Thursday, 31 May 2012

ÂM DƯƠNG


Hỏi: - Khái niệm “Âm, Dương” của lý thuyết cổ truyền Trung Quốc, Hiểu như thế nào cho đúng Phật pháp?

Đáp: Muốn hiểu Phật giáo về lý thuyết “Âm Dương” tức là muốn hiểu “Văn Minh” Ấn Độ theo nền “Văn Minh” Trung Quốc.

Âm Dương chỉ là hai cực của nhân quả. Hai cực này hoạt động theo qui luật nhân quả tạo duyên hợp thành, mới có sinh ra vạn vật nên gọi là vạn vật sinh sôi, nảy nở. Cũng theo qui luật này hoạt động tạo ra duyên tan nên vạn vật phải chịu luật vô thường, biến đổi, tan rã và hoại diệt, nên gọi là vạn vật chết.

Nói lý thuyết ÂM, DƯƠNG là nói có vẻ văn học, chứ danh từ bình dân thì chỉ gọi là GIỐNG CÁI, GIỐNG ĐỰC mà thôi. Còn Phật giáo thì gọi là DUYÊN HỢP NHÂN QUẢ TỨ ĐẠI ÂM và DUYÊN HỢP NHÂN QUẢ TỨ ĐẠI DƯƠNG, chứ bản chất ÂM, DƯƠNG không có một nguyên tố đơn độc được, mà ÂM hay DƯƠNG là một hợp chất.

Ví dụ: người phụ nữ thuộc về ÂM nhưng muốn tạo thành thân người phụ nữ thì phải do TỨ ĐẠI ÂM hợp lại mà thành. Người nam thuộc về DƯƠNG nhưng muốn tạo thành thân người nam thì phải do TỨ ĐẠI DƯƠNG hợp lại mà thành.

Do ÂM, DƯƠNG mà có con đường sinh tử luân hồi, vì thế đạo Phật biết rất rõ nên quyết tâm tu tập làm chủ luật ÂM, DƯƠNG để diệt trừ con đường sinh tử luân hồi.

Người ta gọi KHÍ ÂM, KHÍ DƯƠNG nhưng KHÍ cũng là một hợp chất mới thành KHÍ

Văn minh Trung Quốc chỉ biết ÂM, DƯƠNG mà không biết ÂM, DƯƠNG là một hợp chất. Do không biết ÂM, DƯƠNG là một hợp chất, nên nền văn minh Trung Quốc không xác định đúng nghĩa và cũng chẳng biết ÂM DƯƠNG từ đâu sinh ra. Các nhà hiền triết Trung Quốc chỉ loanh quanh trong tưởng tri ÂM, DƯƠNG, NGŨ HÀNH nên xây dựng một nền văn hóa mang tính chất mê tín, mơ hồ, trừu tượng, ảo giác, dị đoan, lạc hậu v.v… Còn văn minh Ấn Độ do Phật giáo thì biết rất rõ ÂM, DƯƠNG từ NHÂN QUẢ sinh ra. Bởi NHÂN QUẢ là một qui luật điều hành tất cả vạn vật trong vũ trụ, cho nên thuyết ÂM, DƯƠNG cũng nằm trong qui luật của NHÂN QUẢ mà có.

ÂM, DƯƠNG theo văn minh Trung Quốc thì xây dựng nền văn hóa mê tín, lạc hậu, hoang đường.

ÂM, DƯƠNG theo văn minh Ấn Độ do Phật giáo thì xây dựng nền văn hóa đạo đức nhân bản – nhân quả sống không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sinh.

Đấy là hai nền văn minh cũng lấy thuyết ÂM, DƯƠNG nhưng vì sự hiểu biết khác nhau nên xây dựng hai nền văn hóa cũng khác nhau.

Một bên là nền văn hóa Phật giáo Ấn Độ dạy con người đạo đức nhân bản – nhân quả sống không làm khổ mình khổ người và tất cả chúng sinh, nên làm lợi ích cho loài người.

Còn một bên là nền văn hóa Khổng, Lão Trung Quốc dạy con người sống trong Tam Cang, Ngũ Thường tạo thành những giai cấp xã hội phong kiến, theo luật âm dương ngũ hành nên trở thành những nếp sống mê tín, dị đoan, lạc hậu v.v… làm tai hại cho loài người rất lớn. Vì thế Lão, Trang yếm thế, tiêu cực bỏ đời tìm đạo VÔ VI.

2- Người ta thường nói “Âm Dương đồng nhất lý”, nghĩa là “Trần sao Âm vậy”. Vậy chúng con phải hiểu sao? Khi thầy dạy không có linh hồn.

Đáp: Từ xưa đến nay, loài người truyền nhau sự hiểu biết mù quáng, mê tín, dị đoan, lạc hậu, thiếu thực tế, không khoa học v.v… nên không chứng minh được những hiện tương siêu hình. Vì thế, con người tưởng ra mới xây một thế giới siêu hình mà mọi người gọi là cõi ÂM.

“ÂM DƯƠNG đồng nhất lý”. Nhưng ÂM DƯƠNG làm sao đồng nhất lý được? Người đàn ông là người đàn ông làm sao là ngươi đàn bà được. Ngược lại người đàn bà là người đàn bà làm sao là đàn ông được. Cho nên nghĩa đồng nhất lý là không đúng. Chỉ có ÂM DƯƠNG hợp nhau thì mới sinh ra vật thứ ba, chứ hai cái là một thì không đúng. Đừng hiểu theo tưởng giải của các nhà hiền triết xưa: DƯƠNG là TRẦN CẢNH, còn ÂM là ÂM CẢNH. TRẦN CẢNH tức là DƯƠNG CẢNH, nó có nghĩa là sự sống của con người ở cõi TRẦN GIAN, còn ÂM CẢNH là sự sống của linh hồn nơi cõi ÂM PHỦ. Đó là một quan niệm hết sức sai lầm của nền văn minh Trung Quốc. Cho nên chỉ nền văn minh Ấn Độ có Phật giáo mới giải quyết vấn đề tư tưởng mê tín, dị đoan, lạc hậu này.

Theo Phật giáo thì không có ÂM CẢNH mà chỉ có sự sống của con người ở trần gian. Sự sống của một người ở trần gian, gồm có DƯƠNG CẢNH và ÂM CẢNH. DƯƠNG CẢNH là Ý THỨC, Còn ÂM CẢNH là TƯỞNG THỨC. Bởi vậy trong một con người còn sống là phải có đủ ÂM, DƯƠNG. Vì thế, đức Phật dạy: “Thân con người sống gồm có năm uẩn hoạt động, nhưng khi con người chết thì năm uẩn hoại diệt không còn sót một uẩn nào cả. Năm uẩn này gồm có: Sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn.

Từ xưa đến nay người ta đã lầm tưởng SẮC UẨN là TRẦN CẢNH và TƯỞNG UẨN là ÂM CẢNH, nhưng SẮC UẨN và TƯỞNG UẨN là hai UẨN trong thân NGŨ UẨN của Phật giáo chứ đâu có hai cảnh: ÂM CẢNH và DƯƠNG CẢNH. ÂM CẢNH và DƯƠNG CẢNH chỉ là một thân con người. Vì thế khi thân người hoại diệt thì DƯƠNG CẢNH và ÂM CẢNH cũng không còn. Do sự hiểu biết của Phật giáo như vậy nên chỉ có thế giới duyên hợp hữu hình, chứ không bao giờ có thế giới linh hồn siêu hình.

ÂM, DƯƠNG của Phật giáo là lộ trình duyên hợp tái sinh luân hồi, cho nên người tu sĩ của Phật giáo là phải vượt ra khỏi con đường này, vì tâm người tu hành là phải diệt trừ tâm SẮC DỤC, vì còn tâm sắc dục là còn. Còn bị chi phối trong qui luật nhân quả ÂM, DƯƠNG thì còn tiếp tục tái sinh luân hồi.

Hỏi: Sắc uẩn của Phật giáo có bốn chất cơ bản: ĐẤT, NƯỚC, GIÓ, LỬA mà ở các sách cổ truyền phương Đông nhất là Trung Quốc nói có năm chất cơ bản: KIM, MỘC, THỦY, HỎA, THỔ. Vậy chúng con phải hiểu nó như thế nào?

Đáp: Văn minh Ấn Độ xác định một thân con người của Phật giáo là phải hợp lại đầy đủ bốn chất: ĐẤT, NƯỚC, GIO, LỬA. Trong ĐẤT gồm có: cỏ, cây, sắt, đá, sỏi, cát v.v…gọi là ĐẤT. Trong NƯỚC gồm có chất ướt, mềm, trơn, chảy v.v…gọi là NƯỚC. Trong GIÓ gồm có các chất: hơi, khí, bay, thổi v.v…gọi là GIÓ. Trong LỬA gồm có các chất, ấm, nóng, đốt cháy v.v… gọi là LỬA. Trong bốn chất này có đầy đủ KIM, MỘC, THỦY, HỎA, THỔ. Cho nên TỨ ĐẠI của Phật giáo thuộc nền văn minh Ấn Độ, nó mang đầy đủ bốn chất, không thiếu một chất nào cả.

