Saturday, 25 February 2012

3 CÁCH CHUYỂN HÓA NHÂN QUẢ


Tùy vào khả năng và hoàn cảnh của mỗi người, có thể chuyển hóa nhân quả bằng 3 cách:

  1. Áp dụng “Đức Chấp Nhận Nhân Quả”  bằng 3 đức nhẫn nhục, tùy thuận và bằng lòng.
  2. "Đức làm chủ nhân quả" có nghĩa là từ hành động thân, miệng, ý của mình, trước khi làm hay nói chúng ta đều có sự suy tư tính toán mỗi hành động không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sinh rồi mới nói hay làm. Người biết làm chủ nhân quả là người luôn sống vì mọi người, không sống vì mình. Đó là cách thức làm chủ nhân quả. 
  3. Đối với người có ý chí mạnh mẽ, dũng cảm không bao giờ biết sợ là gì, luôn áp dụng “Đức Vượt Qua Nhân Quả” vào đời sống, buông xả tất cả. Nhân quả đến nhưng không tác động được thân tâm người ấy, Ví dụ khi bệnh đến mà không sợ, không đi bác sĩ, không uống thuốc, coi như không có chuyện gì cả.

Mời các bạn đọc tiếp những bài này:
  1. Chuyển nhân quả quá khứ trong kiếp hiện tại.
  2. Đức Chấp Nhận Nhân Quả
  3. Đức Làm Chủ Nhân Quả
  4. Đức Vượt Qua Nhân Quả
  5. Đức vượt qua nhân quả có phải là đức làm chủ nhân quả hay không?

Thursday, 23 February 2012

NGUYÊN NHÂN TU HÀNH CHƯA CHỨNG ĐẠO

Có rất nhiều nguyên nhân: Để rõ các bạn tìm đọc những bộ sách của thầy Thích Thông Lạc tại tuvienchonnhu.net

Đường Về Xứ Phật
Những Lời Gốc Phật Dạy
Văn Hóa Truyền Thống
12 cửa vào đạo
V.v

Monday, 20 February 2012

Vấn đạo: Gieo nhân duyên lành

(Thầy trả lời phần vấn đạo của nhóm Phật tử Phan Rang)

                                 NHỮNG LỜI DẠY CỦA ÂN SƯ

1. Chúng con phải gieo nhân gì, duyên gì mới gặp được CHÁNH PHẬT PHÁP ngay trong hiện tại?
Đáp: Tin vào Phật pháp.

2. Chúng con phải gieo nhân gì, duyên gì mới gặp được MINH SƯ và gần gũi lâu dài?
Đáp: Giữ gìn 5 giới cho nghiêm chỉnh.

3. Chúng con phải gieo nhân gì, duyên gì mới hiểu được CHÁNH PHÁP?
Đáp: Giữ TÂM BẤT ĐỘNG.

4. Chúng con phải gieo nhân gì, duyên gì mới hành đúng CHÁNH PHÁP, hợp với đặc tướng của mình để mau chóng tu tập có kết quả?
Đáp: Pháp NHƯ LÝ TÁC Ý.

5. Chúng con xin Thầy những tiêu chuẩn và trạng thái THÂN, TÂM như thế nào mới vào gần MINH SƯ để chuyên tu được, để chúng con không bị TƯỞNG đánh lừa?
Đáp: Ước nguyện và giữ gìn 10 giới SADI trọn vẹn.

6. Chúng con phải gieo nhân gì, duyên gì mới xiển dương nền ĐẠO ĐỨC NHÂN BẢN NHÂN QUẢ lớn rộng ra toàn nước Việt nam và khắp thế giới?
Đáp: Giữ gìn 5 giới trọn vẹn và ước nguyện mọi người sống trong 5 giới.

7. Thưa Thầy, Thầy thường nói: Phước chúng sinh quá mỏng, không hưởng được Phật pháp. Vậy chúng con muốn phước dày, đủ điều kiện để tu hành làm chủ sinh, già, bệnh, chết thì phải gieo nhân gì, duyên gì?
Đáp: Ly gia cắt ái, xuất gia làm tu sỹ ba y một bát.

8. Chúng con phải gieo nhân gì, duyên gì để người phát nguyện ăn chay theo đức HIẾU SINH sẽ được thuận duyên toại nguyện?
Đáp: Phải lập chí dũng mãnh.

