Saturday, February 25, 2012

3 CÁCH CHUYỂN HÓA NHÂN QUẢ


Tùy vào khả năng và hoàn cảnh của mỗi người, có thể chuyển hóa nhân quả bằng 3 cách:

  1. Áp dụng “Đức Chấp Nhận Nhân Quả”  bằng 3 đức nhẫn nhục, tùy thuận và bằng lòng.
  2. "Đức làm chủ nhân quả" có nghĩa là từ hành động thân, miệng, ý của mình, trước khi làm hay nói chúng ta đều có sự suy tư tính toán mỗi hành động không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sinh rồi mới nói hay làm. Đó là cách thức làm chủ nhân quả. 
  3. Đối với người có ý chí mạnh mẽ, dũng cảm không bao giờ biết sợ là gì, luôn áp dụng “Đức Vượt Qua Nhân Quả” vào đời sống, Nhân quả đến nhưng không tác động được thân tâm người ấy, Ví dụ khi bệnh đến mà không sợ, không đi bác sĩ, không uống thuốc, coi như không có chuyện gì cả.

Mời các bạn đọc tiếp những bài này:
  1. Chuyển nhân quả quá khứ trong kiếp hiện tại.
  2. Đức Chấp Nhận Nhân Quả
  3. Đức Làm Chủ Nhân Quả
  4. Đức Vượt Qua Nhân Quả
  5. Đức vượt qua nhân quả có phải là đức làm chủ nhân quả hay không?

Thursday, February 23, 2012

NGUYÊN NHÂN TU HÀNH CHƯA CHỨNG ĐẠO

1.         Hiu sai mc đích ca đo Pht mun dy điu gì?
2.         Chưa tìm thấy vị thầy chứng đạo hướng dẫn tu tập.
3.         Chưa có ý chí mạnh mẽ tìm cầu sự giải thoát, thiếu tự tin và không tin thầy mình dạy.
4.         Chưa buông xuống sạch ngoài đời.
5.         Còn dính mắc vào pháp tu hành.
6.         Dính mắc vào những thứ khác trong chùa hoặc ở nơi tu tập.
7.         Không giữ gìn giới luật nghiêm chỉnh
8.         Coi trọng Định và Tuệ bỏ qua Giới luật. Lấy Định và Tuệ làm đối tượng tu tập.
9.         Không sống được độc cư.
10.     Ngủ phi thời. Bị hôn trầm thùy miên.
11.     Chưa ăn được ngày một bữa.
12.     Không nhẫn nhục, tùy thuận và bằng lòng.
13.     Vẫn còn tham danh lợi, giữ tiền bạc.
14.     Chưa hiểu rõ tâm giải thoát là tâm gì?
15.     Chưa hiểu rõ đời sống giải thoát là gì?
16.     Hiểu lầm tâm giải thoát là tâm không niệm.
17.     Dính mắc vào trạng thái tâm không niệm, tâm bất động, tâm thanh tịnh và các trạng thái hỷ lạc khác.
18.     Chưa hiểu rõ niệm là gì? Niệm có bao nhiêu loại?
19.     Hiểu lầm Tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự là tâm không niệm
20.     Gò bó ức chế thân tâm, rơi vào các trạng thái tưởng, không ngồi chơi tự nhiên xả tâm hoặc sống tự nhiên xả tâm. 
21.    Tự mãn với những gì đã đạt được
22.    V.v…


Để hiểu rõ hơn. Mời các bạn đọc bài “Tại Sao Tu Hoài Chưa Giải Thoát



Monday, February 20, 2012

Vấn đạo: Gieo nhân duyên lành

(Thầy trả lời phần vấn đạo của nhóm Phật tử Phan Rang)

                                 NHỮNG LỜI DẠY CỦA ÂN SƯ

1. Chúng con phải gieo nhân gì, duyên gì mới gặp được CHÁNH PHẬT PHÁP ngay trong hiện tại?
Đáp: Tin vào Phật pháp.

2. Chúng con phải gieo nhân gì, duyên gì mới gặp được MINH SƯ và gần gũi lâu dài?
Đáp: Giữ gìn 5 giới cho nghiêm chỉnh.

3. Chúng con phải gieo nhân gì, duyên gì mới hiểu được CHÁNH PHÁP?
Đáp: Giữ TÂM BẤT ĐỘNG.

4. Chúng con phải gieo nhân gì, duyên gì mới hành đúng CHÁNH PHÁP, hợp với đặc tướng của mình để mau chóng tu tập có kết quả?
Đáp: Pháp NHƯ LÝ TÁC Ý.

5. Chúng con xin Thầy những tiêu chuẩn và trạng thái THÂN, TÂM như thế nào mới vào gần MINH SƯ để chuyên tu được, để chúng con không bị TƯỞNG đánh lừa?
Đáp: Ước nguyện và giữ gìn 10 giới SADI trọn vẹn.

6. Chúng con phải gieo nhân gì, duyên gì mới xiển dương nền ĐẠO ĐỨC NHÂN BẢN NHÂN QUẢ lớn rộng ra toàn nước Việt nam và khắp thế giới?
Đáp: Giữ gìn 5 giới trọn vẹn và ước nguyện mọi người sống trong 5 giới.

7. Thưa Thầy, Thầy thường nói: Phước chúng sinh quá mỏng, không hưởng được Phật pháp. Vậy chúng con muốn phước dày, đủ điều kiện để tu hành làm chủ sinh, già, bệnh, chết thì phải gieo nhân gì, duyên gì?
Đáp: Ly gia cắt ái, xuất gia làm tu sỹ ba y một bát.

8. Chúng con phải gieo nhân gì, duyên gì để người phát nguyện ăn chay theo đức HIẾU SINH sẽ được thuận duyên toại nguyện?
Đáp: Phải lập chí dũng mãnh.

9. Chúng con phải gieo nhân gì, duyên gì để giải nghiệp thọ bệnh, và làm chủ được thọ bệnh, để phương pháp này được phổ biến rộng rãi, để bệnh viện ít bệnh nhân?
Đáp: Giữ TÂM BẤT ĐỘNG trước các ác pháp.

10. Chúng con phải gieo nhân gì, duyên gì để luôn được KIÊN TRÌ, GAN DẠ, SIÊNG NĂNG, SÁNG SUỐT, CẨN THẬN trong lúc tu hành?
Đáp: Tập pháp THÂN HÀNH NIỆM.

11. Chúng con phải gieo nhân gì, duyên gì để nhanh chóng từ bỏ ngũ dục lạc, năm triền cái và thất kiết sử?
Đáp: Tác ý ly dục ly ác pháp hằng ngày.

12. Chúng con phải gieo nhân gì, duyên gì để nhanh chóng TÂM BẤT ĐỘNG TRƯỚC ÁC VÀ CẢM THỌ?
Đáp: Thấy CÁC PHÁP đều VÔ THƯỜNG, không có pháp nào là ta là của ta.
                               
                                    Nhóm nguyên thủy II Phan Rang
                                                   Kính thư.

Vấn đạo: Tu tập tâm bất động


Hỏi: (sư Từ Quang hỏi đạo ngày 25/01/2010)
    Kính thưa Thầy,
    Con rất cám ơn Thầy về những lời dạy, nhất là lời dạy sau:
    Tâm bất động là chân lý của Đạo Phật, ai khôn ngoan thì sống với nó, ai dại dột thì buông bỏ nó.(Thư trả lời của Thầy - ngày 18-1-2010).

    Nhờ lời dạy này nên các thời tu, kể từ ngày mở email và cho đến nay, con đã tu và thấy được tâm bất động và đã tu khá tốt. Cám ơn Thầy rất nhiều. Sáng nay cũng tiếp tục tu tâm bất động như thế. Từ nay con sẽ tu tập tâm bất động như thế.
Tuy nhiên vì lo sợ là con không hiểu đúng lời Thầy, áp dụng sai lời dạy, hay tu sai mà không biết, tu theo cách suy nghĩ sai thành ra vô tình tu theo con suy nghĩ chứ thật sự không đúng sự chỉ dạy của Thầy. Vậy kính xin Thầy từ bi xem cách con tu như trình bày sau đây có thật sự đúng với sự chỉ dạy:

     1. Con ngồi yên, thư giản toàn thân và thần kinh, khi tâm tự nó không suy nghĩ chứ không làm cho nó không suy nghĩ thì tác ý: "Tâm phải bất động, thanh thản, an lạc, vô sự" và ngồi im lặng chỉ chú tâm trong trạng thái không niệm đó.

    2. Khi có niệm thì tác ý lại. Do câu tác ý, khi tác ý thì tâm tự động trở lại không niệm chứ không có dụng ý nào làm cho nó không niệm. Nếu tác ý "Tâm phải bất động, thanh thản, an lạc, vô sự" mà tâm vẫn còn niệm thì tác ý nữa. Cứ tác ý mỗi khi có niệm.

    3. Các từ bất động, thanh thản, an lạc, vô sự tác động rất mạnh vào tâm, nên câu tác ý "Tâm phải bất động, thanh thản, an lạc, vô sự" rất kết quả trong khi ngồi mà sinh những cảm thọ khó chịu trên chân hay thân. Cho nên khi thấy có những cảm thọ làm tâm sinh niệm thì con dùng câu tác ý "Tâm phải bất động, thanh thản, an lạc, vô sự" cho đến khi không còn niệm. Chỉ khi những cảm thọ đó quá mạnh thì mới thay đổi thư thế để giải trừ.

    4. Con không biết có nên hay không nên dùng câu tác ý để vượt qua những cảm thọ khi ngồi lâu, tức vẫn ngồi bất động trong tư thế đó mà tác ý câu "Tâm phải bất động, thanh thản, an lạc, vô sự" cho đến khi không thể kham, không giữ tâm không niệm, mới xả ra hoặc thay đổi tư thế.
    Kính thư,
    Con Từ Quang.