Còn nền văn minh Đông phương Trung Quốc đưa ra NGŨ HÀNH để xác định thân người có năm chất: KIM, MỘC, THỦY, HỎA, THỔ nhưng NGŨ HÀNH không đủ để tạo ra thân người vì còn thiếu chất khí (GIÓ). NGŨ HÀNH tuy nói năm chất nhưng kỳ thực chỉ có ba chất: KIM, MỘC và THỔ. KIM, MỘC và THỔ chỉ là một chất ĐẤT. Các nhà hiền triết Đông phương Trung Quốc không hiểu nên chia ĐẤT làm ba chất KIM, MỘC, THỔ. Đó là cái hiều sai của nền văn minh này. Còn hai chất THỦY và HỎA, đó là NƯỚC và LỬA. Cho nên nền văn minh ÂM, DƯƠNG, NGŨ HÀNH của Đông phương Trung Quốc cho thân người có ba chất ĐẤT, NƯỚC, LỬA là không đúng, vì trong thân người còn có một chất nữa, đó là GIÓ. Một cái hiểu sai lầm của Văn minh Trung Quốc đã biến nền văn hóa của họ mê tín dị đoan lạc hậu gây tai hại cho loài người rất lớn. Nếu không có nền văn minh Phật giáo Ấn Độ thì ngàn đời người ta không thấy cái sai này.

Nếu đem văn minh Đông phương Trung Quốc so sánh với văn minh Ấn Độ thì văn minh Trung Quốc thiếu thực tế, không cụ thể, không khoa học, vì thế đối với văn minh Ấn Độ nó còn kém xa. Văn minh Đông phương Trung Quốc chỉ là một triết thuyết ÂM DƯƠNG, NGŨ HÀNH để tạo ra những thế giới ảo tưởng, siêu hình như: thiên đàng, địa ngục, linh hồn, chứ không phải là chân lí của loài người. Cho nên văn minh Trung Quốc là một nền văn hóa mê tín, dị đoan, lạc hậu v.v…

Hỏi: Kết hợp cả ÂM DƯƠNG và NGŨ HÀNH này vào trong cuộc sống con người VN không phải là ít, nó đã ăn sâu vào nếp nghĩ suy tư của người phương Đông từ việc nhỏ đến việc lớn nhất: Cúng bái, cầu khấn, chiêm tinh, số tử vi, xem tướng, xem bói, xem ngày xây cất nhà mới, xem ngày dựng vợ gả chồng v.v…và v.v…tức là thuyết ÂM DƯƠNG và NGŨ HÀNH đã ảnh hưởng đến nhiều lãnh vực cuộc sống của con người phương Đông.

Đáp: Như chúng ta ai cũng biết: “Một sự văn minh mà không đúng chân lí của con người là một tai hại rất lớn cho loài người, nó không bao giờ mang lại sự bình an và hạnh phúc cho con người mà nó còn đem cho con người hao tốn công sức và tiền của rất lớn trong việc mê tín dị đoan (như xem bói, xem ngày giờ tốt xấu, cúng bái cầu siêu, cần an, cúng sao, giải hạn, trừ linh, trừ thần, làm tuần, làm tự…). Chính những nền văn minh sai lạc này mà cuộc sống của con người thường xảy ra những xung đột và chiến tranh, Vì thế cả một thế giới trên hành tinh không được bình an. 


(Thầy Thích Thông Lạc trả lời ngày 19-01-2009) 

Mời các bạn đọc tiếp các bài khác về nhân quả tại đây.

TÂM THIỀN ĐỊNH



Định trong nhà Phật có được là do tâm ly dục ly ác pháp, tâm ly dục ly ác pháp chính là tâm Định. Trạng thái này gọi là tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự. Định của đức Phật Thích Ca dạy không phải do ngồi thiền mà có, mà do tâm ly dục ly ác pháp.

Định do ngồi thiền mà có là Định của những trường dạy thiền, không phải định của đạo Phật.  Định đó là định tưởng, định tưởng này sanh ra tuệ, là trí tuệ thế gian vẫn còn thiện ác lẫn lộn, vẫn còn lòng ham muốn, sân, si, mạn nghi đầy đủ, đó không phải trí tuệ của những bậc thánh đã ly dục ly ác pháp.

Muốn ly dục ly ác pháp thì nên tu tập các pháp môn sau: Tứ Chánh Cần, Bát Chánh Đạo, ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi, quán vô thường, quán vô ngã, quán thân bất tịnh, quán thức ăn bất tịnh, quán tưởng về chết, quán tưởng không hỷ lạc đối với tất cả thế giới, quán tưởng các hài cốt, quán tưởng bị trùng bọ ăn, quán tưởng bị xanh bầm,quán tưởng bị đầy những lỗ hổng, quán tưởng bị sưng phồng lên, ... Quán từ bi hỷ xả,…Tu tập Định niệm hơi thở,… Nói chung gọi là tu tập Thân Hành Niệm. (Kinh Tăng Chi Bộ, phẩm 20-21 Phẩm Thiền Định)

Mời các bạn xem tiếp bài “TRÍ TUỆ THẾ GIAN CÓ PHẢI LÀ TRI KIẾN GIẢI THOÁT HAY KHÔNG ?”

Wednesday, 30 May 2012

KHÔNG CHỐNG ĐỐI VA CHẠM


Hỏi: Kính thưa Thầy, câu “không chống đối va chạm”, va chạm là như thế nào? Nếu sống riêng một mình, không tiếp xúc, không va chạm thì tu hành có được không?
Trong cảnh động muốn tránh va chạm thì phải sống như thế nào? Có phải giữ gìn thân, khẩu, ý hay không?

Đáp:Không chống đối va chạm” không có nghĩa là sống một mình.
Không chống đối tức là nhẫn nhục; không va chạm tức là tùy thuận.
Sống chung đụng với nhau biết nhẫn nhục, tùy thuận là sống không chống đối va chạm.
Giữ gìn thân, khẩu, ý tức là tu tập hạnh nhẫn nhục, tùy thuận và bằng lòng.

Nếu sống riêng một mình không chống đối không va chạm với ai thì tu hành dễ dàng không khó, nhưng phải hiểu rõ các pháp tu và còn phải biết cách tu tập cho đúng pháp, chỉ cần tu sai một tí là lọt vào thiền ức chế tâm rất là nguy hiểm, hoặc sống không đúng cách cũng có thể rơi vào sự ức chế tâm.

Cho nên sự tu hành có va chạm, có chống đối thì ít bị ức chế tâm. Tại sao vậy?

Tại vì có đối tượng nên thấy được tâm mình còn tức giận hay hết tức giận rõ ràng. Nếu thấy được tâm mình còn phiền não giận hờn hay tức tối thì cố gắng xả ly đẩy lui các chướng ngại pháp đó để tâm được thanh thản, an lạc, còn nếu không đẩy lui  các chướng ngại pháp đó mà cứ để trong tâm ôm ấp, đó chỉ là những người chưa biết cách tu, người chưa học đạo đức làm người, người còn vô minh, ngu si, dại dột cứ để ôm ấp sự đau khổ đó trong lòng, người không trí tuệ thường sống ngược lại với người biết tu, người có trí tuệ đạo đức nhân bản nhân quả, họ chẳng ngu gì mà để ôm ấp sự đau khổ trong tâm như vậy, họ luôn luôn sáng suốt và nhất định dù một giây một phút cũng không để ác pháp trong tâm.

Trong cảnh động muốn tránh va chạm thì phải sống phòng hộ khẩu hành, nghĩa là phải giữ gìn miệng lưỡi, không được nói chuyện phiếm, chuyện tào lao, chuyện người khác, không có ý kiến trong tất cả mọi việc, ai làm gì mặc họ, mình chỉ biết giữ gìn tâm và ý của mình lúc nào cũng thanh thản, an lạc, vô sự, ngoài chuyện thanh thản, an lạc của tâm, nhất định mình không để ý chuyện gì khác như lời Đức Phật đã dạy: “Chuyện mình, mình biết chuyện người, người hay”. Biết chuyện người thì tâm bất an tức là tâm phóng dật, biết chuyện mình là để xả tâm ly dục ly ác pháp, ly dục ly ác pháp là tâm thanh thản, an lạc, đó là một trạng thái tâm giải thoát không còn khổ đau tức là tâm không phóng dật, tâm không phóng dật tức là tâm thiền định.

Người tu hành mà sống đúng cách, biết phòng hộ sáu căn, giữ gìn tâm ý không tham dự vào chuyện của ai cả thì người ấy sống độc cư trọn vẹn. Sống độc cư mà không ức chế tâm đó là đời sống của con tê ngưu một sừng. Suốt ngày gặp mọi người mà không ai tác động được vào tâm tư của mình đó là sống độc cư. Có nhiều người hiểu độc cư là trốn tránh né mọi người, riêng ở trong cảnh một mình không dám gặp ai hết như lúc Đức Phật tu tập hạnh độc cư của ngoại đạo. Ngài ở trong một khu rừng hoang vắng hễ thấy bóng dáng có người là Ngài trốn chạy chưa từng để cho ai gặp mình cả, đó là độc cư ức chế tâm.

