâm tham ăn cút đi."


- Khi thân bị bệnh đau nhức, chúng ta triển khai tri kiến rằng: bệnh là do nhân quả, là vô thường, thay đổi, đến rồi đi, có gì đâu mà sợ, trước sau gì mày cũng biến mất. Rồi thầm nhắc "tâm phải bất động thanh thản an lạc và vô sự, mặc kệ nó, không cần lo lắng, sợ hãi gì cả". Dù cho bệnh có đau nhức cỡ nào, sưng to, chảy nước mắt, đau như kim châm, dù cơn đau như ai cắt ruột, như ai banh da, xẻ thịt cũng chẳng hề dao động, phải bình tĩnh sáng suốt, không sợ, chỉ cần bền chí, kiên trì, dũng mãnh giữ tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự là sẽ vượt qua, làm chủ nhân quả.

Rõ ràng nhờ triển khai tri kiến giải thoát thì tâm chúng ta mới bảo vệ và giữ gìn được chân lý giải thoát là tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự. Nếu không triển khai tri kiến giải thoát mà chỉ tác ý câu "tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự" thì đó cũng là ức chế tâm. Do vậy sự xả tâm của đạo Phật chính nhờ vào triển khai tri kiến, sự hiểu biết như thật tất cả các pháp đều là nhân quả, đều vô thường, đều không có gì là ta, là của ta, là bản ngã của ta, đều khổ,...Chính vì vậy đạo Phật gọi là đạo trí tuệ.

Sự giải thoát của đạo Phật rất rõ ràng, ai sống đúng đạo đức không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sinh là CHỨNG ĐẠO. Sự chứng đạo của Phật giáo không có khó khăn, không có mệt nhọc chỉ cần chịu khó học tập đạo đức nhân bản – nhân quả, để có tri kiến giải thoát thì tâm sẽ luôn luôn ở trạng thái giải thoát, trạng thái tâm giải thoát gọi là Chứng Đạo. Lời thầy Thích Thông Lạc dạy: "Học đạo đức là học xả tâm; là học làm người không bao giờ bị ràng buộc bởi những ác pháp; là học làm người mà ra khỏi bản chất tham, sân, si, mạn, nghi của con người.
Nhờ học được đạo đức mà tham, sân, si, mạn, nghi không còn tác động vào tâm, do vậy tâm luôn bất động thanh thản an lạc và vô sự.

Qua đó ta thấy những lời khuyên của thầy Thích Thông Lạc trong các bài giảng cuối đời rất là quan trọng và hữu ích, chúng giúp cho chúng ta đi đúng đường, tu hành không còn bị ức chế nữa. Khi tu đúng đường thì tu đến đâu, xả đến đâu, thấy rõ sự giải thoát đến đó. Từng phút từng giây làm chủ tâm mình, biết rõ tâm mình đang giải thoát, vì hiểu rõ nó đang bất động thanh thản an lạc và vô sự. Chỉ cần ngày ngày giữ gìn và bảo vệ và hộ trì tâm giải thoát này thì tâm ta đã tương ưng với Phật, với Thầy, vì nó chính là tâm Niết Bàn rồi.


Tri kiến giải thoát rất quan trọng, dù cho chúng ta có biết rõ đường lối tu tập của đạo Phật mà không có tri kiến giải thoát thì có tu ngàn năm cũng không giải thoát. Tri kiến giải thoát phải được trau dồi, quán đi quán lại thường xuyên, quán càng sâu, càng nhiều cách thì mới thấm nhuần xả được những dính mắc, những ham muốn, ác pháp và các cảm thọ. Nếu chỉ quán sơ sơ, nghĩ là mình đã thông suốt thì chưa chắc đã xả tâm được. Do vậy, tri kiến giải thoát rất rất quan trọng cho việc xả tâm. Xả tâm được hay không chính là nhờ vào tri kiến giải thoát.