Trả lời:  (Ngày 27-01-2010)

    Kính gửi: Con


    I – Cứ để tự nhiên không nên chú tâm trong trạng thái không niệm đó. Vì vậy người mới tu tập có 5 điều sai:
        1- Chú tâm ở chổ không niệm tức là dùng chổ không niệm ức chế ý thức.
        2- Sợ có niệm nên cứ thầm tác ý câu tâm bất động.
        3- Hôn trầm thùy miên tấn công.
        4- Thường theo dõi hơi thở nên tâm bất động được kéo dài, nhưng đó cũng là cái sai.
        5- Thường dùng quán thân để giữ gìn tâm bất động kéo dài, nhưng đó cũng là cái sai.
    II – Câu hai đúng.
    III – Câu ba đúng.
    IV – Người tu tập tâm bất động có đầy đủ ý chí và nghị lực nên không có cảm thọ nào làm cho họ đầu hàng. Người tu tập tâm bất động đuổi tất cả cảm thọ trên thân và tâm một cách anh dũng. Vì thế họ làm chủ được bệnh tật. Do làm chủ được bệnh tật nên họ làm chủ được sinh, già, bệnh và chết rất dễ dàng. Cho nên người nhát gan không dám tu tập tâm bất động.


Vì vậy người khôn sống với nó, người dại dột thì buông bỏ nó.
Tu mà còn sợ chết mà tu tập cái gì. Chân lý giải thoát của Phật giáo sờ sờ ra trước mắt mà không gìn giữ bảo vệ nó thì còn tu tập cái gì nữa.

             Kính thư,
             Thầy của con

(Nguồn từ tu viện Chơn Như)

MÓN ĂN GIẢI THOÁT


TÂM THƯ GỬI QUÍ VỊ
(18-4-2009)

            Kính gửi: Quí vị!

            Quí vị hãy đọc kỹ lại bài mà Thầy đã cho ghi vào bia đá trong Tu viện Chơn Như “MÓN ĂN GIẢI THOÁT”.

            Đức Phật dạy:

        1.      Này các Tỳ kheo! Cái gì là thức ăn cho Minh Giải Thoát (Tam Minh)? Bảy Giác Chi, cần phải trả lời như vậy.
2.      Này các Tỳ kheo! Cái gì là thức ăn cho (Năng lực) Bảy Giác Chi? Bốn Niệm Xứ, cần phải trả lời như vậy.
3.      Này các Tỳ kheo! Cái gì là thức ăn cho Bốn Niệm Xứ? Ba Thiện Hành, cần phải trả lời như vậy.
4.      Này các Tỳ kheo! Cái gì là thức ăn cho Ba Thiện Hành? Các Căn Được Chế Ngự, cần phải trả lời như vậy.
        5.      Này các Tỳ kheo! Cái gì là thức ăn cho Các Căn Được Chế Ngự? Chánh Niệm Tỉnh Giác, cần phải trả lời như vậy.
6.      Này các Tỳ kheo! Cái gì là thức ăn cho Chánh Niệm Tỉnh Giác? Như Lý Tác Ý, cần phải trả lời như vậy.
7.      Này các Tỳ kheo! Cái gì là thức ăn cho Như Lý Tác Ý? Lòng Tin, cần phải trả lời như vậy.
8.      Này các Tỳ kheo! Cái gì là thức ăn cho Lòng Tin? Nghe Diệu Pháp, cần phải trả lời như vậy.
9.      Này các Tỳ kheo! Cái gì là thức ăn cho Nghe Diệu Pháp? Thân Cận Với Bậc Chân Nhân (Bậc tu chứng đạo), cần phải trả lời như vậy.

--o0o--


Kính gửi: Các con!

Món ăn giải thoát là một bài pháp thực hành rất cụ thể và căn bản nhất trong những lời đức Phật dạy từ xưa đến nay. Chúng ta hãy lắng nghe lời dạy thứ nhất của đức Phật: “Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho MINH GIẢI THOÁT (Tam Minh)? BẢY GIÁC CHI, cần phải trả lời như vậy”.

Đọc qua lời dạy này chúng ta thấy rõ con đường giải thoát của Phật giáo bắt đầu đức Phật chỉ thẳng cho chúng ta biết thành quả giải thoát cao nhất của Phật giáo là TAM MINH. Vậy muốn có TAM MINH thì phải tu tập như thế nào phải có BẢY NĂNG LỰC GIÁC CHI. Trong đoạn kinh này đức Phật xem BẢY NĂNG LỰC GIÁC CHI là món ăn của TAM MINH. Cho nên muốn có TAM MINH thì  phải tu tập có BẢY NĂNG LỰC GIÁC CHI. Đó là những kết quả pháp hành tối thượng của đạo Phật để làm chủ sinh, già, bệnh, chết.

Muốn đạt được TAM MINH và BẢY NĂNG LỰC GIÁC CHI thì phải tu tập pháp môn nào? Chúng ta hãy lắng nghe lời dạy thứ hai của đức Phật: “Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho (Năng Lực) Bảy Giác Chi? Bốn Niệm Xứ, cần phải trả lời như vậy”. Như vậy muốn có BẢY NĂNG LỰC GIÁC CHI thì phải tu tập pháp môn TỨ NIỆM XỨ, chứ không phải tu tập BẢY GIÁC CHI. Tất cả các nhà học giả xưa và nay đều hiểu lầm chỗ này, họ hiểu BẢY GIÁC CHI là bảy pháp tu tập, không ngờ tu tập pháp môn TỨ NIỆM XỨ  thì BẢY GIÁC CHI lần lượt xuất hiện từng GIÁC CHI. GIÁC CHI này xuất hiện xong thì GIÁC CHI kia xuất hiện, cứ trên trạng thái TỨ NIỆM XỨ tu tập kéo dài bảy ngày đêm thì BẢY GIÁC CHI xuất hiện đầy đủ. Khi BẢY GIÁC CHI xuất hiện đầy đủ thì liền có TỨ THẦN TÚC. TỨ THẦN TÚC gồm có;

1-    Tinh Tấn Như Ý Túc
2-    Định Như Ý Túc.
3-    Định Như Ý Túc.
4-    Tuệ Như Ý Túc.

Trong TUỆ NHƯ Ý TÚC có đầy đủ TAM MINH. TAM MINH gồm có:

1-    Túc Mạng Minh
2-    Thiên Nhãn Minh
3-    Lậu Tận Minh.

Như vậy muốn có BẢY GIÁC CHI, TỨ THẦN TÚC, TAM MINH thì chỉ cần tu tập pháp môn TỨ NIỆM XỨ. Vậy trước khi tu tập pháp môn TỨ NIỆM XỨ chúng ta phải tu tập pháp môn gì?

Chúng ta hãy lắng nghe lời dạy thứ ba của đức Phật: “Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho Bốn Niệm Xứ? Ba Thiện Hành, cần phải trả lời như vậy”. Vậy BA THIỆN HÀNH là gì?

BA THIỆN HÀNH là pháp môn TỨ CHÁNH CẦN. Muốn đạt được trạng thái TỨ NIỆM XỨ thì phải tu tập pháp môn TỨ CHÁNH CẦN tức là hằng ngày tu tập không lúc nào ngơi nghỉ. Đi, đứng, nằm, ngồi đều tu tập được cả luôn luôn dùng ý thức tri kiến ngăn và diệt các ác pháp bên ngoài lẫn bên trong của từng tâm niệm. Tất cả ác pháp này đều phải diệt  sạch chỉ còn giữ gìn và bảo vệ một pháp duy nhất, đó là TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC VÀ VÔ SỰ.

Trong sự tu tập ngăn ác diệt ác pháp thì SÁU CĂN PHẢI ĐƯỢC CHẾ NGỰ như lời dạy thứ tư của đức Phật: “Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho Ba Thiện Hành? Các Căn Được Chế Ngự, cần phải trả lời như vậy”.

 Muốn chế ngự các căn thì phải sáng suốt nhận xét sáu trần xem coi tâm dính mắc vào trần nào, nếu tâm dính mắc vào trần nào thì phải ngăn và diệt trần đó không cho dính mắc, đó là cách thức chế ngự các căn. Như vậy chế ngự các căn là phải CHÁNH NIỆM TỈNH GIÁC. Đúng như lời dạy thứ năm của đức Phật: “Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho Các Căn Được Chế Ngự? Chánh Niệm Tỉnh Giác, cần phải trả lời như vậy”. 


Khi tâm lúc nào cũng ở trong CHÁNH NIỆM TỈNH GIÁC thì tâm rất sáng suốt. Tâm sáng suốt thì không một trần cảnh hay một ác pháp nào muốn xăm chiếm vào tâm đều bị ý thức ngăn và diệt sạch ra khỏi tâm khiến tâm luôn luôn BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC VÀ VÔ SỰ. Muốn ngăn và diệt được ác pháp như vậy thì ý thức luôn luôn phải CHÁNH NIỆM TỈNH THỨC, nhờ có chánh niệm tỉnh thức mới biết dùng pháp NHƯ LÝ TÁC Ý. Có tu tập như vậy mới thấy lời dạy thứ sáu của đức Phật: “Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho Chánh Niệm Tỉnh Giác? Như Lý Tác Ý, cần phải trả lời như vậy”.

Đúng như vậy, những pháp hành này là những pháp bảo vệ và giữ gìn TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC, VÔ SỰ dễ dàng nhất mà không có một pháp nào hơn được. Đây là pháp môn rốt ráo nhất của Phật giáo để cứu người ra biển khổ. Cho nên các con hãy nhớ mà tu tập, xem pháp môn này như món ăn hằng ngày để nuôi sinh mạng của các con. Bởi vậy bài pháp THỨC ĂN của Phật dạy là một bài pháp tuyệt vời. Cuộc đời đi tu mà gặp pháp môn này như người đói mà gặp cơm và thực phẩm thì làm sao còn đói được nữa; như người nghèo gặp vàng bạc của báu thì làm sao còn nghèo nữa.

Trải qua sáu pháp tu học giúp chúng ta thấy Phật pháp rất thực tế và cụ thể trong các pháp hành. Tu đâu liền có kết quả ngay liền, bởi vì Phật pháp là pháp môn tu tập làm chủ thân tâm nên tu tập là có thấy kết quả làm chủ ngay liền.

Muốn siêng năng tinh tấn tu tập mà không biếng trể thì chúng ta hãy lắng nghe lời dạy thứ bảy của đức Phật: “Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho Như Lý Tác Ý? Lòng Tin, cần phải trả lời như vậy”.