Tóm lại, sống chung với mọi người nhưng không nói chuyện với ai cả, ai hỏi thì trả lời, không hỏi thì không kiếm chuyện nói, sống mà cứ lo giữ gìn tâm mình thanh thản, an lạc và vô sự, đó là độc cư, độc bộ, độc hành, đó là im lặng như Thánh. Suốt ngày sống với mọi người mà chỉ có một mình, sống như vậy không bao giờ có va chạm, đó là sống phòng hộ sáu căn giữ gìn tâm ý. Người sống được như vậy thì sự tu hành không bao lâu sẽ thành đạt, nghĩa là người ấy sẽ đạt được Thiền Định và Tam Minh một cách dễ dàng không mấy khó khăn và mệt nhọc.

Bởi vậy, người biết sống độc cư như vậy là người tu đúng pháp, không bao giờ sợ sai pháp. Sống độc cư được như vậy tức là đã biết ôm pháp tu hành, lúc nào cũng không lìa pháp, vì thế tâm hồn họ thanh thản, an lạc và vô sự, đó là một trạng thái giải thoát của người tu theo Đạo Phật.

TRÍ TUỆ


Hỏi: Kính thưa Thầy, khi tu Định Vô Lậu tri kiến giải thoát phóng ra đó có phải là trí tuệ không?

Đáp: Tu tập Định Vô Lậu giúp cho sự hiểu biết thông suốt bản chất thực  của  các pháp thế gian và xuất thế gian, để không hiểu sai lệch, không đúng lý, không bị lầm chấp. Do sự hiểu biết các pháp không lệch lạc thấy đúng, biết đúng như thật, để tâm không bị lầm chấp dính mắc nên gọi là trí tuệ tri kiến giải thoát. Hiểu biết đúng các pháp như thật, tâm không dính mắc, lầm chấp nên không còn phiền não đau khổ, giận hờn, bất toại nguyện gọi là giải thoát.

Người chưa tu Định Vô Lậu là chưa có trí tuệ giải thoát, trí tuệ giải thoát gọi đúng nghĩa của nó là tri kiến giải thoát.

Vô lậu là không còn đau khổ, trí tuệ hiểu biết không còn đau khổ là trí tuệ vô lậu, trí tuệ vô lậu mới bắt đầu tu tập là tri kiến giải thoát, gọi trí tuệ ở đây không đúng nghĩa lắm. Vì theo Đạo Phật xác định Giới sanh Định; Định sanh Tuệ nhưng chúng ta mới tu tập  giới chưa thanh tịnh thì làm sao có định mà định chưa có thì làm sao có tuệ mà gọi là tuệ được. Phải không con?.

Người tu hành muốn có được tri kiến giải thoát này, thì không phải tự trên trời rơi xuống mà chính mình phải biết ngăn ác diệt ác pháp, phải biết lìa lòng ham muốn.

Biết ngăn ác diệt ác pháp chia ra làm tám phần:
1-      Phòng ngừa các ác pháp bên ngoài tức là tránh duyên cảnh bên ngoài (độc cư).
2-      Phòng hộ sáu căn tức là giữ gìn mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý không cho dính mắc sáu trần: sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp.( độc cư)
3-      Ngăn ngừa không cho việc ác sanh khởi trong tâm như thường tu các định thực hiện về thân hành niệm.
4-      Dùng pháp Hướng Tâm - Như Lý Tác Ý để tạo thành nội lực tỉnh thức, buông xả.
5-      Diệt các pháp ác đã sanh bằng Định Vô Lậu.
6-      Diệt các pháp ác bằng quán xét nhân quả.
7-      Diệt các ác pháp bằng tâm từ, bi, hỷ, xả.
8-      Diệt các ác pháp bằng nhẫn nhục, tùy thuận, bằng lòng hoặc trầm lặng, từ khước.

Trong tám pháp tu tập này, thì bốn pháp ngăn ngừa là trên hết. Người ta bảo: “Ngừa bịnh hơn trị bịnh”.

Cho nên, tri kiến giải thoát là tri kiến phòng hộ, tri kiến phòng hộ là đệ nhất, tri kiến phòng hộ tức là giới luật. Phật dạy: “Tri kiến ở đâu là giới luật ở đó. Giới luật ở đâu thì tri kiến ở đo. Giới luật làm thanh tịnh tri kiến, tri kiến làm thanh tịnh giới luật” Đoạn kinh này, tức là Đức Phật nói pháp ngăn ác, nói pháp ngăn ác tức là nói pháp độc cư, pháp độc cư là bí quyết thành công thiền định của Đạo Phật vì nó là pháp ngăn ác tuyệt vời.

Tóm lại, muốn có tri kiến giải thoát thì phải tu tập “Bát Chánh Đạo”: Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định. Đó là con đường dẫn đến tri kiến và trí tuệ giải thoát.

MỤC ĐÍCH CHÁNH NIỆM, TỈNH GIÁC LÀ GÌ ?


Hỏi: Kính bạch Thầy, tu tập Chánh Niệm Tỉnh Giác theo hành động làm việc liên tục từ sáng đến chiều chỉ biết hành động “làm việc tôi biết tôi đang làm việc” không có nghĩ ngợi gì khác hơn, tức là không có tạp niệm xen vào, như vậy có đúng không thưa Thầy ?

Đáp: Tu tập Chánh Niệm Tỉnh Giác như vậy là một sức tỉnh thức kinh hồn, đủ để xả tâm và nhập các định khác một cách dễ dàng.

Chánh Niệm Tỉnh Giác Định tức là tu tập trong Thân Hành Niệm. Nhờ có tu tập Thân Hành Niệm ta mới có tỉnh giác chánh niệm, có tỉnh giác mới ở trong chánh niệm, có chánh niệm thì tâm mới không làm khổ mình khổ người, mới có lợi lớn, an ổn lớn khỏi các khổ ách, đưa đến chứng đắc tri kiến, đưa đến hiện tại lạc trú, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát.

Mục đích chánh niệm tỉnh giác là gồm tất cả các thiện pháp và trí tuệ Tam Minh. Phật dạy: “Này các Thầy Tỳ Kheo, ai tu tập làm cho sung mãn Thân Hành Niệm, cũng bao gồm tất cả thiện pháp gồm những pháp thuộc về Minh phần.” (Tăng Chi Bộ Kinh  Tập 1, trang 88).

Chúng tôi xin xác định cho quý vị được rõ, vì ở trên chỉ nói lướt qua “Chánh niệm Tỉnh Giác và Thân Hành Niệm” còn ở đây là hai danh từ để chỉ cho một hành động tu tập Thân Hành Niệm. Tu tập Thân Hành Niệm là chỉ cho sự tỉnh giác trong hành động của thân phải biết hành động đó rõ ràng cụ thể không được bỏ sót một hành động nào của thân, còn Chánh Niệm Tỉnh Giác thì cũng nghĩa như vậy nhưng nó có từ Chánh Niệm để chỉ rõ hơn, chúng ta thử đặt lại vấn đề, tỉnh giác để làm gì? Để Chánh Niệm, còn Thân Hành Niệm tức là tỉnh giác, vậy tỉnh giác để làm gì ? Tỉnh giác để xả tâm tức là khắc phục tham ưu như trong Tứ Niệm Xứ Đức Phật đã dạy: “Trên thân quán thân tu về hành tướng nội ngoại để khắc phục tham ưu”, Hành tướng nội ngoại của thân không phải là Thân Hành Niệm sao? Còn khắc phục tham ưu không phải là Chánh Niệm sao? cho nên Thân Hành Niệm tức là Chánh Niệm Tỉnh Giác

Ở đây Đức Phật đã xác định Chánh Niệm Tỉnh Giác có nhiều kết quả rất lớn cho sự tu tập để đi đến giải thoát: “Có một pháp, này các Thầy Tỳ Kheo, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, thân được khinh an, tâm được khinh an, tầm tứ được tịnh chỉ, toàn bộ các pháp thuộc về minh phần đi đến tu tập, làm cho viên mãn. Một pháp ấy là gì? Chính là Thân Hành Niệm” (Tăng Chi Bộ Kinh Tập 1, trang 89).

Như trong đoạn Kinh này, mục đích chánh Niệm Tỉnh Giác giúp chúng ta tịnh chỉ tầm tứ, tức là nhập Nhị Thiền.

Chánh Niệm Tỉnh Giác còn đưa chúng ta đến chứng bốn quả Thánh: Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán : “Có một pháp, này các Thầy Tỳ Kheo, được làm cho sung mãn, đưa đến sự chứng ngộ quả Dự Lưu, đưa đến sự chứng ngộ quả Nhất Lai, đưa đến sự chứng ngộ quả Bất Lai, đưa đến sự chứng ngộ quả A La Hán. Một pháp ấy là gì? Chính là Thân Hành Niệm” (Tăng Chi Bộ Kinh  Tập1, trang 90).

Chánh Niệm Tỉnh Giác còn đưa chúng ta đạt đến những trí tuệ vô hạn và siêu việt: “Có một pháp, này các Thầy Tỳ Kheo, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự chứng đắc trí tuệ, đưa đến sự tăng trưởng trí tuệ, đưa đến trí tuệ rộng rãi, đưa đến quảng đại trí tuệ, đưa đến thâm sâu trí tuệ, đưa đến vô song trí tuệ, đưa đến vô hạn trí tuệ, đưa đến nhiều trí tuệ, đưa đến trí tuệ nhanh lẹ, đưa đến trí tuệ nhẹ nhàng, đưa đến trí tuệ hoan hỷ, đưa đến trí tuệ tốc hành, đưa đến trí tuệ sắc sảo, đưa đến trí tuệ thể nhập. Một pháp ấy là gì? Chính là Thân Hành Niệm” (Tăng Chi Bộ Kinh  Tập1, trang 91).