9. Chúng con phải gieo nhân gì, duyên gì để giải nghiệp thọ bệnh, và làm chủ được thọ bệnh, để phương pháp này được phổ biến rộng rãi, để bệnh viện ít bệnh nhân?
Đáp: Giữ TÂM BẤT ĐỘNG trước các ác pháp.

10. Chúng con phải gieo nhân gì, duyên gì để luôn được KIÊN TRÌ, GAN DẠ, SIÊNG NĂNG, SÁNG SUỐT, CẨN THẬN trong lúc tu hành?
Đáp: Tập pháp THÂN HÀNH NIỆM.

11. Chúng con phải gieo nhân gì, duyên gì để nhanh chóng từ bỏ ngũ dục lạc, năm triền cái và thất kiết sử?
Đáp: Tác ý ly dục ly ác pháp hằng ngày.

12. Chúng con phải gieo nhân gì, duyên gì để nhanh chóng TÂM BẤT ĐỘNG TRƯỚC ÁC VÀ CẢM THỌ?
Đáp: Thấy CÁC PHÁP đều VÔ THƯỜNG, không có pháp nào là ta là của ta.
                               
                                    Nhóm nguyên thủy II Phan Rang
                                                   Kính thư.

Vấn đạo: Tu tập tâm bất động


Hỏi: (sư Từ Quang hỏi đạo ngày 25/01/2010)
    Kính thưa Thầy,
    Con rất cám ơn Thầy về những lời dạy, nhất là lời dạy sau:
    Tâm bất động là chân lý của Đạo Phật, ai khôn ngoan thì sống với nó, ai dại dột thì buông bỏ nó.(Thư trả lời của Thầy - ngày 18-1-2010).

    Nhờ lời dạy này nên các thời tu, kể từ ngày mở email và cho đến nay, con đã tu và thấy được tâm bất động và đã tu khá tốt. Cám ơn Thầy rất nhiều. Sáng nay cũng tiếp tục tu tâm bất động như thế. Từ nay con sẽ tu tập tâm bất động như thế.
Tuy nhiên vì lo sợ là con không hiểu đúng lời Thầy, áp dụng sai lời dạy, hay tu sai mà không biết, tu theo cách suy nghĩ sai thành ra vô tình tu theo con suy nghĩ chứ thật sự không đúng sự chỉ dạy của Thầy. Vậy kính xin Thầy từ bi xem cách con tu như trình bày sau đây có thật sự đúng với sự chỉ dạy:

     1. Con ngồi yên, thư giản toàn thân và thần kinh, khi tâm tự nó không suy nghĩ chứ không làm cho nó không suy nghĩ thì tác ý: "Tâm phải bất động, thanh thản, an lạc, vô sự" và ngồi im lặng chỉ chú tâm trong trạng thái không niệm đó.

    2. Khi có niệm thì tác ý lại. Do câu tác ý, khi tác ý thì tâm tự động trở lại không niệm chứ không có dụng ý nào làm cho nó không niệm. Nếu tác ý "Tâm phải bất động, thanh thản, an lạc, vô sự" mà tâm vẫn còn niệm thì tác ý nữa. Cứ tác ý mỗi khi có niệm.

    3. Các từ bất động, thanh thản, an lạc, vô sự tác động rất mạnh vào tâm, nên câu tác ý "Tâm phải bất động, thanh thản, an lạc, vô sự" rất kết quả trong khi ngồi mà sinh những cảm thọ khó chịu trên chân hay thân. Cho nên khi thấy có những cảm thọ làm tâm sinh niệm thì con dùng câu tác ý "Tâm phải bất động, thanh thản, an lạc, vô sự" cho đến khi không còn niệm. Chỉ khi những cảm thọ đó quá mạnh thì mới thay đổi tư thế để giải trừ.

    4. Con không biết có nên hay không nên dùng câu tác ý để vượt qua những cảm thọ khi ngồi lâu, tức vẫn ngồi bất động trong tư thế đó mà tác ý câu "Tâm phải bất động, thanh thản, an lạc, vô sự" cho đến khi không thể kham, không giữ tâm không niệm, mới xả ra hoặc thay đổi tư thế.
    Kính thư,
    Con Từ Quang.