Lời dạy thứ bảy của đức Phật là LÒNG TIN. Lòng tin do từ đâu mà có?

Chúng ta đã nghe sáu pháp môn thực hành trên đây của Phật giáo, mỗi pháp môn đều chỉ thẳng sự tu tập làm chủ thân tâm một cách cụ thể rõ ràng, khiến cho người nào tu tập cũng đều có sự làm chủ  thân tâm, mang đến sự giải thoát rõ ràng, nếu chúng ta không tu tập thì thôi mà đã tu tập thì ngay đó là có sự làm chủ giải thoát. Chỉ cần nghe chứ chưa tu tập mà chúng ta đã có lòng tin sâu sắc, lòng tin không thể còn ai lay chuyển được.

Nhờ có những pháp tu hành làm chủ thân tâm thực tế như vậy nên làm sao người ta không tin. Những pháp ấy đức Phật gọi là VI DIỆU PHÁP. Vậy chúng ta hãy lắng tai nghe lời dạy thứ tám của đức Phật: “Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho Lòng Tin? Nghe Diệu Pháp (chân pháp của Phật), cần phải trả lời như vậy”.

VI DIỆU PHÁP không phải là pháp môn cao siêu vĩ đại có thần thông, phép lực cao cường, hô phong, hoán vũ, tàng hình, biến hóa v.v… VI DIỆU PHÁP của Phật rất bình thường như ăn cơm uống nước dễ dàng như vậy, chứ không phải như đọc thần chú, luyện bùa như Mật Tông; chứ không như niệm Phật nhất tâm cầu vãng sinh Cực Lạc Tây Phương như Tịnh Độ Tông rất khó khăn; chứ không như ngồi thiền nhập định như Thiền Tông chân đau như buốt, gối mỏi, lưng thụng, đầu lút lắt như lên đồng nhập cốt v.v…

VI DIỆU PHÁP của Phật chỉ là những đức hạnh sống hằng ngày không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả các loài chúng sinh. Bởi vậy VI DIỆU PHÁP của Phật chỉ là pháp NGĂN ÁC DIỆT ÁC PHÁP hằng ngày trong tâm niệm của mình. Hầu hết mọi người tu hành chưa chứng đạo khi nghe nói đến VI DIỆU PHÁP thì liền nghĩ tưởng đó là pháp CAO SIÊU vượt ngoài sự hiểu biết của con người.

Người ta cho rằng VI DIỆU PHÁP còn có một cái tên là PHÁP MÔN BẤT TƯ NGHÌ có nghĩa là pháp môn không thể nghĩ bàn. Thật là con người quá giàu lòng tưởng tượng.

Ngày xưa đức Phật bảo: “Phật pháp không ngoài thế gian pháp”. Như vậy chúng ta không nên nghe những người tu chưa chứng mà hãy tìm những người đã tu chứng làm chủ sinh, già, bệnh, chết thì họ sẽ chỉ dạy những pháp mà họ đã tu chứng đạo như lời dạy thứ chín của đức Phật: “Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho Nghe Diệu Pháp? Thân Cận Với Bậc Chân Nhân (Bậc tu chứng đạo), cần phải trả lời như vậy”. Đúng vậy chỉ có những người tu chứng mới đủ khả năng dạy chúng ta tu chứng. Còn ngoài ra thì chúng ta đừng tin ai cả. Khi tu chưa chứng họ chẳng có kinh nghiệm tu hành nên dạy chúng ta tu hành không kết quả làm chủ thân tâm.


--o0o--
    
GIẢNG TRẠCH VÀ CHỈ THẲNG PHÁP MÔN TU TẬP

  Những lời dạy trên đây của đức Phật, chúng ta nhận thấy có CHÍN PHÁP tu tập gồm có:

1- THÂN CẬN THIỆN HỮU TRI THỨC:


Người mới bắt đầu vào đạo phải tu pháp môn nào trước? Như đức Phật dạy: Mới bắt đầu tu tập là phải THÂN CẬN THIỆN HỮU TRI THỨC. Thân cận thiện hữu tri thức là thân cận bậc tu đã chứng đạo, có nghĩa là phải sống ở gần bên người chứng đạo để được thưa hỏi những điều mình chưa hiểu biết. Như vậy pháp thứ nhất. là pháp “THÂN CẬN THIỆN HỮU TRI THỨC”

Khi sống được thân cận với bậc tu chứng đạo thì phải thưa hỏi chân lý giải thoát. Vậy chân lý giải thoát là cái gì?

2- NGHE VI DIỆU PHÁP.

Như lời đức Phật đã dạy: NGHE VI DIỆU PHÁP. Vậy NGHE VI DIỆU PHÁP là nghe pháp gì?

NGHE VI DIỆU PHÁP của đức Phật là nghe dạy BỐN CHÂN LÝ: KHỔ, TẬP, DIỆT, ĐẠO. Khổ, tập, diệt, đạo nghĩa là gì?

- KHỔ là nói về đời sống con người không ai là không khổ. Cho nên khi hiểu được đời là KHỔ thì ai cũng muốn đi tu cả.

- TẬP là nguyên nhân sinh ra mọi thứ đau khổ tức là LÒNG THAM MUỐN. Khi hiểu được lòng tham muốn là nguyên nhân sinh ra đau khổ thì ai cũng muốn tu tập để diệt trừ lòng ham muốn.

- DIỆT là một trạng thái TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC VÀ VÔ SỰ. Khi hiểu biết và nhận ra "tâm bất động, thanh thản, an lạc và vô sự" là chân lý giải thoát của Phật giáo thì ai cũng muốn gìn giữ và bảo vệ nó để sống cho được với trạng thái này.

- ĐẠO là tám lớp học để thực hiện những phương pháp tu tập giữ gìn và bảo vệ TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC VÀ VÔ SỰ. Khi nhận ra tám lớp học và những pháp tu tập để bảo vệ và giữ gìn tâm bất động thanh thản, an lạc và vô sự thì ai cũng muốn tu tập để được giải thoát.

3- LÒNG TIN

Khi nghe và nhận hiểu bốn chân lý này là sự thật của kiếp người thì còn ai mà không tin đạo Phật.

Khi chúng ta có LÒNG TIN thì pháp đầu tiên chúng ta tu tập là pháp NHƯ LÝ TÁC Ý.

4- NHƯ LÝ TÁC Ý

Pháp NHƯ LÝ TÁC Ý như thế nào?

 Pháp NHƯ LÝ có nghĩa là như lý của sự giải thoát. Vậy NHƯ LÝ CỦA SỰ GIẢI THOÁT như thế nào?

Như lý của sự giải thoát là TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC, VÔ SỰ. Đó là chân lý thứ ba của pháp môn “TỨ DIỆU ĐẾ”

Khi chúng ta thường xuyên tu tập pháp NHƯ LÝ TÁC Ý thì tâm chúng ta ở trong trạng thái CHÁNH NIỆM TĨNH GIÁC.

5- CHÁNH NIỆM TĨNH GIÁC

Pháp CHÁNH NIỆM TĨNH GIÁC nghĩa là gì?

CHÁNH NIỆM nghĩa là niệm đúng theo như lời đức Phật dạy, còn niệm không đúng lời Phật dạy là TÀ NIỆM. Vậy niệm đúng lời Phật dạy là niệm gì?

NIỆM TÂM BẤT ĐỘNG THANH THẢN, AN LẠC, VÔ SỰ (Niệm chân lý thứ ba), đó là CHÁNH NIỆM - CHÁNH NIỆM tức là TỨ NIỆM XỨ – TỨ NIỆM XỨ là chỉ cho một trạng thái TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC và VÔ SỰ.

TĨNH GIÁC nghĩa là gì?

TĨNH GIÁC có nghĩa là IM LẶNG VÀ SÁNG SUỐT.

Nghĩa chung của bốn từ này CHÁNH NIỆM TĨNH GIÁC là “LUÔN LUÔN IM LẶNG SÁNG SUỐT TRÊN TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC, VÔ SƯ”

Khi tâm luôn luôn im lặng sáng suốt trên tâm bất động thanh thản, an lạc, vô sự thì các căn không tiếp xúc các trần. Các căn không tiếp xúc các trần nên gọi là chế ngự các căn.

6- CHẾ NGỰ CÁC CĂN

Pháp CHẾ NGỰ CÁC CĂN nghĩa là gì?

PHÁP ĐỘC CƯ, ĐỘC BỘ, ĐỘC HÀNH. Nhờ pháp độc cư, độc bộ, độc hành mới chế ngự các căn và làm cho các căn không còn phóng dật chạy theo các trần. Do đó THÂN HÀNH, KHẨU HÀNH VÀ Ý HÀNH đều được thanh tịnh tức là thân hành, khẩu hành và ý hành không còn làm điều ác nên gọi là BA THIỆN HẠNH

7- BA THIN HẠNH

Pháp BA THIỆN HẠNH nghĩa là gì?

Pháp BA THIỆN HẠNH là pháp TỨ CHÁNH CẦN, người sống với BA THIỆN HẠNH là người đang "ngăn ác, diệt ác pháp; sinh thiện, tăng trưởng thiện pháp."

BA THIỆN HẠNH tức là ba hành động THÂN, KHẨU, Ý thanh tịnh. Ba hành động THÂN, KHẨU, Ý thanh tịnh là toàn thân thanh tịnh. TOÀN THÂN THANH TỊNH tức là bốn chỗ thanh tịnh. Bốn chỗ là THÂN, THỌ, TÂM, PHÁP thanh tịnh. Thân, thọ, tâm, pháp là TỨ NIỆM XỨ. Tứ Niệm Xứ thanh tịnh là thân tâm thanh tịnh.

8- TỨ NIỆM XỨ

LUÔN LUÔN IM LẶNG SÁNG SUỐT TRÊN TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC, VÔ SỰ tức là tâm đang ở trên TỨ NIỆM XỨ. Tâm ở trên trạng thái TỨ NIỆM XỨ này lần lượt xuất hiện đủ BẢY NĂNG LỰC GIÁC CHI.