Khi con tu tập tỉnh giác trong hành động suốt ngày đêm như vậy, là con sẽ chứng quả A La Hán, tức là làm chủ sanh, già, bịnh, chết hoàn toàn. Vì sức tỉnh thức khiến tâm con thanh tịnh, không còn một pháp nào làm động tâm con được. Và nội lực thanh tịnh của tâm con tức là lực ly dục ly ác pháp sẽ giúp con thành tựu Thiền định và Tam Minh một cách dễ dàng không mấy khó khăn. Lúc bấy giờ, con chỉ cần hướng tâm là có hiệu quả ngay, con muốn gì được nấy, vì tâm con hiện giờ thuần thục, nhu nhuyến dễ, sử dụng.

Sức tỉnh giác như con đã nói ở trên, là mục đích của Đạo Phật con đã hoàn tất được mục đích đó khi sức tỉnh thức của con được như vậy.

Trên đây, con đã hỏi về pháp Chánh Niệm Tỉnh Giác và con được giảng dạy như vậy con có hiểu chưa? Con có biết, những câu hỏi, mà con hỏi, có một giá trị vô giá không?. Vô giá là ở chỗ học được pháp vô giá của Đạo Phật, thế mà mọi người đọc tới đây, có người vẫn xem thường pháp vô giá. Ôi, thật đáng thương! Nếu từ ngày Thầy giảng trạch pháp này, mà mọi người biết nó là vô giá thì bây giờ biết bao nhiêu người đã chứng quả vô lậu A La Hán. Con có nhớ không, bài giảng này, khởi sự giảng dạy các con vào năm 1979 đến nay là 2004 tức là 25 năm. Phải không con? Bây giờ, nhuận lại đoạn kinh này, nhìn lại sự tu hành của các con, thì Thầy rất đau lòng vì pháp bảo cứu người biển khổ mà mọi người không đủ phước để thọ hưởng, vì thế pháp bảo 25 năm nay, trở thành một vật vô dụng. Ôi, thật là phí uổng. Vật vô giá, mà trao cho người không có mắt, thì cũng như trao đất cát đồ vô dụng cho họ.

(Trích Đường về xứ Phật tập I) 


Để hiểu rõ về pháp môn Thân Hành Niệm và cách tu tập, xin mời các bạn tải quyển sách "Muốn tu chứng đạo phải tu pháp môn nào ?"

TỈNH THỨC LỢI ÍCH GÌ ?



Hỏi: Kính thưa Thầy ! Tu tập sức tỉnh thức có ích lợi như thế nào?

Đáp: Sức tỉnh thức, có lợi ích rất lớn cho đường tu tập như:

1- Có tỉnh thức, mới sáng suốt sống được chánh niệm.
2- Có tỉnh thức, mới ở trong chánh niệm và chánh niệm mới hiện tiền.
3- Có tỉnh thức, mới phá được hôn trầm, thùy miên, vô ký, ngoan không.
4- Có tỉnh thức, mới tịnh chỉ ngôn ngữ.
5- Có tỉnh thức, mới thấy được nhân quả.
6- Có tỉnh thức, mới ly được lòng ham muốn.
7- Có tỉnh thức, mới ly các ác pháp.
8- Có tỉnh thức, mới giữ tứ diệt tầm được.
9- Có tỉnh thức, mới tịnh chỉ tầm tứ.
10- Có tỉnh thức, mới xả được 18 loại hỷ tưởng.
11- Có tỉnh thức, mới xả được mộng tưởng.
12- Có tỉnh thức, mới xả được âm thanh.
13- Có tỉnh thức, mới tịnh chỉ được hơi thở, xả thọ và các hành.
14- Có tỉnh thức, mới tu Tứ Như Ý Túc.
15- Có tỉnh thức, mới hướng tâm đến Tam Minh.

Toàn bộ giáo trình của Đạo Phật, quan trọng nhất, là tập luyện tâm tỉnh thức, có được tâm tỉnh thức mới đạt được Niết Bàn cứu cánh giải thoát.

   Tỉnh thức như thế nào ?.

Người tu tập theo Đạo Phật, lúc mê biết mình mê, là tỉnh thức, lúc tỉnh biết mình tỉnh, là tỉnh thức.
Tâm mình tham, biết tâm mình tham, là tỉnh thức; tâm mình sân, biết tâm mình sân, là tỉnh thức; tâm mình phiền não, biết tâm mình phiền não, là tỉnh thức; tâm mình khởi niệm ác, biết tâm mình khởi niệm ác, là tỉnh thức; tâm mình lo rầu, biết tâm mình lo rầu, là tỉnh thức.
Đi, mình biết mình đi là tỉnh thức.
Ăn, biết mình đang ăn là tỉnh thức. Đó là bước đầu mấu chốt sự tu tập giải thoát  của Đạo Phật.

Tu tập tỉnh thức có nhiều phương cách khác nhau:
1- Định Niệm Hơi Thở, là phương cách tỉnh thức trong hơi thở, để ly tham đoạn diệt khắc phục tham ưu .
2- Định Vô Lậu, là phương cách tỉnh thức trong quán xét suy tư để xả bỏ dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu .
3- Định Sáng Suốt, là phương cách tỉnh thức để phá hôn trầm, thùy miên, vô ký, ngoan không, cơ thể mệt nhọc và căng thẳng.
4- Định Chánh Niệm Tỉnh Giác, là phương cách tỉnh thức trong mọi hành động, để ngăn ác diệt ác pháp .
5- Định Sơ Thiền, là phương cách tỉnh thức ly dục ly ác pháp .
6- Định Diệt Tầm Giữ Tứ, là phương cách tỉnh thức trong tác ý hướng tâm khắc phục tham ưu.
7- Định Diệt Tầm Diệt Tứ, là phương cách tỉnh thức giữ tâm yên lặng, bất động để làm chủ sự vô thường.
8- Định Tam Thiền, là phương cách tỉnh thức vượt qua mọi trạng thái tưởng.
9- Định Ly Hỷ Trú Xả, là phương cách tỉnh thức trong giấc ngủ xả mộng tưởng.
10- Tịnh chỉ âm thanh, là phương cách tỉnh thức giữ tâm vắng lặng.
11- Tịnh chỉ các thọ, là phương cách tỉnh thức giữ tâm vắng lặng vượt qua thọ để tịnh chỉ hơi thở.
12- Tịnh chỉ hơi thở và các hành trong thân, là phương cách tỉnh thức giữ tâm vắng lặng toàn thân tâm bất động.

Những phương pháp trên đây, dùng để tu tập tỉnh thức, sống không làm khổ mình khổ người tức là làm chủ được mình. Đức Phật đã xác định sự tu tập tỉnh thức, có lợi ích rất lớn, trên bước đường giải thoát của Đạo Phật, Ngài dạy: “Có một pháp, này các Thầy Tỳ Kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến cảm hứng lớn, lợi ích lớn, an ổn lớn, khỏi các khổ ách đưa đến chánh niệm tỉnh giác, đưa đến chứng đắc tri kiến, đưa đến hiện tại lạc trú đưa đến chứng ngộ qủa minh và giải thoát.  Một pháp ấy là gì?.

Chính là Thân Hành Niệm. Đây là một pháp, này các Thầy Tỳ Kheo, nếu pháp ấy được tu tập được làm cho sung mãn, đưa đến cảm hứng lớn, lợi ích lớn, an ổn lớn, khỏi các khổ ách đưa đến chánh niệm tỉnh giác, đưa đến chứng đắc tri kiến, đưa đến hiện tại lạc trú đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát” (Tăng Chi Bộ Kinh Tập1, trang 88, bài 2-8) .

Đoạn kinh trên đây, đã xác chứng sự tỉnh thức, là một sự quan trọng rất lớn trên bước đường tu theo Phật Giáo, nó giúp cho chúng ta thành tựu viên mãn giải thoát và làm chủ thân tâm cho nên, Đức Phật đã xác định chỉ có một pháp này. “Có một pháp” tức là không có pháp thứ hai. Do lời dạy này, chúng ta mới biết rõ kinh sách Đại Thừa là kinh sách lừa đảo dối gạt chúng ta và bảo rằng: “Đạo Phật có tám mươi bốn ngàn pháp môn”. Thật là xảo trá, chỉ có các Tổ Bà La Môn mới nói như vậy.

Muốn cho thân tâm được khinh an, tầm tứ được tịnh chỉ, toàn bộ các pháp không còn đắm nhiễm, dính mắc thì chúng ta phải tu tập tỉnh thức.

Để làm sáng tỏ điều này Đức Phật dạy: “Có một pháp, này các Thầy Tỳ Kheo, khi được tu tập được làm cho sung mãn, thân được khinh an, tâm được khinh an, tầm tứ được tịnh chỉ, toàn bộ các pháp thuộc về minh phần đi đến tu tập làm cho viên mãn. Một pháp ấy là gì? Chính là Thân Hành Niệm…” (Tăng Chi Bộ Kinh, Tập1 trang 89). Nếu chúng ta muốn tỉnh giác ngăn ác, diệt ác pháp, thì cũng phải tu tập tỉnh thức trong thân hành niệm. Nhờ có tu tập tỉnh thức trong thân hành niệm, thì thân tâm của chúng ta mới có thanh thản và an lạc: “Có một pháp, này các Thầy Tỳ Kheo, khi được tu tập được làm cho sung mãn, các pháp bất thiện chưa sanh không sanh khởi và các ác pháp đã sanh bị đoạn tận. Một pháp ấy là gì? Chính là Thân Hành Niệm” (Tăng Chi Bộ Kinh Tập1, trang 89, bài 13).