Trả lời:  (Ngày 27-01-2010)

    Kính gửi: Con


    I – Cứ để tự nhiên không nên chú tâm trong trạng thái không niệm đó. Vì vậy người mới tu tập có 5 điều sai:
        1- Chú tâm ở chổ không niệm tức là dùng chổ không niệm ức chế ý thức.
        2- Sợ có niệm nên cứ thầm tác ý câu tâm bất động.
        3- Hôn trầm thùy miên tấn công.
        4- Thường theo dõi hơi thở nên tâm bất động được kéo dài, nhưng đó cũng là cái sai.
        5- Thường dùng quán thân để giữ gìn tâm bất động kéo dài, nhưng đó cũng là cái sai.
    II – Câu hai đúng.
    III – Câu ba đúng.
    IV – Người tu tập tâm bất động có đầy đủ ý chí và nghị lực nên không có cảm thọ nào làm cho họ đầu hàng. Người tu tập tâm bất động đuổi tất cả cảm thọ trên thân và tâm một cách anh dũng. Vì thế họ làm chủ được bệnh tật. Do làm chủ được bệnh tật nên họ làm chủ được sinh, già, bệnh và chết rất dễ dàng. Cho nên người nhát gan không dám tu tập tâm bất động.


Vì vậy người khôn sống với nó, người dại dột thì buông bỏ nó.
Tu mà còn sợ chết mà tu tập cái gì. Chân lý giải thoát của Phật giáo sờ sờ ra trước mắt mà không gìn giữ bảo vệ nó thì còn tu tập cái gì nữa.

             Kính thư,
             Thầy của con

(Nguồn từ tu viện Chơn Như)

MÓN ĂN GIẢI THOÁT


TÂM THƯ GỬI QUÍ VỊ
(18-4-2009)

            Kính gửi: Quí vị!

            Quí vị hãy đọc kỹ lại bài mà Thầy đã cho ghi vào bia đá trong Tu viện Chơn Như “MÓN ĂN GIẢI THOÁT”.

            Đức Phật dạy:

        1.      Này các Tỳ kheo! Cái gì là thức ăn cho Minh Giải Thoát (Tam Minh)? Bảy Giác Chi, cần phải trả lời như vậy.
2.      Này các Tỳ kheo! Cái gì là thức ăn cho (Năng lực) Bảy Giác Chi? Bốn Niệm Xứ, cần phải trả lời như vậy.
3.      Này các Tỳ kheo! Cái gì là thức ăn cho Bốn Niệm Xứ? Ba Thiện Hành, cần phải trả lời như vậy.
4.      Này các Tỳ kheo! Cái gì là thức ăn cho Ba Thiện Hành? Các Căn Được Chế Ngự, cần phải trả lời như vậy.
        5.      Này các Tỳ kheo! Cái gì là thức ăn cho Các Căn Được Chế Ngự? Chánh Niệm Tỉnh Giác, cần phải trả lời như vậy.
6.      Này các Tỳ kheo! Cái gì là thức ăn cho Chánh Niệm Tỉnh Giác? Như Lý Tác Ý, cần phải trả lời như vậy.
7.      Này các Tỳ kheo! Cái gì là thức ăn cho Như Lý Tác Ý? Lòng Tin, cần phải trả lời như vậy.
8.      Này các Tỳ kheo! Cái gì là thức ăn cho Lòng Tin? Nghe Diệu Pháp, cần phải trả lời như vậy.
9.      Này các Tỳ kheo! Cái gì là thức ăn cho Nghe Diệu Pháp? Thân Cận Với Bậc Chân Nhân (Bậc tu chứng đạo), cần phải trả lời như vậy.

--o0o--


Kính gửi: Các con!

Món ăn giải thoát là một bài pháp thực hành rất cụ thể và căn bản nhất trong những lời đức Phật dạy từ xưa đến nay. Chúng ta hãy lắng nghe lời dạy thứ nhất của đức Phật: “Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho MINH GIẢI THOÁT (Tam Minh)? BẢY GIÁC CHI, cần phải trả lời như vậy”.

Đọc qua lời dạy này chúng ta thấy rõ con đường giải thoát của Phật giáo bắt đầu đức Phật chỉ thẳng cho chúng ta biết thành quả giải thoát cao nhất của Phật giáo là TAM MINH. Vậy muốn có TAM MINH thì phải tu tập như thế nào phải có BẢY NĂNG LỰC GIÁC CHI. Trong đoạn kinh này đức Phật xem BẢY NĂNG LỰC GIÁC CHI là món ăn của TAM MINH. Cho nên muốn có TAM MINH thì  phải tu tập có BẢY NĂNG LỰC GIÁC CHI. Đó là những kết quả pháp hành tối thượng của đạo Phật để làm chủ sinh, già, bệnh, chết.