9- BẢY NĂNG LỰC GIÁC CHI

Khi tâm tinh tấn siêng năng LUÔN LUÔN IM LẶNG SÁNG SUỐT TRÊN TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC, VÔ SỰ thì TINH TẤN GIÁC CHI xuất hiện, khi TINH TẤN GIÁC CHI xuất hiện thì NIỆM GIÁC CHI xuất hiện, khi NIỆM GIÁC CHI xuất hiện thì ĐỊNH GIÁC CHI xuất hiện; ĐỊNH GIÁC CHI xuất hiện thì KHINH AN GIÁC CHI xuất hiện; KHINH AN GIÁC CHI xuất hiện thì HỶ GIÁC CHI xuất hiện; HỶ GIÁC CHI xuất hiện thì XẢ GIÁC CHI xuất hiện; XẢ GIÁC CHI xuất hiện thì TRẠCH PHÁP GIÁC CHI xuất hiện.

Khi BẢY NĂNG GIÁC CHI xuất hiện đầy đủ thì thân tâm chúng ta có TỨ THẦN TÚC. TỨ THẦN TÚC gồm có:

1-    TINH TẤN NHƯ Ý TÚC (Tứ Niệm Xứ)
2-    DỤC NHƯ Ý TÚC (Lục Thông)
3-    ĐỊNH NHƯ Ý TÚC (Tứ Thánh Định)
4-    TUỆ NHƯ Ý TÚC (Trí tuệ Tam Minh)

Tu tập đến đây là chúng ta đã CHỨNG ĐẠO, không còn tu tập một pháp nào nữa cả. Vì thân tâm chúng ta có đủ nội lực làm chủ sự sống chết, chấm dứt tái sinh, tự tại trong sinh tử, không còn bị nhân quả chi phối, điều hành nữa.


(Trích từ sách "Những Lời Tâm Huyết" trang 27-37, xuất bản năm 2009)

CHỨNG ĐẠO


TÂM THƯ GỬI CÁC CON (Ngày 18-5-2009)

Một lần nữa Thầy nói về CHỨNG ĐẠO, các con đừng cho rằng tu hành theo Phật giáo là không chứng đạo. Chứng đạo là một sự thật của Phật giáo. Phật giáo là một tôn giáo vì loài người, cho nên tu hành phải có CHỨNG ĐẠO. Phật giáo là một tôn giáo luôn luôn biết dùng tự lực của mình vượt lên mọi đau khổ của cuộc đời, vì vượt lên mọi khổ đau của cuộc đời nên CHỨNG ĐẠO. Một tôn giáo nhờ vào tha lực của Thần, Thánh, Tiên, Phật, Trời, Bồ Tát cứu khổ, cứu nạn, giải trừ bệnh tật, tai ách khổ đau của mình là một tôn giáo mê tín.

Mục đích của đạo Phật là làm chủ SINH, GIÀ, BỆNH, CHẾT. Cho nên người nào làm chủ được SINH, GIÀ, BỆNH, CHẾT là người CHỨNG ĐẠO. Vì thế đạo Phật là đạo TỰ LỰC chứ không phải đạo THA LỰC. Ai tu theo Phật giáo mà cầu cúng lạy lễ van xin TAM BẢO gia hộ là theo ngoại đạo Bà La môn.

Đạo Phật còn gọi là đạo GIẢI THOÁT, vì thế ai sống đúng đạo đức không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sinh là CHỨNG ĐẠO. Bởi không làm khổ mình, khổ người, khổ tất cả chúng sinh đó là GIẢI THOÁT, mà giải thoát là CHỨNG ĐẠO. Sự chứng đạo của Phật giáo không có khó khăn, không có mệt nhọc chỉ cần chịu khó học tập đạo đức nhân bản – nhân quả, sống với PHÁP TRÍ ĐẠO ĐỨC và TÙY TRÍ ĐẠO ĐỨC là có sự giải thoát ngay trước mặt. Có sự GIẢI THOÁT ngay trước mặt là CHỨNG ĐẠO.

Muốn làm sáng tỏ sự CHỨNG ĐẠO các con đừng giải thích theo chữ Hán (Trung Hoa). Đạo là con đường, nẻo, lối đi... Giải thích như vậy không đúng nghĩa Phật giáo. Vì ĐẠO ở đây có nghĩa là tâm không còn khổ đau, tâm được yên ổn an vui, tâm bất động không còn một ác pháp nào làm cho tâm động. Những điều trên đây tâm đã đạt được thì mới gọi là GIẢI THOÁT, mà giải thoát là CHỨNG ĐẠO như trên đã nói. Khi nói đến CHỨNG ĐẠO thì đức Phật dùng một cụm từ chỉ cho chúng ta thấy sự CHỨNG ĐẠO: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, các việc làm đã làm xong không còn trở lui trạng thái này nữa”. Cụm từ này chỉ rất rõ sự GIẢI THOÁT:

1- SANH ĐÃ TẬN có nghĩa là cuộc sống không còn đau khổ.

2- PHẠM HẠNH ĐÃ THÀNH có nghĩa là đời sống giới luật đức hạnh nghiêm chỉnh.

3- CÁC VIỆC LÀM ĐÃ LÀM XONG có nghĩa là sự tu tập đã hoàn tất không còn tu tập một pháp môn nào nữa.

4- KHÔNG CÒN TRỞ LUI LẠI TRẠNG THÁI NÀY NỮA có nghĩa là tâm không còn tham, sân, si, mạn, nghi nữa.

 CHỨNG ĐẠO có nghĩa là giải thoát hoàn toàn tâm không còn tham, sân, si, mạn, nghi như trên đã nói. Cho nên trong kinh Tương Ưng có đoạn ông Xá Lợi Phất hỏi Phật: “Bạch Thế Tôn! Nếu con được hỏi: Này hiền giả, giải thoát như thế nào mà Thế Tôn tuyên bố đã được chứng đắc. Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, các việc làm đã làm xong không còn trở lui lại trạng thái này nữa? Thì con sẽ trả lời, do tự giải thoát, do tự đoạn diệt tất cả các chấp thủ, do tự làm tâm con luôn an lạc trong chánh niệm. Nhờ sống an lạc trong chánh niệm như vậy, các lậu hoặc không còn tiếp tục rỉ chảy và không còn tự chấp tự ngã”.

Ngài Xá Lợi Phất trả lời rất đúng. Sự giải thoát này phải do chính mình, không có một người nào giúp mình được. Do tự chính mình phải ĐOẠN DIỆT CÁC CHẤP THỦ và phải luôn luôn SỐNG AN TÂM TRONG CHÁNH NIỆM, nhờ vậy mọi ác pháp không còn tác động được tâm. Để xác định sự CHỨNG ĐẠO, một lần nữa kinh Tương Ưng dạy: “Tóm lại pháp môn này gọi tắt như sau, những cái gì được vị sa môn gọi là lậu hoặc là Ta không còn nghi ngờ gì nữa, chúng đã được Ta diệt tận không còn phân vân gì nữa ”. (100 Tương Ưng tập 2). Đọc những lời trên đây ai còn phủ nhận đạo Phật không CHỨNG ĐẠO.

Đức Phật xác định rõ cho chúng ta biết thế nào là PHÁP TRÍ? “Này các thầy Tỳ Kheo, vị thánh đệ tử biết già, chết như vậy, biết già tập khổ như vậy, biết già diệt như vậy, biết con đường đưa đến già, chết diệt như vậy. Đây là PHÁP TRÍ của vị ấy . Vị ấy với pháp này được thấy, được biết, được quả tức thời, được đạt đến, được thể nhập hướng dẫn thái độ của mình đối với quá khứ và trong tương lai”


Người có trí tuệ về các PHÁP của đời sống con người thì phải thông suốt GIÀ, CHẾT. Thông suốt GIÀ, CHẾT thì được gọi là PHÁP TRÍ.

1- GIÀ là cơ thể suy nhược, răng rụng, da nhăn, tóc bạc, lưng khọm, tay chân run rẩy, yếu đuối... Đó là một sự đau khổ của kiếp người.

2- CHẾT là cơ thể bị hủy diệt, tử vong, các uẩn tàn lụn, hoại diệt... Đó là một sự đau khổ mà con người không ai tránh khỏi.

Do thông suốt sự đau khổ ấy nên người có trí phải lo tu tập làm chủ GIÀ, CHẾT. Một lần nữa đức Phật dạy: “Này các thầy Tỳ Kheo, vị thánh đệ tử biết già chết như vậy, biết già tập khổ như vậy, biết già diệt như vậy, biết con đường đưa đến già chết diệt như vậy”.

Một khi đã hiểu biết như vậy thì chúng ta cố gắng tu tập để giữ gìn tâm bất động, do giữ gìn tâm bất động thì lậu hoặc hoàn toàn sẽ bị diệt sạch. Cho nên kinh Tương Ưng xác định một lần nữa để chúng ta hiểu rõ sự GIẢI THOÁT bằng PHÁP TRÍ: “Đây là PHÁP TRÍ của vị ấy. Vị ấy với pháp này được thấy, được biết, được quả tức thời, được đạt đến, được thể nhập hướng dẫn thái độ của mình đối với quá khứ và trong tương lai”. (106 Tương Ưng tập 2)

PHÁP TRÍ là trí tuệ hiểu biết về các pháp sinh, già, bệnh, chết là khổ, người có pháp trí hiểu biết cuộc đời này là khổ, không có vật gì trên thế gian này là ta, là của ta nên buông xả sạch, vì thế họ được giải thoát hoàn toàn.

Khi một người có PHÁP TRÍ, nên về tương lai có xảy ra điều gì họ chẳng lo lắng buồn phiền và sợ hãi. Do chẳng còn buồn phiền và sợ hãi nên họ được giải thoát. Đó là họ đang sống trong TÙY TRÍ. Bởi người có TÙY TRÍ là người giải thoát về tương lai. Đây chúng ta hãy nghe đức Phật dạy: “Những Sa môn hay Bà la môn nào trong tương lai sẽ hiểu rõ già chết, sẽ hiểu rõ già chết tập khởi, sẽ hiểu rõ già chết diệt, sẽ hiểu rõ con đường đưa tới già chết diệt, tất cả những vị ấy sẽ hiểu biết như vậy. Như vậy, như hiện nay Ta vậy. Đây tức là TÙY TRÍ của vị ấy”.