Nếu chúng ta có sức tỉnh giác, để các pháp thiện chưa sanh, được sanh khởi và các pháp thiện đã sanh, được tăng trưởng thì cũng phải tu tập tỉnh thức trong thân hành niệm, thì thân tâm của chúng ta mới có thanh thản, an lạc và giải thoát: “Có một pháp, này các Thầy Tỳ Kheo, khi được tu tập được làm cho sung mãn, các pháp thiện chưa sanh được sanh khởi, các pháp thiện đã sanh được đưa đến tăng trưởng, quảng đại. Một pháp ấy là gì? Chính là Thân Hành Niệm”.

Nếu chúng ta muốn có minh sanh khởi, và vô minh được diệt trừ, ngã mạn được đoạn tận cùng các tùy miên được nhổ sạch và các kiết sử bị đoạn tận, thì phải tu tập tỉnh thức nơi thân hành của chính mình như Đức Phật đã dạy: “Có một pháp, này các Thầy Tỳ Kheo, khi được tu tập được làm cho sung mãn, vô minh được đoạn tận, minh sanh khởi, ngã mạn được đoạn tận, các tùy miên được nhổ sạch, các kiết sử bị đoạn tận. Một pháp ấy là gì? Chính là Thân Hành Niệm…” (Tăng Chi Bộ Kinh Tập1, trang 90, bài 16-21) .

Nếu chúng ta muốn chứng quả Dự Lưu, chứng quả Nhất Lai, chứng quả Bất Lai và chứng quả A La Hán, thì không có một pháp nào khác hơn, là pháp tỉnh thức nơi thân hành niệm của chính chúng ta, nó sẽ giúp chúng ta đạt được như ý nguyện. Phật dạy: “Có một pháp, này các Thầy Tỳ Kheo được tu tập được làm cho sung mãn, đưa đến sự chứng ngộ quả Dự Lưu, đưa đến sự chứng ngộ quả Nhất Lai, đưa đến sự chứng ngộ quả Bất Lai, đưa đến sự chứng ngộ quả A La Hán. Một pháp ấy là gì? Chính là Thân Hành Niệm…” .

Bởi, sự tu tỉnh thức trong thân hành niệm quan trọng như vậy, đối với Đạo Phật nó là một pháp tu tập duy nhất đạt đến cứu cánh giải thoát hoàn toàn, không còn có một pháp thứ hai nào nữa. Thế mà, kinh sách Đại Thừa và Thiền Đông Độ dạy chúng ta tu mọi pháp, nào là Niệm Phật cầu vãng sanh, nào là tụng kinh, trì chú, cúng bái, tế lễ, sám hối lạy hồng danh chư Phật, chư Bồ Tát, hoặc ngồi thiền ức chế tâm bằng những pháp môn Chăn Trâu, Tham Thoại Đầu, Tham Công Án v.v… Nhưng cuối cùng, chẳng có ai thành tựu viên mãn chỉ đem lại một hy vọng ảo huyền.

Đức Phật cũng đã xác định, nếu ai không tu tỉnh thức thân hành niệm, thì chẳng bao giờ làm chủ sanh, già, bệnh,chết: “Những vị này, không hưởng được bất tử, này các Tỳ Kheo, là những vị không thực hiện Thân Hành Niệm. Những vị hưởng được bất tử, này các Thầy Tỳ Kheo, là những vị thực hiện Thân Hành Niệm” (Tăng Chi Bộ Kinh Tập1, trang 91, bài số 47-48).

Xem thế, chúng ta mới biết tỉnh thức lợi ích biết là dường nào, cho sự tu tập giải thoát con đường của Đạo Phật.

Bởi nó, là pháp môn quan trọng hàng đầu của Đạo Phật, nếu không có pháp môn này thì pháp Hướng Tâm - Như Lý Tác Ý cũng không có kết quả trong sự tu tập.

Tuesday, 29 May 2012

Sống Không Làm Người Khác Buồn Khổ.


Đ sng mt cuc sng có ý nghĩa, con người luôn phi phn đu hc hi, trau di và sa sai sut c cuc đi. S nhn thc dn dn được hình thành t nhng hình nh thy người khác bun kh, lo lng và s hãi. Và cui cùng đã hiu được "Sng yêu thương là biết mang nim vui và hnh phúc đến cho người, ly nim vui và hnh phúc đó làm nim vui và hnh phúc cho mình."
Từ đó mỗi người rút ra và đúc kết được những cách sống hay, những kinh nghiệm sống hữu ích cho chính mình, mọi người và muôn loài vạn vật. Vậy những kinh nghiệm và bài học nào đáng để chúng ta lưu ý học hỏi và ứng dụng vào đời sống thực tế. Xin mời các bạn cùng nghiên cứu.