Muốn đạt được TAM MINH và BẢY NĂNG LỰC GIÁC CHI thì phải tu tập pháp môn nào? Chúng ta hãy lắng nghe lời dạy thứ hai của đức Phật: “Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho (Năng Lực) Bảy Giác Chi? Bốn Niệm Xứ, cần phải trả lời như vậy”. Như vậy muốn có BẢY NĂNG LỰC GIÁC CHI thì phải tu tập pháp môn TỨ NIỆM XỨ, chứ không phải tu tập BẢY GIÁC CHI. Tất cả các nhà học giả xưa và nay đều hiểu lầm chỗ này, họ hiểu BẢY GIÁC CHI là bảy pháp tu tập, không ngờ tu tập pháp môn TỨ NIỆM XỨ  thì BẢY GIÁC CHI lần lượt xuất hiện từng GIÁC CHI. GIÁC CHI này xuất hiện xong thì GIÁC CHI kia xuất hiện, cứ trên trạng thái TỨ NIỆM XỨ tu tập kéo dài bảy ngày đêm thì BẢY GIÁC CHI xuất hiện đầy đủ. Khi BẢY GIÁC CHI xuất hiện đầy đủ thì liền có TỨ THẦN TÚC. TỨ THẦN TÚC gồm có;

1-    Tinh Tấn Như Ý Túc
2-    Định Như Ý Túc.
3-    Định Như Ý Túc.
4-    Tuệ Như Ý Túc.

Trong TUỆ NHƯ Ý TÚC có đầy đủ TAM MINH. TAM MINH gồm có:

1-    Túc Mạng Minh
2-    Thiên Nhãn Minh
3-    Lậu Tận Minh.

Như vậy muốn có BẢY GIÁC CHI, TỨ THẦN TÚC, TAM MINH thì chỉ cần tu tập pháp môn TỨ NIỆM XỨ. Vậy trước khi tu tập pháp môn TỨ NIỆM XỨ chúng ta phải tu tập pháp môn gì?

Chúng ta hãy lắng nghe lời dạy thứ ba của đức Phật: “Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho Bốn Niệm Xứ? Ba Thiện Hành, cần phải trả lời như vậy”. Vậy BA THIỆN HÀNH là gì?

BA THIỆN HÀNH là pháp môn TỨ CHÁNH CẦN. Muốn đạt được trạng thái TỨ NIỆM XỨ thì phải tu tập pháp môn TỨ CHÁNH CẦN tức là hằng ngày tu tập không lúc nào ngơi nghỉ. Đi, đứng, nằm, ngồi đều tu tập được cả luôn luôn dùng ý thức tri kiến ngăn và diệt các ác pháp bên ngoài lẫn bên trong của từng tâm niệm. Tất cả ác pháp này đều phải diệt  sạch chỉ còn giữ gìn và bảo vệ một pháp duy nhất, đó là TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC VÀ VÔ SỰ.

Trong sự tu tập ngăn ác diệt ác pháp thì SÁU CĂN PHẢI ĐƯỢC CHẾ NGỰ như lời dạy thứ tư của đức Phật: “Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho Ba Thiện Hành? Các Căn Được Chế Ngự, cần phải trả lời như vậy”.

 Muốn chế ngự các căn thì phải sáng suốt nhận xét sáu trần xem coi tâm dính mắc vào trần nào, nếu tâm dính mắc vào trần nào thì phải ngăn và diệt trần đó không cho dính mắc, đó là cách thức chế ngự các căn. Như vậy chế ngự các căn là phải CHÁNH NIỆM TỈNH GIÁC. Đúng như lời dạy thứ năm của đức Phật: “Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho Các Căn Được Chế Ngự? Chánh Niệm Tỉnh Giác, cần phải trả lời như vậy”. 


Khi tâm lúc nào cũng ở trong CHÁNH NIỆM TỈNH GIÁC thì tâm rất sáng suốt. Tâm sáng suốt thì không một trần cảnh hay một ác pháp nào muốn xăm chiếm vào tâm đều bị ý thức ngăn và diệt sạch ra khỏi tâm khiến tâm luôn luôn BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC VÀ VÔ SỰ. Muốn ngăn và diệt được ác pháp như vậy thì ý thức luôn luôn phải CHÁNH NIỆM TỈNH THỨC, nhờ có chánh niệm tỉnh thức mới biết dùng pháp NHƯ LÝ TÁC Ý. Có tu tập như vậy mới thấy lời dạy thứ sáu của đức Phật: “Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho Chánh Niệm Tỉnh Giác? Như Lý Tác Ý, cần phải trả lời như vậy”.