Tóm lại người có PHÁP TRÍ và TÙY TRÍ là người đang sống trong ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai hoàn toàn thân tâm họ được giải thoát không còn một chút xíu nào lậu hoặc. Người ấy được nhập lưu, nhập vào dòng thánh, được đầy đủ trí hữu học, được đầy đủ minh hữu học. Một lần nữa, để xác định điều này đức Phật đã dạy: “Này các thầy Tỳ Kheo! Vì rằng vị thánh đệ tử được thanh tịnh và thuần tịnh hai loại trí: PHÁP TRÍ và TÙY TRÍ. Vị ấy được gọi là thánh đệ tử đạt tri kiến, đã đi đến diệu pháp này, đã chấp nhận diệu pháp này, đã đầy đủ hữu học trí, đã đầy đủ hữu học minh, đã nhập được pháp lưu, là bậc thánh minh đạt tuệ, đã đứng gõ vào cửa bất tử”. (107 Tương Ưng tập 2)

Trong lời dạy này chỉ định rất rõ người có đầy đủ PHÁP TRÍ và TÙY TRÍ là người hoàn toàn làm chủ sinh, già, bệnh, chết, cho nên lời dạy trong đoạn kinh này rất rõ ràng họ là người đã đứng gõ vào cửa BẤT TỬ.

Thầy xin ghi lại lời PHẬT dạy để minh chứng rằng sự giải thoát của Phật giáo bằng sự hiểu biết mà đức Phật gọi là PHÁP TRÍ và TÙY TRÍ. Cho nên CHỨNG ĐẠO không phải chứng bằng THIỀN ĐỊNH như mọi người nghĩ mà chứng đạo bằng PHÁP TRÍ và TÙY TRÍ.

                                                            Kính ghi,
                                       Trưởng lão Thích Thông Lạc



(Bài này trích từ Tu viện Chơn Như)

Mời các bạn đọc tiếp bài:
1- Chứng đạo là chứng cái gì?
2- Chứng đạo là chứng ở đâu? ở chổ nào?
3- Như thế nào là làm chủ Sanh, Già, Bệnh, Chết

DẪN TÂM VÀO ĐẠO

TRẢ LỜI NHỮNG CÂU HỎI
(29-4-2009) 

1- Các con nên nhớ câu tác ý là câu DẪN TÂM VÀO ĐẠO. Vậy đạo là cái gì?

ĐẠO là chổ thân tâm không còn đau khổ. Trả lời như vậy các con hiểu chưa? Nếu các con chưa hiểu thì nên xét nghiệm lại thân tâm các con hiện giờ, về tâm có giận hờn, buồn phiền, lo lắng, thương nhớ, sợ hãi hay không? Nếu không thì nó đang im lặng, thanh thản và vô sự đó; về thân các con có cảm nhận bệnh tật đau nhức chổ nào không? Nếu không đó  nó đang an lạc và vô sự.

Như vậy ĐẠO GIẢI THOÁT là chổ “THÂN TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC VÀ VÔ SỰ”. Cho nên DẪN TÂM VÀO ĐẠO là dẫn tâm vào chỗ “THÂN TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC VÀ VÔ SỰ”.

     Ví dụ 1:
1- CẬU BÉ
2- SỢI DÂY
3- CON TRÂU
CẬU BÉ dụ như CÁC CON
SỢI DÂY dụ như CÂU TÁC Ý
CON TRÂU dụ như “THÂN TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC VÀ VÔ SỰ”.
Khi các con MUỐN TÁC Ý, đó là CẬU BÉ nắm lấy sợi dây cột CON TRÂU.
Khi các con ĐANG TÁC Ý là CẬU BÉ dắt TRÂU.
Khi CON TRÂU bước đi là “THÂN TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC VÀ VÔ SỰ”.
     Ví dụ 2:
1- TÁC Ý
2- NGÓN TAY CHỈ
3- MẶT TRĂNG SÁNG

a- TÁC Ý: Bắt đầu tu tập, các con chọn chổ nơi yên tịnh vắng vẻ, ngồi bán già hay kiết già hay ngồi trong bất cứ tư thế nào nhưng lưng phải thẳng, không nên khòm lưng cúp cổ hay nghiêng đầu, cúi đầu hay ngưỡng cổ. Đặc biệt ngồi hay đi đứng đầu, lưng không được cúi khòm mà phải gìn giữ ngay thẳng.

Sau khi giữ gìn lưng ngay thẳng thì các con để cho thân tâm yên lặng 1 phút rồi mới tác ý rõ ràng từng chữ một như: “TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC VÀ VÔ SỰ”, khi tác ý xong giữ tâm yên lặng thì lúc bấy giờ tâm biết hơi thở ra vô.

b- NGÓN TAY CHỈ: Hơi thở ra vô là ngón tay chỉ mặt trăng. Cho nên khi tác ý xong mà tâm các con chỉ chú ý trong hơi thở thì khác nào các con tu tập ĐỊNH NIỆM HƠI THỞ, đó là tu tập sai. Các con tu tập như vậy là các con tu tập ĐỊNH NIỆM HƠI THỞ, chứ không phải tu pháp DẪN TÂM VÀO ĐẠO.

DẪN TÂM VÀO ĐẠO là lúc bấy giờ các con NƯƠNG VÀO HƠI THỞ để biết TÂM BẤT ĐỘNG. Các con biết cách tu tập như thế này chưa?

c- MẶT TRĂNG: Mặt trăng chính là TÂM BẤT ĐỘNG của các con. Như vậy NƯƠNG HƠI THỞ ĐỂ NHÌN MẶT TRĂNG, chứ không phải chỉ biết có HƠI THỞ RA VÔ. Biết có hơi thở ra vô là tu tập sai pháp không đúng pháp DẪN TÂM, vì vậy vọng tưởng, hôn trầm thường đến thăm viếng các con.

Tất cả sự trình bày của các con đều là tu sai pháp, tu pháp này lẫn sang pháp khác. Thật tội nghiệp cho các con quá!

Phải bền chí kiên gan tu tập lại đừng theo kiến giải của mình mà tu pháp này pháp khác. Nhất là tự kiến giải ra tu tập thì con xa muôn dặm.

Phải theo lời Phật dạy: SỐNG TRONG CÁI HẠ LIỆT KHÔNG THỂ CHỨNG ĐẠT CÁI CAO THƯỢNG.
“Này các thầy Tỳ kheo! Không phải sống với cái hạ liệt có thể đạt cái cao thượng“ (Trang 57 Tương Ưng tập 2)

Như vậy đức Phật đã xác định rõ ràng: Một người sống trong hạ liệt mà muốn chứng trong cái cao thượng thì không thể nào chứng đặt được. Vậy sống trong hạ liệt là sống như thế nào?

Sống trong hạ liệt là sống chạy theo dục lạc thế gian, tâm còn đầy tham, sân, si, mạn, nghi; tâm chưa sống ly dục, ly ác pháp, mỗi chút mỗi phiền não giận hờn khổ đau; tâm còn ham muốn cái này cái kia. Hằng ngày tâm còn phóng dật thấy cái này thấy cái kia. Thấy cái này cái kia tâm còn muốn nhìn, ngó, lưu ý thì làm sao chứng đạt cái cao thượng được.

Cho nên quí Thầy, quí Cô tu tập thì tốt nhưng không chứng đạo là hay ngó nhìn ra ngoài. Tại sao quí Thầy, quí Cô không nhìn ngó vào thân tâm của mình mà lại nhìn ngó ra ngoài. Nhìn ngó ra ngoài có lợi ích gì?

Khi quyết tâm tu tập để làm chủ sinh, già, bệnh, chết thì hãy nhìn vào thân tâm của mình để làm chủ nó, nếu nó làm sai hay làm không đúng thì chúng ta đều biết liền. Biết sai thì ngăn chặn lại không làm theo, biết đúng thì tăng trưởng và làm theo cho thân tâm mỗi ngày một tốt hơn. Nhờ chúng ta biết tập sống như vậy nên từ chổ sống hạ liệt trở thành sống thanh cao, còn nếu không biết sống như vậy thì sống từ cái hạ liệt này sẽ mãi mãi sống trong cái hạ liệt khác. Cho nên đức Phật mới dạy như vậy: “SỐNG TRONG CÁI HẠ LIỆT KHÔNG THỂ CHỨNG ĐẠT CÁI CAO THƯỢNG”. Dù chúng ta muốn tu chứng đạt giải thoát mà sống trong hạ liệt thì tu vô lượng kiếp cũng chẳng đi đến đâu.

Thầy dạy PHÁP DẪN TÂM VÀO ĐẠO là pháp cao thượng, vì thế các con muốn chứng đạo phải sống cao thượng thì mới tu tập không sai.
--o0o-- 

PHẬT PHÁP TU HÀNH KHÔNG KHÓ


Đúng như tựa đề của bài pháp này, nên đức Phật dạy: “Pháp Ta không co thời gian đến để mà thấy”. Có nghĩa là PHẬT PHÁP không có dụng công tu tập như các pháp môn ngoại đạo, chỉ cần hiểu biết tính chất của các pháp thế gian là VÔ THƯỜNG, VÔ NGÃ thì người có trí liền BUÔNG XẢ sạch các pháp. Nhờ BUÔNG XẢ sạch các pháp thế gian nên không có pháp nào làm ĐỘNG TÂM họ được.


Khi tâm BUÔNG XẢ sạch các pháp thế gian thì tâm luông luôn ở trong trạng thái BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC, VÔ SỰ. Một trạng thái giải thoát mà người tu sĩ Phật giáo nào cũng đều tha thiết muốn sống được với nó. Nhưng muốn sống với nó phải bằng cách nào đây?


Để trả lời câu hỏi này thì chúng tôi xin quý vị hãy lắng nghe và suy tư cho chín chắn thì mới biết rõ: Từ lâu mọi người đều hiểu không đúng chánh pháp của PHẬT, nên dụng công tu tập từ ngày này qua ngày khác mà kết quả chẳng có gì: Chính sự hiểu sai PHẬT PHÁP mà quý vị tốn rất nhiều công sức tu tập, nhưng xét lại chẳng có lợi ích gì cho bản thân mà còn xa lìa PHẬT PHÁP, vì thế tu mãi mà không tìm thấy GIẢI THOÁT.