  1. Sống luôn thương yêu và tha thứ, bỏ qua mọi lỗi lầm, không nói cái sai, cái lỗi, cái xấu trước mặt lẫn sau lưng của bất kỳ ai.
  2. Chỉ nhìn thấy lỗi mình, không đổ lỗi cho người khác.
  3. Luôn giúp đỡ mọi người khi họ yêu cầu, nhờ vả hay mong đợi, không nên từ chối.
  4. Sống là CHO đâu chỉ NHẬN riêng mình, CHO càng nhiều thì càng hạnh phúc. Không nên quá bủn xỉn keo kiệt và tham lam. Hãy mở rộng bàn tay ra chia sẻ tất cả.
  5. Không nên làm cho người khác thất vọng.
  6. Sống khiếm tốn, biết nhường nhịn không nên khoe sự tài giỏi của mình kẻo người khác ganh tỵ dẫn đến thù hận và hại nhau.
  7. Sống nhẫn nhục, tùy thuận và bằng lòng để cho mọi người cùng vui. Dù ai nói xấu mình, chê bai, chỉ trích, nói cái sai của mình, nhận xét đúng sai phải trái như thế nào, mình đều im lặng không cãi lại, không biện minh, không tìm cách đối phó chống trả thì đó gọi là nhẫn nhục. Sau khi nhẫn nhục được thì tùy thuận theo ý kiến, lời nói và hạnh động của họ để làm cho họ vui. Giả sử họ chê bai chỉ trích, nói xấu nói cái sai của mình thì mình cứ cám ơn họ đã góp ý tốt, giúp mình phản tỉnh lại. Nếu thấy mình sai thì nên xin lỗi ngay để họ bớt giận. Sau khi tùy thuận được thì mình bằng lòng vui vẻ không bực tức giận dự thì mọi việc sẽ trở nên tốt đẹp.
  8. Biết tôn trọng quan niệm sống, cách sống, cách nhìn của người khác, không bắt buộc hay không mong muốn người khác sống theo quan niệm sống của mình. Không nhận xét, đánh giá quan niệm sống, cách sống hay cách nhìn của người khác.
  9. Sống cung kính và tôn trọng người, luôn lễ độ không dùng những lời nói thô tục, xưng hô mày, tao, nó, thằng, …
  10. Sống thành thật, chân thành, không dối gạt người, biết giữ chữ tín.
  11. Làm ơn giúp đỡ người, không cần người khác biết ơn. Kẻo họ bị áp lực bởi sự mang ơn.
  12. Không tạo ngụy tin tức, hình ảnh, vạch ra đời tư của người khác, nhất là những ký giả biến trắng thành đen, đen thành trắng,...
  13. Không nên tạo chứng cớ giả gán tội hãm hại người khác.
  14. Không lợi dụng người khác làm việc gì đó hại người lợi mình.
  15. Không tham lam trộm cắp, lấy đồ của người không xin phép dù là vật nhỏ như cây kim hoặc là chỉ cầm lên xem.
  16. Không nên đem đồ vật trộm cắp, đồ vật phi nghĩa không trong sạch tặng cho người khác.
  17. Không nên nhận những thứ mà người khác dùng mồ hôi, nước mắt, thời gian, công sức, trí tuệ đánh đổi.
  18. Nhặt được tiền vật bị đánh rơi thì tìm cách đem trả lại cho thân chủ.
  19. Có vật gì quý hiếm, lạ thì không nên khoe khoang, kẻo tạo lòng tham ở mọi người.
  20. Đối xử bình đẳng với tất cả mọi người, mọi dân tộc màu da, nông thôn hay thành thị, nghèo hay giàu, sang hay hèn, đồng tôn giáo hay khác tôn giáo, có học thức hay thiếu học thức, chủ hay tớ, nam hay nữ…
  21. Không la mắng, nói lớn tiếng, quát mắng, trách mắng, phạt bất kỳ ai dù là trẻ con, người giúp việc hay người dưới quyền. Dù ai làm sai chỉ nên dùng lời nói ôn tồn nhã nhặn dịu dàng nhẹ nhàng để nói chuyện, khuyên bảo.
  22. Nên động viên, khuyến khích người khác hơn là nói người khác không có khả năng, không có năng khiếu làm việc này việc nọ.
  23. Quá hy vọng, mong đợi người khác thành tài, đỗ đạt, thành đạt công danh, lợi lộc, tình cảm và những điều khác trong cuộc sống sẽ tạo áp lực lớn ảnh hưởng đến sự thăng bằng tâm lý của người khác.
  24. Không nên phụ lòng sự mong đợi của người khác.
  25. Khi được thăng chức phát tài thì không nên chà đạp người khác, không nên quên ơn những người đã từng giúp đỡ mình, vẫn nên tôn trọng mọi người, luôn khiêm tốn và nhẫn nhục.
  26. Dù cho ai có xấu xí, hôi thúi, quái dị đến đâu cũng không nên nói hoặc để lộ một chút kinh ngạc nào.
  27. Trước khi nói hay làm việc gì nên suy nghĩ trước lời nói đó, hành động đó có đem đến làm khổ mình và người hay không. Nếu có thì chớ nên nói và hành động.
  28. Trước khi nói hay làm việc gì nên nghĩ đến cảm nhận của người, không nên quá ích kỹ, quá phô trương cái tôi mà làm khổ người.
  29. Không nên đổ oan cho người khác khi chưa có bằng chứng chứng minh. Mọi sự tình ở đời này đều do hiểu lầm mà ra, trước khi nói, phải suy nghĩ kỹ và phải có bằng chứng.
  30. Không nên nói những lời nói châm biếm, nói móc, lời nói làm người khác tức giận, lấy sự tức giận đó làm thú vui cho mình.
  31. Không nên vì che đậy tội lỗi của mình, nói dối, vu oan, đổ oan cho người khác.
  32. Không nói những lời nói, câu chuyện làm cho người khác lo lắng, sợ hãi như chuyện ma, chuyện cướp của giết người, chuyện liên quan đến tiền bạc tài chánh eo hẹp, chuyện vỡ nợ, chuyện thất bại trong làm ăn, chuyện xích mích với người khác, chuyện tranh giành danh lợi trong xã hội, cơ quan hay tổ chức nào đó,...
  33. Không nên chê bai những khiếm khuyết tật nguyền của người khác như hôi nách, mù, mắt lé, lùn, cà thọt, răng hô, miệng rộng, ...
  34. Khi thấy bất kỳ chuyện gì chướng mắt thì tự mình làm lấy, không nên chê bai hoặc nhắc nhở với người khác, kẻo làm người ta tự ái,...Ví dụ: khi thấy nhà dơ, cửa sổ kính đầy bụi thì tự lấy chổi quét, lấy khăn lau sạch. 
  35. Biết giữ im lặng. Có những việc giữ trong lòng còn tốt hơn là nói ra, bởi vì ta hiểu rằng khi nói ra sẽ đụng chạm đến lòng tự ai, sự tôn nghiêm và danh dự của người khác. 
  36. Không nhát ma, hù dọa làm cho người khác giật mình sẽ dẫn đến các bệnh đau tim.
  37. Không nói những điều nghi ngờ xa gần.
  38. Không nên nghi ngờ người khác là người xấu, người ác, người tham lam, người dối trá,... Ngược lại nên tin tưởng mọi người là người tốt, người thiện. Khi chúng ta nghi ngờ ai là lúc chúng ta đã đánh mất lòng yêu thương.
  39. Chỉ nhìn thấy lỗi mình, không nhìn lỗi người, nếu người ta đúng thì họ sẽ bị tự ái, nếu họ sai thì họ sẽ giận dữ và dẫn đến nhiều chuyện tệ hại khác. Người biết nhìn lỗi mình là người có tri kiến nhân quả.
  40. Không tài lanh dạy đời, nói lên sự hiểu biết, kinh nghiệm hay khuyên bảo người khác. Bất kỳ ai cũng có tự ái, do vậy hãy cẩn thận vì dạy đời khuyên bảo người khác sẽ làm cho lòng tự tôn của họ bị đụng chạm.
  41. Không bình luận, nhận xét đúng sai phải trái về tôn giáo, chính trị của bất kỳ ai.
  42. Luôn giữ lời hứa, không hứa lèo.
  43. Không nói những lời nói ly gián, chia rẻ bất kỳ ai.
  44. Không nên xuyên tạc, nói chuyện không có, hoặc chuyện có thì nói không.
  45. Không nên nói những lời nói hung dữ, lớn tiếng, quát mắng, chê bai, chỉ trích ai.
  46. Ăn nói tế nhị. Ví dụ: khi ăn món ăn của người khác nấu, không nên nói món ăn này nhạt quá, mặn quá, ngọt quá, hoặc nói vật này xấu, vật này màu xấu, vật này củ, đồ này là đồ rẻ tiền,...
  47. Không nên nói những lời nói quá khích động làm người khác buồn, biết khéo nói sẽ làm người khác không bị tổn thương. Ví dụ: Thay vì nói "người khác ngu khờ điên dại, ngu như con bò", nên nói là "người đó không được sáng suốt minh mẫn, không được thông minh lắm"
  48. Khen một người tài giỏi, thông minh,... trước mặt người khác sẽ có thể làm hại chính họ. Họ sẽ tự mãn, tự cao hoặc sẽ bị người khác ghen tức, ganh tỵ,...
  49. Không nên lấy ai ra làm đề tài để nói chuyện cười đùa hay giểu cợt. Không nên cười trên sự đau khổ hay sự thất bại của người khác.Khi nói chuyện không nên bắt bí người khác, dồn người khác vào ngã cụt. Không nhắc đến những quá khứ và chuyện đau buồn của người khác.
  50. Không để cho người khác lo lắng về bất kỳ chuyện gì trong gia đình. Đừng để ai nhắc làm việc gì đến lần thứ hai. Ví dụ: ai nhờ sửa ống nước, bàn ghế, dọn dẹp phòng thì nên làm ngay, hoặc khi mình thấy cần sửa hay dọn dẹp cái gì trong nhà là tự mình làm ngay, đừng nhờ vả ai, đừng ra lệnh cho ai, dù là mình có vai vế lớn trong gia đình.
  51. Khi bị bệnh đau không rên la, không lộ vẻ sợ hãi lo lắng. Càng rên la, sợ hãi lo lắng thì càng làm cho người xung quanh lo lắng thêm. Hãy nhắc tâm: "Tâm phải bất động trước mọi bệnh tật. Bệnh tật là vô thường, đến rồi đi, không việc gì phải lo lắng và sợ hãi cả."
  52. Đi đâu ra khỏi nhà cũng nên báo trước cho ai đó biết để mọi người không lo lắng cho mình, khi về trể cũng nên gọi điện về báo. Không nên đi về quá khuya, ra nhà quá sớm.