Đúng như vậy, những pháp hành này là những pháp bảo vệ và giữ gìn TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC, VÔ SỰ dễ dàng nhất mà không có một pháp nào hơn được. Đây là pháp môn rốt ráo nhất của Phật giáo để cứu người ra biển khổ. Cho nên các con hãy nhớ mà tu tập, xem pháp môn này như món ăn hằng ngày để nuôi sinh mạng của các con. Bởi vậy bài pháp THỨC ĂN của Phật dạy là một bài pháp tuyệt vời. Cuộc đời đi tu mà gặp pháp môn này như người đói mà gặp cơm và thực phẩm thì làm sao còn đói được nữa; như người nghèo gặp vàng bạc của báu thì làm sao còn nghèo nữa.

Trải qua sáu pháp tu học giúp chúng ta thấy Phật pháp rất thực tế và cụ thể trong các pháp hành. Tu đâu liền có kết quả ngay liền, bởi vì Phật pháp là pháp môn tu tập làm chủ thân tâm nên tu tập là có thấy kết quả làm chủ ngay liền.

Muốn siêng năng tinh tấn tu tập mà không biếng trể thì chúng ta hãy lắng nghe lời dạy thứ bảy của đức Phật: “Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho Như Lý Tác Ý? Lòng Tin, cần phải trả lời như vậy”.

Lời dạy thứ bảy của đức Phật là LÒNG TIN. Lòng tin do từ đâu mà có?

Chúng ta đã nghe sáu pháp môn thực hành trên đây của Phật giáo, mỗi pháp môn đều chỉ thẳng sự tu tập làm chủ thân tâm một cách cụ thể rõ ràng, khiến cho người nào tu tập cũng đều có sự làm chủ  thân tâm, mang đến sự giải thoát rõ ràng, nếu chúng ta không tu tập thì thôi mà đã tu tập thì ngay đó là có sự làm chủ giải thoát. Chỉ cần nghe chứ chưa tu tập mà chúng ta đã có lòng tin sâu sắc, lòng tin không thể còn ai lay chuyển được.

Nhờ có những pháp tu hành làm chủ thân tâm thực tế như vậy nên làm sao người ta không tin. Những pháp ấy đức Phật gọi là VI DIỆU PHÁP. Vậy chúng ta hãy lắng tai nghe lời dạy thứ tám của đức Phật: “Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho Lòng Tin? Nghe Diệu Pháp (chân pháp của Phật), cần phải trả lời như vậy”.

VI DIỆU PHÁP không phải là pháp môn cao siêu vĩ đại có thần thông, phép lực cao cường, hô phong, hoán vũ, tàng hình, biến hóa v.v… VI DIỆU PHÁP của Phật rất bình thường như ăn cơm uống nước dễ dàng như vậy, chứ không phải như đọc thần chú, luyện bùa như Mật Tông; chứ không như niệm Phật nhất tâm cầu vãng sinh Cực Lạc Tây Phương như Tịnh Độ Tông rất khó khăn; chứ không như ngồi thiền nhập định như Thiền Tông chân đau như buốt, gối mỏi, lưng thụng, đầu lút lắt như lên đồng nhập cốt v.v…

VI DIỆU PHÁP của Phật chỉ là những đức hạnh sống hằng ngày không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả các loài chúng sinh. Bởi vậy VI DIỆU PHÁP của Phật chỉ là pháp NGĂN ÁC DIỆT ÁC PHÁP hằng ngày trong tâm niệm của mình. Hầu hết mọi người tu hành chưa chứng đạo khi nghe nói đến VI DIỆU PHÁP thì liền nghĩ tưởng đó là pháp CAO SIÊU vượt ngoài sự hiểu biết của con người.

Người ta cho rằng VI DIỆU PHÁP còn có một cái tên là PHÁP MÔN BẤT TƯ NGHÌ có nghĩa là pháp môn không thể nghĩ bàn. Thật là con người quá giàu lòng tưởng tượng.