Có những người tu tập nhiều năm gần như suôt cả cuộc đời, thế mà vừa nghe bạn đồng tu gõ cửa và nói rằng: “Con khuyên thầy đứng dậy đi đi!”. Vừa nghe lời khuyên nhủ của bạn đồng tu, thay vì nói lời cám ơn, nhưng ngược lại thầy nói: “Ngồi không được à!”. Nghe nói vậy vị thầy đi kiểm tra liền bỏ đi.


Sau khi vị thầy đi kiểm tra quay lại thì vi thầy kia ra giữa đường chặn lại và nói: “Thầy có nhìn thấy tôi ngủ gật bao giờ chưa?. Nếu tôi ngủ gật tôi sẽ rời khỏi tu viện ngay lập tức. Người ta đang ở trong định mà thầy làm vậy là phá người ta, là xâm phạm nhân quyền. Tôi có thể ngồi 5-6 tiếng đồng hồ. Trưởng lão cho phép tu trong 4 oai nghi. Thầy đi kiểm tra theo dõi tôi thế nào tôi biết hết”. Lúc bấy giờ thầy đi kiểm tra nói: “Con thấy thầy mắt nhắm và gật”. Khi nói xong lời này, thấy mình không thể khuyên được vị thầy đó nên thầy đi kiểm tra xá và nói: “con xin sám hối thầy”. Khi đó vị thầy đó mới đi vô thất.


Qua những sự đối đáp này đã làm cho mọi người biết vị thầy đó tu hành không xả được tâm mà ức chế tâm nên mới bộc phát cơn sân dữ dội như vậy. Thật đáng thương thay! Bỏ hết cuộc đời để tu tập mà giờ đây tâm tánh vẫn còn như người thế gian. Do thấy sự tu tập này mà Thầy viết bức tâm thư gửi các con, để các con xét lại sự tu tập của mình, ngõ hầu sự tu tập của các con không còn sai lạc nữa.
Sự GIẢI THOÁT của PHẬT GIÁO rất đơn giản, chỉ cần sống TỰ NHIÊN với tâm BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC và VÔ SỰ. Sống mà không có sự tu tập gò bó thân tâm thì mới thấy sự GIẢI THOÁT chân thật của ĐẠO PHẬT. Còn ngược lại dụng công tu tập làm gò bó thân tâm để tâm BẤT ĐỘNG thì làm sao thấy sự GIẢI THOÁT. Phải không thưa quý vị?


Từ lâu mọi người hiểu sai PHẬT PHÁP nên cố gắng tu tập, vì thế mà không có một vị sư, thầy nào làm chủ SINH, GIÀ, BỆNH, CHẾT như PHẬT.
Dù sử dụng trong bốn oai nghi: đi, đứng, nằm, ngồi mà tâm vẫn tự nhiên như người NHÀN DU, VÔ SỰ.  Đó là người đã BUÔNG XẢ sạch. Vì thế họ không còn tu tập một pháp môn nào nữa cả...


Bởi vậy người nào hiểu đúng PHẬT PHÁP là phải cảm nhận được tâm BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC và VÔ SỰ. Nhờ có cảm nhận được tâm như vậy nên họ đã trở thành CON TÊ NGƯU MỘT SỪNG luôn luôn sống MỘT MÌNH.


Ngược lại người nào không cảm nhận được tâm BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC và VÔ SỰ thì nên theo pháp NHƯ LÝ TÁC Ý để hằng ngày ngăn và diệt tất cả ác pháp thì mới mong BUÔN XẢ tất cả các pháp thế gian, nhưng phải bền chí trong một thời gian dài.


Khi sống được với tâm BẤT ĐỘNG thì ngũ triền cái và thất kiết sử không làm sao tác động được. Vì thế không cần phải tu tập pháp môn ly dục, ly ác pháp mà tâm vẫn tự ly dục, ly ác pháp. Như vậy chỉ cần sống với tâm BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC và VÔ SỰ là tâm đã xả sạch. Hiểu như vậy mới thấy PHẬT PHÁP rất nhiệm mầu.


Đối với BỆNH TẬT và tất cả các ÁC PHÁP, khi gặp tâm BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC và VÔ SỰ, nó đều lìa xa khỏi thân tâm ngay tức khắc. Như vậy BỆNH TẬT và tất cả các ÁC PHÁP không còn tác dụng vào thân tâm được nữa, đó là trạng thái NIẾT BÀN trong cuộc sống, chớ không phải đợi chết mới vào NIẾT BÀN. Vì thế đức PHẬT dạy: “Pháp ta không có thời gian đến để mà thấy!”.


(Trích từ tu viện Chơn Như)

Sunday, February 19, 2012

ĐỨC KÍNH TRỌNG


Đức kính trọng là một đức cao cả tuyệt vời giữa người với người. 

Ai ai chúng ta cũng đều cung kính và tôn trọng. Không bao giờ mở một lời nói hay hành động nào nói xấu, chê bai, chỉ trích, nhận xét, bình luận đúng sai. Nếu thấy con đường của họ đi không hợp với mình thì mình không theo.

Kính trọng gồm 2 đức cung kính và tôn trọng.

  • Đức cung kính có thể tham khảo ở đây.
  • Tôn trọng là không bao giờ có những suy nghĩ, lời nói hay hành động thất lễ hay vô lễ, không bao giờ nói xấu, chỉ trích chê bai trước mặt lẫn sau lưng. Ngược lại chỉ nói những lời nói ôn tồn, nhẹ nhàng lễ phép, biết lắng nghe họ chỉ dạy, luôn nhường cho họ những ưu tiên, sẵn sàng giúp đỡ họ khi có yêu cầu, v.v...

Đức kính trọng giúp cho cuộc sống giữa người và người gần gủi hơn, thông cảm với nhau nhiều hơn. Người có đạo đức khi thấy ai sai, hay lầm lỗi, thì chỉ biết thương yêu họ hơn. Cớ sao chúng ta lại nói xấu, chỉ trích, chê bai họ thêm. Làm như vậy thì chúng ta đã tự nói với người khác rằng mình cũng không tốt gì, không có đức hạnh đạo đức. Bởi vì người sống có đạo đức không bao giờ nói xấu, chê bai hay chỉ trích ai. 

Do vậy, là người sống đạo đức chúng ta hãy luôn cung kính và tôn trọng tất cả mọi người, không phân biệt ai, dù ai có lầm lỗi gì, sai lầm gì, có đi con đường nào khác với ta, không cùng môn phái, không cùng tôn giáo, không cùng ngành của ta học hay làm việc,… Chúng ta vẫn kính trọng, chào hỏi, hỏi thăm, luôn ước mong họ luôn khỏe mạnh, an vui và hạnh phúc. 

Ví dụ: Trong tôn giáo, giả sử chúng ta là đệ tử của thầy Thích Nhất Hạnh, khi gặp những quý thầy sư, sư cô của các môn phái khác không phân biệt Đại Đức, Thượng Tọa hay Hòa Thượng hoặc các vị linh mục, mục sư, cha, Đức Hồng Y, Đức Giáo Hoàng, các Sơ trong các tôn giáo khác,... chúng ta đều kính trọng như kính trọng thầy của mình. Trước mặt lẫn sau lưng không bao giờ nói xấu, chỉ trích chê bai ai dù họ là ai, tu theo pháp môn gì, theo tôn giáo nào, học ngành nào, giàu hay nghèo, dân thành thị hay nông thôn, miền núi, có học hay không học, xấu hay đẹp, thông minh hay ngu dốt, sang hay hèn, người nước mình hay người nước ngoài, em bé hay người lớn, v.v...

Tóm lại, người có đức kính trọng luôn kính trọng tất cả mọi người như kính trọng cha mẹ mình. Đức kính trọng giúp cho tâm hồn ta luôn thanh thản, vui tươi và tràn đầy tình thương yêu chân thật giữa người và người.  

Mời bạn đọc câu chuyện Hạt Giống Tâm Hồn "Lỗi Lầm"

Saturday, February 18, 2012

Tại Sao Tu Hoài Chưa Giải Thoát

Bước chân vào đo Pht, ai ai cũng mun tìm cho mình con đường gii thoát trong kiếp làm người này. Nhưng tại sao tu hoài mà chưa giải thoát ? T thi đc Pht đến nay my ai đã hoàn toàn gii thoát. Có bao nhiêu nguyên nhân ? chúng ta hãy cùng xem có phi do nhng nguyên nhân chính sau đây hay không ?

                    
1.      Hiểu sai mục đích của đạo Phật.
2.      Chưa buông xuống sạch ngoài đời.
3.      Còn dính mắc vào pháp tu hành.
4.      Dính mắc vào những thứ khác trong chùa hoặc ở nơi tu tập.
5.      Dính mắc vào trạng thái tâm không niệm, tâm bất động và các trạng thái hỷ lạc khác.
6.      Tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự không phải là tâm không niệm
7.      Bị hôn trầm thùy miên.
8.      Chưa có ý chí mạnh mẽ tìm cầu sự giải thoát
9.      Không giữ gìn giới luật nghiêm chỉnh

Chúng ta hãy đi sâu vào phân tích 9 vấn đề này:



1.                    Hiểu sai mục đích của đạo Phật.
Mục đích của đạo Phật dạy cho con người:
·         Sống đời sống đạo đức, không làm khổ mình, khổ người và khổ chúng sinh. Luôn sống trong thương yêu, đem niềm vui và hạnh phúc đến cho mình, mọi người và tất cả chúng sinh.  
·         Giữ gìn tâm bất động trước các ác pháp và các cảm thọ. Không lo lắng buồn phiền và sợ hãi. Không phiền não giận hờn trước những lời nhục mạ, chỉ trích, nói xấu, chê bai, chửi mắng, v.v.. Không tham đắm vào những dục lạc thế gian,…
·         V.v…
Nếu chúng ta hiểu sai mục đích của vào đạo Phật thì việc tu hành của chúng ta sẽ không mang đến một kết quả giải thoát nào.