  53. Không mượn tiền, xin tiền của bất kỳ ai.
  54. Sống chung thủy trước mặt lẫn sau lưng, không lăng nhăng bắt cá 2 tay. Sống không chung thủy sẽ phá hoại gia đình mình và gia đình người khác.
  55. Không nên lường gạt tình cảm của người khác. Tình yêu làm cho con người mù quáng, khi bị phụ tình, nhiều người không sáng suốt có thiên hướng tự tử hoặc làm những chuyện bất thường.
  56. Không nên vì danh lợi, chạy theo tình mới, phụ tình cũ, phản bội người khác.
  57. Không nên đùa giỡn với tình yêu.
  58. Không nên trở thành kẻ thứ ba phá hoại tình cảm của hai người khác.
  59. Không nên lợi dụng quan hệ tình cảm để làm giàu, gây dựng danh tiếng, địa vị,...
  60. Không nên khen con gái khác trước mặt bạn gái mình, hoặc ngược lại.
  61. Trước khi sinh con nên có kế hoạch hoặc suy nghĩ kỹ sẽ cho con mình hạnh phúc như thế nào.
  62. Sống chung với người buồn rầu, ủ rũ, tiêu cực suốt ngày sẽ làm cho người khác chán ghét. Do vậy hãy luôn sống tích cực, vui vẻ, chấp nhận và sẵn sàng đối diện với hiện thực để vượt qua.
  63. Không nên bỏ rơi bạn bè lúc khó khăn.
  64. Ủng hộ, giúp đỡ bạn bè thì ủng hộ, giúp đỡ, tin tưởng đến cùng. Không nản lòng, bỏ rơi bạn bè khi chưa đến phút cuối.
  65. Làm sai, có lỗi thì xin lỗi ngay và sửa sai.
  66. Không nên tự ý dời đồ của người khác hay cất đi chổ khác trừ khi đã hỏi trước.
  67. Không nên giết người, đánh người, chém, đâm, đầu độc hoặc làm hại người khác.
  68. Không nên bắt cóc, tống tiền,...
  69. Không nên rượu chè, hút chích nghiện ngập các chất kích thích.
  70. Không nên chơi cờ bạc, cá độ, chơi đề, chơi cổ phiếu, mua vé số.
  71. Biết người khác không thích mình thì nên tránh mặt.
  72. Không nên quá quan tâm, quản lý hoặc kiểm tra người khác, vì họ sẽ cảm thấy mất tự do.
  73. Luôn tôn trọng mọi quyết định của người khác, dù là họ đang dấu ta điều gì, không nên moi móc tìm hiểu. Mỗi người có nổi khổ riêng, có mối lo riêng, có đời sống riêng. Dù là vợ chồng, cũng nên tôn trọng cuộc sống riêng của mỗi người, không nên lúc nào củng phải quản lý, nghi ngờ. Ngược lại phải luôn tin tưởng nhau tuyệt đối rằng người kia có lý do và nguyên nhân để làm những việc gì đó mà họ không muốn chia sẻ với ta.
  74. Giải quyết mọi vấn đề trước tiên phải tránh những cảm giác chủ quan, cảm tình hay thành kiến, phải đặt mình vào vị trí khách quan và công bằng.
  75. Tình yêu không phải là sự chiếm hữu hay ai là của ai. Mỗi người vẫn có cuộc sống riêng và sự tự do của mình. Không nên nghĩ rằng vợ là của mình, chồng là của mình. Hãy luôn tự do tôn trọng cuộc sống riêng của mỗi người, tôn trọng sở thích riêng, lối sinh hoạt riêng, những chuyện thầm kính bí mật riêng của mỗi người.
  76. Không nên tìm cách trả thù xưa hoặc ghen tuông như tạt axit, rạch mặt,...
  77. Chớ nên hiểu lầm tình bạn thành tình yêu, không phải ai đối xử tốt với mình là có ý tình cảm với mình đâu! Sự hiểu lầm có thể dẫn đến tình bạn xứt mẻ.
  78. Chớ nên lừa gạt tình cảm, cảm tình của người khác.
  79. Biết tạo cảm giác an toàn cho tất cả mọi người. Ví dụ như người thân con cháu, bà con, hàng xóm, bạn bè, người làm công, cho nhân viên,...của mình bằng những đức hạnh: thương yêu, tha thứ, thành thật, chung thủy, chung tình, dũng cảm, khiêm nhường, nhường nhịn, bền chí, kiên trì,.... Quá chú ý đến họ, nghi ngờ, suốt ngày vạch lá tìm sâu sẽ làm cho người khác có cảm giác bất an, tâm lý bị mất cân bằng, luôn lo sợ và tìm cách tránh xa mình,...
  80. Đối xử với con cái như là đối xử với bạn bè. Không nên la mắng đánh đập hay phạt con mà ngược lại luôn thương yêu và tha thứ cho con. Tôn trọng cuộc sống riêng của con. Dùng lời nói ôn tồn, nhã nhặn và dịu dàng nói chuyện với con, không nên quát hay lớn tiếng với con mình.
  81. Không nên sắp xếp, ép buộc hay áp đặt cuộc đời cho con mình, hãy luôn tôn trọng sở thích và quyền quyết định của con. Là cha mẹ chỉ nên gợi ý, còn quyết định theo hay không thì tùy theo ý của con cái.
  82. Hạnh phúc không phải chỉ là lo cho con cái no đủ, có quần áo để mặc, có nhà để ở là đủ, hạnh phúc là phải xem lòng của con cái, nhìn thấy con có vui hay là không.
  83. Cha mẹ đối xử nhợt nhạt hoặc thường chê bai con rể hoặc con dâu sẽ làm cho tình cảm của vợ chồng con mình bị xứt mẻ. Cách đối xử của cha mẹ rất quan trọng trong việc giữ gìn hạnh phúc của con cái mình.
  84. Cha mẹ không nên dạy cho con cái những việc làm bất nghĩa, hại người và những điều vô đạo đức.
  85. Tiền bạc không phải là thứ quan trọng nhất mang hạnh phúc đến cho con cái. Cái quan trọng nhất là có thể giúp cho con cái hạnh phúc chính là đạo đức, đức hạnh. Thiếu đạo đức đức hạnh tiền bạc cũng chỉ là cỏ rác và làm hại con cái. Do vậy, cha mẹ ngoài chuyện kiếm tiền, nên rèn luyện trau dồi đạo đức đức hạnh cho con cái từ lúc còn nhỏ, biết sống thương yêu, tha thứ, tôn trọng, kính trọng mọi người, chia sẻ bố thí, giúp đỡ, tiết kiệm, thành thật,...
  86. Cha mẹ không nên mê tín (xem tuổi vợ chồng,...) phá hoại hạnh phúc tương lai của con cái mình.
  87. Cha mẹ không nên chiều chuộng con cái quá sẽ làm cho chúng hư. Hãy tạo cơ hội cho con cái thử thách để biết khả năng của chúng, hiểu đời và trưởng thành hơn. 
  88. Cha mẹ, thầy cô, người lớn, ông chủ không nên trách mắng, đuổi con cái, người dưới quyền, người ở, học trò ra khỏi nhà, trường, công sở,...Vì như vậy chỉ làm hại họ, khiến họ mất đi niềm tin, có thể trở thành kẻ bụi đời, xin ăn, tự tử hoặc tham gia vào các băng đảng xã hội đen, cướp của, giết người,...
  89. Là con cái, nên hiếu thảo với cha mẹ. Khi giàu có chớ khinh thường cha mẹ nghèo. Dù cha mẹ có lỗi gì thì con cái không nên giận, chỉ có luôn mở rộng vòng tay ra thương yêu và tha thứ.
  90. Dù cho cha mẹ có cằn nhằn điều gì, con cái cũng không nên lớn tiếng cãi lại hoặc biện minh rồi bỏ nhà ra đi. Nên áp dụng 3 đức nhẫn nhục, tùy thuận và bằng lòng.
  91. Con cái không nên vì giận mà bỏ cha mẹ ở lại một mình đi nơi khác sống.
  92. Khi cha mẹ về già, cần có con cái bên cạnh, ở xa thì nên về thăm hoặc gọi điện thoại về hỏi thăm.
  93. Không nên để cho người khác chờ đợi, nhớ nhung, thương nhớ,...
  94. Lái xe luôn cẩn thận, giữ gìn trật tự luật lệ an toàn giao thông.
  95. Ra hay vào nhà đều khóa cửa cẩn thận.
  96. Trước khi đi ngủ kiểm tra cửa nẻo có khóa chưa.
  97. Không nên kết bạn xấu. Không tham gia vào những băng đảng xã hội đen, không lui tới những nơi có những băng nhóm xã hội đen tụ tập như quán bar, dancing, quán nhậu, quán karaoke, caffee ôm, bia ôm, massage,...
  98. Khi thấy ai làm sai cái gì hay bị thất bại thì chớ nên đổ thêm dầu vào lửa, châm chích, mỉa mai, nói rằng họ không nghe lời mình khuyên,...Chỉ nên an ủi họ "Lấy cái sai, sự thất bại này làm bài học" hoặc "Biết đâu trong cái rủi có cái mai", hoặc "Đừng thất vọng, hãy bình tĩnh lại",...
  99. Nếu biết được kế hoạch hại ai của  bất kỳ ai dù là người thân, bạn bè thì cũng không nên tham gia vào. Nên tìm cách âm thầm khéo léo ngăn cản hoặc báo cho người bị hại biết trước hoặc giúp đỡ bảo vệ họ (tránh lộ mặt càng tốt)
  100. Nếu đã cho người khác mượn tiền thì phải tính trước khả năng người ấy không có tiền để trả hoặc trả chậm. Do vậy khi thấy họ trả chậm thì nên an ủi trấn an họ để họ yên tâm. Ví dụ như "Nếu bị kẹt tiền chưa có thì từ từ cũng được, tụi tôi vẫn chưa cần đến số tiền đó"
  101. Không nên kiện tụng ra tòa, cố gắng tự thu xếp ổn thỏa đôi bên. Không nên làm nhân chứng sai, nghi oan cho người khác. Đôi khi những gì mình thấy, mình nghe chưa chắc là sự thật. Con người thường bị chính ngũ quan của mình lừa chính mình mà không biết, do vậy, càng không nên nhận xét, phán đoán, đưa ra kết luận bừa bãi. Kết tội người phải có bằng chứng cụ thể.
  102. Dù là ai có phạm tội tài trời, cũng không nên tự ý trả thù riêng hoặc thế thiên hành đạo, nên giao cho chính quyền để pháp luật trừng trị.
  103. Không nên lôi kéo người khác vào những thù hận của mình. Khiến người khác cũng trở nên sân hận và tìm cách trả thù cho mình.