Giữ gìn, bảo vệ và hộ trì tâm giải thoát, không phải là ngồi nhìn vào nó, thích trạng thái đó. Nhìn vào nó là sai. Hãy sống bình thường, để tâm tự nhiên, hiểu rõ khi tâm không còn phóng dật, không còn dính mắc vào bất kỳ pháp gì, nó im lặng sáng suốt thì đó là tâm đang bất động thanh thản an lạc và vô sự. Biết như vậy là đủ, không cần phải tìm nó, cố giữ nó không cho mất, ngồi nhìn nó sợ nó mất. Chỉ cần sống bình thường tự nhiên như người vô sự.


Sau một thời gian học tập, đã quán xét và trau dồi tri kiến giải thoát nhiều lần và sâu, chúng ta sẽ nhận ra đến một lúc nào đó, những tri kiến về các pháp thế gian là nhân quả, là vô thường, là không có gì là ta, là của ta, là bản ngã của ta, là bất tịnh, là khổ,...đã thấm nhuần, đã nhuần nhuyễn, đã hiểu rõ như thật, đời sống đã buông xả sạch, thì không cần quán vô lậu nữa. Lúc đó, khi có bất kỳ niệm dục, ác pháp hay cảm thọ khởi ra thì tâm tự hiểu rõ chúng như thật và thầm hướng tâm đến chân lý giải thoát "tâm bất động, thanh thản an lạc và vô sự.". Không cần quán và nhắc dài dòng như xưa nữa. 

Mỗi khi có niệm khởi lên, chỉ cần thầm hướng tâm vào chân lý giải thoát là đủ. Từ đó ta sẽ nhận thấy và hiểu rõ ta đang giữ gìn, bảo vệ và hộ trì chân lý giải thoát "tâm bất động, thanh thản an lạc và vô sự." suốt ngày, suốt đêm, ngày này qua ngày nọ, sống với tâm giải thoát Niết Bàn.



Điều quan trọng ở đây là phải hiểu rõ tâm bất động thanh thản an lạc là gì. Kẻo không chúng ta hiểu sai thì tu hành không mang lại kết quả gì mà lại lạc vào thiền ức chế tâm, lạc vào các trạng thái tưởng, trở nên điên khùng rồi nói rằng pháp tu này không đúng, không mang lại sự giải thoát.

Tâm bất động không phải là tâm không vọng tưởng, không phải là tâm không niệm thiện niệm ác.

Tâm bất động là tâm vẫn có niệm, chỉ có niệm thiện không có niệm ác; chỉ có niệm ly tham sân si mạn nghi, không có niệm tham sân si mạn nghi; chỉ có niệm sống không làm khổ mình, khổ người và khổ chúng sinh khác; không có niệm sống làm khổ mình, khổ người và khổ chúng sinh khác; là tâm ly dục ly ác pháp, không có niệm dục và ác pháp; là tâm ngăn ác diệt ác pháp, sanh thiện tăng trưởng thiện; là tâm biết rõ mọi vật xung quanh nhưng không dính mắc, chứ không phải tâm lờ mờ, lim dim, không biết rõ mọi vật xung quanh (ý thức đã bị chìm, bị mất, ý thức bị mất là tu sai, là đã bị lọt vào tưởng); là tâm không sợ hãi lo lắng buồn khổ trước mọi cảm thọ bệnh tật, đau nhức, ngứa ngáy,...; là tâm không dính mắc, không bám, không nhìn vào bất kỳ cảm thọ nào dù là các trạng thái khinh an hỷ lạc nào của thân tâm hoặc trạng thái bất động, yên lặng, thanh tịnh của tâm...; là tâm có chánh tư duy tìm đạo lý có những công đức gì thì nên che giấu, không được phô bày, nhưng có lỗi lầm nào thì nên phát lồ sám hối,... Tâm bất động chính là tâm không phóng dật. Tâm không phóng dật chính là tâm bất động.


Mời các bạn đọc bài
1- "Không Dính Mắc"
2- "Diệt Ngã Xả Tâm"
3- "Chứng Đạo"

4- Chứng đạo là chứng cái gì.
5- Chứng đạo là chứng ở đâu? ở chổ nào?