2.                    Chưa buông xuống sạch ngoài đời.
Người đến với đạo Phật đều hiểu câu nói này, nhưng mấy ai buông xuống được, vì còn vướn bận gia đình, tài sản lớn nhỏ, nghề nghiệp, tình cảm, tiền bạc của cải, sự hiểu biết, tư tưởng, những dục lạc thế gian, những việc làm từ thiện ngoài xã hội… Đó là xả phần thô, xả phần vi tế là xả khi sống đời sống độc  cư.

 Chỉ cần buông xuống hết là đã gần như giải thoát rồi còn gì. Bạn có tin không. Đến cuối bài này bạn sẽ hiểu.
 

3.                    Còn dính mắc vào pháp tu hành.
Tại sao lại nói như vậy? Đạo Phật chỉ rõ cho chúng ta thấy chỉ có buông xuống sạch thì giải thoát. Vậy việc chính là buông xuống sạch, việc phụ là các pháp tu hành. Nhưng khi mọi người đến với đạo Phật thì “coi việc phụ làm việc chính”. Họ thường ôm pháp tu hành, bận rộn từ ngày đến đêm, từ lúc vào chùa đến lúc chết. Ví dụ như: ngồi thiền, gỏ mõ tụng kinh, niệm phật, tham công án, đọc thần chú, ôm pháp Thân Hành Niệm đi kinh hành suốt ngày, tu Định Niệm Hơi Thở gom tâm, nhiếp tâm vào đề mục nào đó, theo dõi hơi thở hay bụng phình xẹp, ngồi gò bó thân tâm khiến thân tâm bị ức chế dẫn đến tẩu hỏa nhập ma rơi vào các loại tưởng ma.

Cuộc sống đã quá khổ, muốn vào đạo tìm sự giải thoát, đã buông xả sạch ngoài đời rồi, ai ngờ vào đạo lại phải ôm những cái khác vào, lại bị dính mắc tiếp vào pháp tu hành, bận rộn cả ngày lẫn đêm, ngày này qua ngày khác đến suốt đời, vậy thì làm sao gọi là giải thoát. Đâu cần phải công phu tu tập để chứng minh mình là người tu hành. Đời sống giới luật đức hạnh cũng đủ chứng minh mình là người tu hành rồi. Tại sao chúng ta không ngồi chơi sống độc cư một mình xả tâm cho sướng?. Do vậy, kính xin các vị tôn túc, Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức, và các hiền giả phật tử xem xét lại cách tu hành như hiện nay có thật sự đem đến giải thoát không hay là chỉ thêm gánh nặng cho người tu hành?



4.                    Dính mắc vào những thứ khác trong chùa hoặc ở nơi tu tập
Khi buông xả những phần thô ngoài đời, vào chùa chúng ta thường lại bị dính mắc pháp tu hành và những thứ linh tinh khác làm cho tâm càng chướng ngại thêm đó là: danh lợi trong chùa, tiền bạc, hơn thua, chuyện người khác, chuyện tu hành của người khác, chuyện đúng sai phải trái, chuyện tổ chức quản lý trong chùa, chuyện xây dựng, chuyện sữa chữa tu bổ chùa, làm công quả, chuyện giảng đạo (tu xong rồi tính sao), chuyện của phật tử, chuyện làm từ thiện, chuyện ăn uống, nấu nướng, v.v…

Chỉ cần chúng ta hiểu rõ chùa cũng là một nơi thử thách khác, cũng không khác gì ngoài đời, đó chỉ là một không gian thu nhỏ lại của ngoài đời thôi, cuộc sống sinh hoạt cũng giống ngoài đời chứ không phải thiên đường gì cả, cũng đầy người có tham sân si như ta cả. Việc của ta là xả tâm. Tất cả mọi cảnh vật, chuyện xảy ra trong chùa cũng là những thử thách, là những đối tượng để ta tu tập xả tâm cho sạch. Nếu ta xác định vào đó tìm đường giải thoát thì không nên dính mắc vào bất kỳ chuyện gì cả, còn những chuyện khác có ban đời sống lo. Ai làm gì mặc kệ,  “chuyện ta ta tu, chuyện họ họ lo”.

Tu theo đạo Phật chỉ cần buông xuống sạch tất cả, sau đó tìm một chỗ thanh tịnh, yên tĩnh để sống:



·        Đời sống độc cư: là đời sống một mình trong một cái nhà nhỏ, không nói chuyện với ai để từ đó có thời gian nhìn lại tâm xả tiếp những niệm vi tế. Chỉ cần ngồi chơi tự nhiên” như người nhàn hạ, không làm gì hết, nghĩa là không cần ngồi thiền, xếp bằng, kiết già gì cả, ngồi sao cho thoải mái là được, nằm cũng được chứ sao, miễn tỉnh táo là được.
·        Giữ gìn giới luật đức hạnh đến suốt đời: đó là hạnh ăn một ngày một cử, không ăn uống phi thời, ngủ ít, ngủ không phi thời, sống 3 đức nhẫn nhục, tùy thuận và bằng lòng vui vẻ, sống thiểu dục tri túc 3 y một bát, giữ gìn các giới luật như 10 giới thánh đức sa di.

Do vậy, sau khi các bạn xả bỏ phần thô, hãy tìm một nơi yên tĩnh để sống đời sống độc cư, ở đâu cung cấp cho bạn một chổ như vậy thì quá là lý tưởng, vì chỉ có sống như vậy mới giải thoát hoàn toàn. Bài kinh “Sống Một Mình Như Con Tê Ngưu”  đức Phật đã khuyên chúng ta rất rõ ràng. Chính độc cư là bí quyết của xả tâm và thiền định. Thiền viện Trúc Lâm, Làng Mai, thiền viện Đại Đăng hay chùa nào cũng được, miễn sao ở đó cung cấp cho bạn một căn nhà nhỏ để sống đời sống độc cư, một ngày một bữa ăn.

Riêng tôi biết có một tu viện tại Trảng Bàng, gọi là Tu viện Chơn Như, khi đến đó các thầy sẽ cho bạn một căn nhà nhỏ, và đầy đủ mọi thứ cần thiết tối thiểu, kể cả quần áo, bát. Bạn không cần mang theo gì cả. Xả sạch ngoài đời tất cả, chỉ mang cái thân vào thôi. Không cần mang tiền vào, vì vào đó là phải giữ gìn giới luật thứ 10 trong giới sa di “không nên cất giữ tiền bạc”. Vào đó các bạn chỉ cần sống với 3 đức nhẫn nhục, tùy thuận và bằng lòng, giữ gìn 3 hạnh là ăn, ngủ và độc cư.

Vào đó các thầy sẽ dạy cho chúng ta những cách đi kinh hành để phá hôn trầm thùy miên, buồn ngủ, cách tu “Định niệm hơi thở” cho người mới để biết nhìn rõ quan sát từng tâm niệm. Sau khi thực hành thành thạo rồi thì chúng ta không cần ôm những pháp tu đó nữa, vì “chúng chỉ là vũ khí diệt giặc thôi, có giặc hôn trầm thùy miên buổn ngủ thì đem ra sử dụng, còn không thì thôi, ngồi chơi cho sướng.”

Khi sống một mình thì chúng ta đừng ôm pháp nào tu hết, sống đời sống bình thường như một người bình thường trong một căn nhà nhỏ, như đi “an dưỡng” vậy đó, đến giờ thì ăn, đến giờ thì ngủ, ngoài ra thì chỉ cần ngồi chơi xả tâm. Tâm khởi niệm nào dục hay ác pháp thì đuổi đi, niệm thiện thì làm cho sanh và tăng trưởng, niệm không thiện không ác thì kệ nó. Đuổi bằng phương pháp "Như Lý Tác Ý." Một trong những câu tác ý hữu hiệu nhất là "Tâm bất động, thanh thản an lạc và vô sự". Ngồi chơi tự nhiên như vậy, dần dần tâm sẽ ly dục ly ác pháp và trở nên bất động thanh thản an lạc và vô sự.



5.                    Dính mắc vào trạng thái tâm không niệm, tâm bất động và các trạng thái thanh tịnh hỷ lạc khác.
Chính ngay khi tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự bắt đầu xuất hiện, người tu hành dễ dàng dính mắc vào các trạng thái không niệm, trạng thái thanh tịnh, thích nó, sợ mất, bám tâm vào nó, quán thân để tâm bất động kéo dài, ngồi thường theo dõi hơi thở để tâm bất động được kéo dài,  ngồi nhìn tâm bất động, ngồi cố giữ tâm bất động hay thanh tịnh, rồi bị nó dẫn đi sai đường luôn. Do vậy chúng ta phải cẩn thận, dù là trạng thái gì, lân lân, không có niệm hay hỷ lạc nào người tu hành đều buông bỏ, không bám vào, không cố giữ lấy nó, vẫn ngồi chơi tự nhiên, vẫn quan sát tâm như trước. Càng xả tâm nhiều thì trạng thái tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự sẽ kéo dài.
6.                    Trạng thái tâm bất đông thanh thản an lạc và vô sự không phải là tâm không niệm.
Trước tiên chúng ta cần phải biết niệm là gì? Niệm có 2 loại: (trích từ bức tâm thư thầy giải đáp cho tu sinh về tâm bất động)
·         Niệm là tư duy suy nghĩ.
·         Niệm là chỉ biết mọi vật đang xảy ra xung quanh chúng ta.

Vậy biết niệm nào là đúng, niệm nào là sai?
·         Niệm đúng là tư duy suy nghĩ những điều thiện.
·         Niệm sai là tư duy suy nghĩ những điều ác.
·         Niệm là chỉ biết mọi vật xung quanh chúng ta mà không bị lôi cuốn theo mọi vật là đúng.
·         Niệm là chỉ biết mọi vật xung quanh chúng ta mà bị lôi cuốn theo mọi vật là sai.
Niệm tịnh là những niệm an vui yên ổn.


Khi tâm sanh khởi niệm thì phải biết PHÂN BIỆT niệm đó. Có 3 loại niệm: Niệm THIỆN, niệm ÁC và niệm KHÔNG THIỆN KHÔNG ÁC (Ví dụ như: đi quét nhà, giặt đồ,...).

Tâm không niệm thiện, niệm ác là tâm bị ức chế ý thức, khiến ý thức không hoạt động, nên người tu tập lạc vào thiền tưởng như các sư thầy Lạt ma Tây Tạng, Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Campuchia, Việt nam, Lào, Mông Cổ, Miến Điện, Ấn độ,...