  104. Không nên nhờ người khác trả thù cho mình.
  105. Không nên mướn xã hội đen đòi nợ dùm mình và cũng không nên dính đến xã hội đen.
  106. Nếu có hẹn thì nên đến sớm hơn hoặc đúng giờ. Không nên để mọi người chờ đợi mình, nếu không đến đúng giờ thì nên báo trước.
  107. Nếu được hẹn, người khác đến trễ hơn thì không nên giận, vẫn vui vẻ và trả lời rằng mình có dư nhiều thời gian, được ngồi yên tĩnh một mình cũng là một cái thú, giúp đầu óc được nghỉ ngơi thanh thản.
  108. Dù ở hoàn cảnh nào cũng không nên làm cho người khác sân giận, lo lắng, buồn phiền và sợ hãi.
  109. Đừng tạo cơ hội cho người khác phạm pháp. Ví dụ như không nên để xe nơi công cộng mà không khóa, ra vào nhà không khóa cửa, đeo dây chuyền, bông tai, hoặc đồ trang sức quý giá ra ngoài đường, giữ số tiền lớn trong mình ra ngoài phố,...
  110. Đừng làm điều gì trái ý người khác.
  111. Khi nói chuyện nên nắm được ý của người khác muốn gì để không nói trái ý người.
  112. Không nên bác bỏ ý kiến, lời nói của người khác.
  113. Không nên nói lên quan điểm của mình khi biết quan điểm đó khác với ý của người khác.
  114. Không nên ích kỷ chỉ biết những gì mình thích, muốn người khác làm theo ý mình mà quên đi cảm nhận của người khác.
  115. Buôn bán không nên cân non, cắt xén, bán hàng không chất lượng, có độc tố hóa học hoặc hàng giả.
  116. Tự do cạnh tranh công bằng trên thương trường kinh doanh buôn bán, không nên dùng thủ đoạn gian trá hãm hại nhau.
  117. Ở đâu có quyền hành, ở đó có đau khổ. Dù là gia đình, trường lớp, tập thể, cơ quan, công ty, chính phủ, trong đất nước...không nên ra lệnh, áp đặt, đàn áp, ép buộc, bắt nạt, xử phạt, đánh đập, la mắng, bắt buộc, ... người khác làm việc theo ý mình. Chức vị chỉ đi đôi với bổn phận, trách nhiệm và kỹ năng quản lý, lãnh đạo chứ không phải đi đôi với quyền hành.
  118. Giữ gìn vệ sinh sạch sẽ nơi công cộng, không vứt rác bừa bãi, giữ gìn nhà cửa, nơi ngủ và nơi làm việc ngăn nắp.
  119. Không nên trốn học, bỏ học, kết bạn xấu để gia đình và người thân lo lắng.
  120. Không nên sử dụng kiến thức, sự hiểu biết để phá hoại, ví dụ như những hackers cài virus vào mạng internet, gửi thư rác.
  121. Đừng bao giờ nghĩ đến chuyện tự tử. Hãy mạnh dạn đối diện với thực tế và vượt qua.
  122. Không tranh chấp tài sản tiền bạc thừa kế với bất kỳ ai (anh chị em,...). Sự tranh chấp chỉ làm cho mất tình cảm giữa những người trong gia đình, con người trở nên độc ác hơn và kẻ bị hại có khả năng không còn mạng để sống. Nếu mình được thừa kế nhiều hơn, thì cùng bàn thảo lại với người trong gia đình để chia đều lại, giúp cho mọi người cùng vui vẻ.
  123. Khi nghe ai đó nói chuyện về người thứ ba, không nên chỉ tin một chiều. Sự vội vã tin vào những gì người khác nhận xét hay đánh giá sẽ đem đến những hậu quả nghiêm trọng. Do vậy nên tìm hiểu kỹ thêm từ nhiều ý kiến khách quan khác.
  124. Không nên cố gắng tìm hiểu những lời nói, việc làm của người khác trong quá khứ. Hãy luôn tin rằng họ có đầy đủ lý do chính đáng để nói và làm việc đó vào thời điểm đó. 
  125. Không nên có định kiến xấu về những người đã phạm tội, người đồng tính luyến ai bởi vì chính thành kiến đó có thể làm tổn thương đến họ.
  126. Sự cư xử vô tình đối với người không thiện cảm, kẻ phạm tội, đôi khi sẽ gây cho họ tâm lý rằng họ bị cô lập với xung quanh. Từ đó sẽ nảy sinh những hậu quả nghiêm trọng. Do vậy dù là ai, người tốt hay xấu, người có thiện cảm hay không thiện cảm, chúng ta hãy luôn tôn trọng họ. Đối xử bình đẳng, thương yêu, dịu dàng, quan tâm và luôn nhìn họ với ánh mắt đầy thiện cảm.
  127. Đừng bao giờ dồn người khác vào đường cùng. Ngược lại khi thấy ai rơi vào đường cùng thì nên ra tay giúp đỡ ngay.
  128. Không nên hấp tấp, vội vã, luôn từ tốn khoan thai và bình tĩnh.
  129. Sống nên biết đủ, nghèo chớ tham giàu, chớ sài sang, tiêu xài hoang phí.
  130. Không nên tranh công với người khác.
  131. Không nên mê tín, tin vào bói toán, tử vi, xem tướng; tin vào thần thánh, ma quỷ, thần linh, cầu cơ, cầu an, cầu siêu. Không nên đem những điều mê tín đó truyền bá vào lòng người khác.
  132. Tôn trọng tôn giáo của mỗi người, không nên ép buộc hay dụ dỗ, hăm dọa ai theo tôn giáo của mình. Nên để họ chọn lựa và tự nguyện.
  133. Lòng yêu thương của người thường thể hiện qua những hành động như cho tặng quà, lời khuyên, nhường nhịn, khuyên giải, góp ý, chia sẻ thông tin, quan tâm, hỏi thăm... Do vậy chớ làm mất lòng người.
  134. Khi thấy ai bị bệnh thì hãy để người đó có thời gian và không gian nghỉ dưỡng, không nên nhờ họ làm bất kỳ việc gì cho mình, dù là một viêc nhỏ. Ví dụ như nhờ họ chở đi đây đi đó, hoặc mua đồ này đồ nọ,....
  135. Không nên đánh giá giá trị của món quà, mà hãy cảm nhận được lòng yêu thương của mọi người với nhau. Đánh giá hoặc nhận xét giá trị của món quà chỉ làm cho tình cảm bị rạn nứt và sứt mẻ thêm.
  136. Không nên phụ lòng tốt của người khác. VD: nhà mình có trồng cây nha đam, ông hàng xóm nói cây nha đam của ông trồng mới là cây có thể chữa bệnh và tốt cho tóc, ... lấy mà trồng. Ta nên nhận về trồng kẻo ông buồn.
  137. Làm bất cứ nghề nào cũng phải có trách nhiệm, thiếu trách nhiệm sẽ dẫn đến tai nạn, chết người,...Ví dụ: làm bác sĩ không cẩn thận khám bệnh cho thuốc sai, mổ để quên dụng cụ trong thân thể người bệnh, thợ cơ khí sau khi ráp máy thấy dư ra một con ốc, vẫn bỏ qua, thợ điện để dây chạm mạch dẫn đến người dùng bị dựt và máy bị cháy, nông dân thì dùng thuốc sát trùng, phân urê làm cho trái cây chín hoặc xịt thuốc trừ sâu nhiều quá,...
  138. Không nên để đồng tiền làm mờ mắt, vì đồng tiền con người có thể trở nên mất nhân tính. Ví dụ: làm gạo giả bằng nhựa, sản xuất sữa cho trẻ em có chất melamine, đồ chơi cho trẻ em có chất chì, xây dựng thì dùng vật liệu không đúng chất lượng,...
  139. Không nên đánh, đá, bắt, cướp, làm thịt, hoặc bán những con thú nuôi thương yêu của người khác. Ví dụ như chó, mèo, chim, cá, gà, vịt, bò, heo, trâu,...
  140. Không nên tổ chức đánh cờ bạc, cá độ, chơi đề, hốt hụi, đánh bi da, và các trò chơi cá độ trong nhà, bởi vì những trò đó sẽ ảnh hưởng đến con cháu của mình, khi chúng lớn lên chúng sẽ bị nhiễm những thói quen xấu thích chơi những trò đó. Khi không có tiền chúng sẽ tìm cách ăn cắp, trộm cướp và giết người,... 
  141. Không nên biến người khác thành con cờ, công cụ hoặc trò chơi của mình.
  142. Không nên vì lợi ích, ích kỷ cá nhân, muốn đạt được mục đích của mình mà phải hy sinh tính mạng của người hoặc phá hoại hạnh phúc của người khác.
  143. Không nên ép người khác thề độc.
  144. Đừng dùng quyền hành bắt buộc người khác làm việc ác, hãm hại người, gian trá lừa gạt người. 
  145. Không nên ép người khác nói ra những gì họ không muốn nói hoặc đã hứa giữ bí mật với người khác, biết đâu họ có nổi khổ của họ.
  146. Sự ngu muội, vô tư, không dũng, vô mưu, háo thắng, liều lĩnh, không lượng sức của tuổi trẻ thường làm nhiều việc dẫn đến hại mình, hại người. Do vậy hãy tự biết khả năng của bản thân, luôn cẩn thận, học hỏi, khiêm tốn và biết lắng nghe người lớn. Ngược lại, người lớn tuổi nên thông cảm cho tuổi trẻ, bỏ qua và tha thứ, từ từ uống nắn, giải thích lợi hại cho những người trẻ tuổi, chớ nên vì những sai lầm của họ mà trách mắng, phạt, đuổi họ.
  147. v.v...

Tóm lại, còn rất nhiều bài học hay cần được góp ý và học hỏi. Người sống biết yêu thương là người sống không làm khổ mình, khổ người và khổ các loài vật khác. Mặc dù trong cuộc đời ai ai cũng có lúc hoặc cố ý hoặc vô ý đã tự làm khổ mình, làm khổ người và làm khổ các loài vật khác, chỉ cần chúng ta biết rút ra kinh nghiệm trên lỗi lầm của mình và sửa sai thì đó là một điều đáng mừng và trân quý. Kính chúc các bạn, gia đình và toàn xã hội sẽ luôn tràn đầy niềm vui và hạnh phúc, luôn sống biết yêu thương để mang lại niềm vui và hạnh phúc cho mình, mọi người và muôn loài vạn vật khác.

Mời các bạn đọc tiếp bài:
1- Sống không làm khổ mình.
2- Sống không làm khổ các loài vật khác.