Tóm lại,  tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự không phải là tâm không niệm. (trích từ bức tâm thơ ngày 22/10/2010)

7.                    Bị hôn trầm thùy miên
·           Càng buông xả nhiều thì hôn trầm thùy miên sẽ giảm nhiều, vì khi giảm tham sân, dục và các ác pháp khác thì tâm si cũng giảm theo.
·           Càng dụng công tu tập gò bó thân tâm nhiều thì càng bị hôn trầm thùy miên do thân tâm phải làm quá sức mệt mỏi, tâm thì bị lịm và lặng luôn, thân thì bị đuối sức rồi gục.
·           Ngồi chơi tự nhiên thì đầu óc tỉnh táo như một người bình thường, nếu có hôn trầm thùy miên thì đi kinh hành, hết hôn trầm thùy miên rồi ngừng lại nghỉ ngơi. Đi càng nhiều thân càng mệt mỏi, sức khỏe càng cạn kiệt, đuối sức, tu như vậy là ức chế thân rồi, Do vậy tùy sức mà đi kinh hành. Ngồi ngay thẳng không nên nhắm mắt, gom tâm, tập trung tâm, nhiếp tâm khiến cho tâm bị ức chế, sau đó lịm và lặng luôn.
·           Do ăn ngủ phi thời, ăn ngày 2-3 bữa, đi ngủ và thức dậy không đúng giờ.
·           Thích ngồi, làm biếng, không siêng năng đi kinh hành,

8.                    Chưa có ý chí mạnh mẽ tìm cầu sự giải thoát
·            Chưa buông sả sạch, vẫn còn ham vui,  ham nhiều chuyện, tham danh lợi, và những thứ linh tinh khác.
·            Không tin thầy, không tin lời thầy dạy đưa đến sự giải thoát.
·            Không tự tin chính mình sẽ đạt được sự giải thoát trong đời này.

9.                    Không giữ gìn giới luật nghiêm chỉnh
Điều quan trọng nhất mà chúng ta quên nhắc tới đó là nghiêm chỉnh giữ gìn giới luật. Người tu hành tìm đường giải thoát khi bước chân vào chùa ít nhất phải giữ gìn 10 giới đức Sa Di. Chính giới luật đức hạnh này sẽ là nền tảng căn bản giúp cho người tu hành xả tâm, ly dục, ly ác pháp, sống đời sống thanh tịnh tự nhiên. Không sống giữ gìn nghiêm chỉnh giới luật thì việc tu hành chỉ mất công và thời gian, phí một đời người.
Người sống không giữ gìn giới luật thì không phải là đệ tử của đức Phật Thích Ca mà là đệ tử của Phật khác. Ai tu theo Phật Thích Ca, muốn giải thoát trong cuộc đời này không thể bỏ qua Giới Luật. Chính giới luật là con thuyền đưa chúng ta đến bờ giải thoát. Chúng ta hãy thử xét qua trước 10 giới thánh đức Sa Di tại đây xem mình đã thông suốt chưa?

Đó gọi là buông xả sạch không còn dính mắc vào bất kỳ cái gì hay pháp tu nào,không bị những chướng ngại khác trong thân tâm và đã thông những tư tưởng tiêu cực bi quan.

“Thường người ta đến đạo Phật nghĩ rằng phải tu hành mới được giải thoát, phải ôm pháp nào đó tu để được giải thoát, phải tu để có thần thông, phải nhập thiền định để có Tam Minh Lục Thông, phải niệm Phật giữ tâm không niệm để tiếp tục sang một thế giới khác tu tiếp, phải thông suốt các công án, phải ngồi thiền, phải ôm pháp Thân Hành Niệm, tu pháp Định Niệm Hơi Thở, phải theo dõi hơi thở, theo dõi bụng phình xẹp, hay chú tâm vào đề mục nào đó, phải học những cái gì đó cao siêu, những tư tưởng cao siêu thoát tục để ra giảng dạy, chính những tư tưởng như vậy là đã làm mất sự giải thoát rồi trong hiện tại rồi.”.

Đức Phật đã nói: “Đạo ta không có thời gian, đến để mà thấy”. Nghĩa là khi bước chân vào đạo Phật tu đúng, buông xả sạch thì giải thoát ngay rồi chứ đâu cần phải dụng công từ sáng đến tối, từ ngày này qua ngày khác, từ ngày đầu tiên vào chùa đến ngày chết, từ kiếp này sang kiếp khác, từ thế giới này đến thế giới khác.

Chúng ta hãy cùng xem lại thử có giải thoát không?



·        Ngồi thiền, gom tâm, nhiếp tâm, chú tâm vào đề mục, vào cơ thể, vào hơi thở, gò bó thân làm cho thân tâm bị ức chế đau nhức lưng, chân, nhức đầu,… thì sao gọi là buông xả, sao gọi là giải thoát.
·        Tụng kinh gỏ mỏ, niệm Phật thì mỏi miệng, mỏi tay, mỏi chân, mỏi lưng, đầu phải nhớ kinh, phải học kinh, làm ồn hàng xóm và những nhà xung quanh, v.v…
·        Luyện đọc thần chú mỏi miệng, ùm òm ồn ào.
·        v.v…

Chắc các bạn đã từng nghe những câu chuyện thời đức Phật.  Sau khi nghe đức Phật thuyết pháp, liền có nhiều người chứng đạo. Tại sao vậy? vì pháp Phật rất cụ thể đơn giản. Họ hiểu được chỉ cần buông xả tất cả, sống đời sống đạo đức, không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sinh là tâm đã giải thoát, khi họ hiểu được rồi, họ quyết chí theo Phật, sống đời sống đức hạnh như Phật thì họ đã giải thoát rồi. Họ đâu có ngồi thiền, tụng kinh, gỏ mõ, đọc thần chú,... để được giải thoát. Chỉ cần hiểu phải buông xả sạch là tâm đã giải thoát.

Do vậy, kính thưa các bạn, tu theo đạo Phật dễ dàng và đơn giản vậy thôi, không có cao siêu, trừu tượng, khó hiểu hay khó làm đâu. Ai tu cũng được, người già đến 80, 90 tuổi vẫn tu được. Chỉ cần có tri kiến nhân quả”,  buông xuống hết là giải thoát.


“Buông xuống đi, buông xuống đi
Vạn Pháp vô thường, buông xuống đi”

Sau khi đọc bài này chúng ta đã thấy rõ con đường giải thoát không khó, nó nằm trong tầm tay của chúng ta, chúng ta hãy buông xuống hết. 

Có câu hỏi làm sao biết được ngồi chơi như vậy là giải thoát?

Bạn đã buông xả hết rồi, bạn thử hỏi bạn có còn tham sân si không? Bạn đang sống với tâm không tham, không sân, không si, không mạn, không nghi. Bạn đã chặt bỏ tất cả kiết sử rồi. Tâm bạn lúc này đã dần dần từ từ bất động, thanh thản an lạc và vô sự. Đó là trạng thái của tâm niết bàn rồi còn gì, bạn đang sống với tâm niết bàn thì có chết sẽ tương ưng với Niết bàn.

Khi các bạn học Tứ Diệu Đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Chân lý thứ 3 là Diệt, đức Phật đã xác định khi diệt hết tham sân si mạn nghi, trạng thái tâm không còn tham sân si gọi là Niết bàn, chính là trạng thái tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự. Đức Phật đâu có nói phải nhập định, phải có tam minh, phải có thần thông mới gọi là niết bàn.

Định, Tam Minh là kết quả của đời sống đức hạnh giới luật. Giới luật đức hạnh là đối tượng để cho chúng ta tu tập, còn Định và Tam Minh là kết quả của sự buông xả sạch không còn hạt bụi nào. Chứ Định và Tam Minh không phải là đối tượng để ta tu tập. Mọi người nhằm, thường nhắm vào Định và Tam Minh Lục Thông mà tu tập, bỏ qua Giới Luật đức hạnh cho nên tu hoài không thấy giải thoát. Tu không biết lúc nào giải thoát, cứ nghĩ phải tu nhiều đời nhiều kiếp, phải qua thế giới của các chư Phật mà tu tiếp. Những tư tưởng đó đã hại chúng ta không tìm thấy sự giải thoát trong hiện tại.


Định của đức Phật Thích Ca là do tâm ly duc ly ác pháp mà có. Tâm ly dục ly ác pháp chính là tâm thiền định. Thiền định do ngồi thiền là định tưởng, định tưởng sanh tuệ tưởng, là trí tuệ thế gian còn thiện ác lẫn lộn. Không phải trí tuệ của bậc thánh ly dục ly ác pháp.

Tu mà không cần giới luật đức hạnh là tu rơi vào tưởng định,  phát sinh tưởng tuệ, tưởng mình đã chứng đạo, tuệ đó cũng có tam minh ngủ thông  nhưng vẫn còn tái sinh luân hồi như các vị Lạt Ma Tây Tạng, bởi vì dục và tham sân si vẫn còn, còn thì tự nhiên phải tương ưng với thế giới tham sân si của chúng ta thôi. Còn đối với đức Phật đã diệt hết tham sân si thì có muốn luân hồi cũng không được, vì có còn tham sân si đâu mà tương ưng với thế giới của chúng ta. Đức Phật chỉ có thể tương ưng với Niết bàn thôi.

Tổng hợp lại có gần 20 nguyên nhân hoặc nhiều hơn nữa về vấn đề tu hành chưa chứng đạo. Mời các bạn xem tại đây.


Sự giải thoát ở ngay trước mắt chúng ta, muốn giải thoát hay không là tùy ở mỗi người. Không ai ép hay khuyến dụ ai đi con đường nào. Tự mỗi người chúng ta biết phải chọn con đường nào là sáng suốt cho cuộc đời của mình.

Kính chúc tất cả các bạn buông xả sạch trong đời sống hiện tại, để được sự giải thoát ngay đúng như lời đức Phật dạy: "Pháp ta không có thời gian, đến để mà thấy". 


(Bài này chỉ để tham khảo, khi tu tập cần phải có vị thầy có kinh nghiệm tu tập dẫn dắt và hướng dẫn)