Ngày xưa đức Phật bảo: “Phật pháp không ngoài thế gian pháp”. Như vậy chúng ta không nên nghe những người tu chưa chứng mà hãy tìm những người đã tu chứng làm chủ sinh, già, bệnh, chết thì họ sẽ chỉ dạy những pháp mà họ đã tu chứng đạo như lời dạy thứ chín của đức Phật: “Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho Nghe Diệu Pháp? Thân Cận Với Bậc Chân Nhân (Bậc tu chứng đạo), cần phải trả lời như vậy”. Đúng vậy chỉ có những người tu chứng mới đủ khả năng dạy chúng ta tu chứng. Còn ngoài ra thì chúng ta đừng tin ai cả. Khi tu chưa chứng họ chẳng có kinh nghiệm tu hành nên dạy chúng ta tu hành không kết quả làm chủ thân tâm.


--o0o--
    
GIẢNG TRẠCH VÀ CHỈ THẲNG PHÁP MÔN TU TẬP

  Những lời dạy trên đây của đức Phật, chúng ta nhận thấy có CHÍN PHÁP tu tập gồm có:

1- THÂN CẬN THIỆN HỮU TRI THỨC:


Người mới bắt đầu vào đạo phải tu pháp môn nào trước? Như đức Phật dạy: Mới bắt đầu tu tập là phải THÂN CẬN THIỆN HỮU TRI THỨC. Thân cận thiện hữu tri thức là thân cận bậc tu đã chứng đạo, có nghĩa là phải sống ở gần bên người chứng đạo để được thưa hỏi những điều mình chưa hiểu biết. Như vậy pháp thứ nhất. là pháp “THÂN CẬN THIỆN HỮU TRI THỨC”

Khi sống được thân cận với bậc tu chứng đạo thì phải thưa hỏi chân lý giải thoát. Vậy chân lý giải thoát là cái gì?

2- NGHE VI DIỆU PHÁP.

Như lời đức Phật đã dạy: NGHE VI DIỆU PHÁP. Vậy NGHE VI DIỆU PHÁP là nghe pháp gì?

NGHE VI DIỆU PHÁP của đức Phật là nghe dạy BỐN CHÂN LÝ: KHỔ, TẬP, DIỆT, ĐẠO. Khổ, tập, diệt, đạo nghĩa là gì?

- KHỔ là nói về đời sống con người không ai là không khổ. Cho nên khi hiểu được đời là KHỔ thì ai cũng muốn đi tu cả.

- TẬP là nguyên nhân sinh ra mọi thứ đau khổ tức là LÒNG THAM MUỐN. Khi hiểu được lòng tham muốn là nguyên nhân sinh ra đau khổ thì ai cũng muốn tu tập để diệt trừ lòng ham muốn.

- DIỆT là một trạng thái TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC VÀ VÔ SỰ. Khi hiểu biết và nhận ra "tâm bất động, thanh thản, an lạc và vô sự" là chân lý giải thoát của Phật giáo thì ai cũng muốn gìn giữ và bảo vệ nó để sống cho được với trạng thái này.

- ĐẠO là tám lớp học để thực hiện những phương pháp tu tập giữ gìn và bảo vệ TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC VÀ VÔ SỰ. Khi nhận ra tám lớp học và những pháp tu tập để bảo vệ và giữ gìn tâm bất động thanh thản, an lạc và vô sự thì ai cũng muốn tu tập để được giải thoát.

3- LÒNG TIN

Khi nghe và nhận hiểu bốn chân lý này là sự thật của kiếp người thì còn ai mà không tin đạo Phật.

Khi chúng ta có LÒNG TIN thì pháp đầu tiên chúng ta tu tập là pháp NHƯ LÝ TÁC Ý.

4- NHƯ LÝ TÁC Ý

Pháp NHƯ LÝ TÁC Ý như thế nào?

 Pháp NHƯ LÝ có nghĩa là như lý của sự giải thoát. Vậy NHƯ LÝ CỦA SỰ GIẢI THOÁT như thế nào?

Như lý của sự giải thoát là TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC, VÔ SỰ. Đó là chân lý thứ ba của pháp môn “TỨ DIỆU ĐẾ”

Khi chúng ta thường xuyên tu tập pháp NHƯ LÝ TÁC Ý thì tâm chúng ta ở trong trạng thái CHÁNH NIỆM TĨNH GIÁC.

5- CHÁNH NIỆM TĨNH GIÁC

Pháp CHÁNH NIỆM TĨNH GIÁC nghĩa là gì?

CHÁNH NIỆM nghĩa là niệm đúng theo như lời đức Phật dạy, còn niệm không đúng lời Phật dạy là TÀ NIỆM. Vậy niệm đúng lời Phật dạy là niệm gì?

NIỆM TÂM BẤT ĐỘNG THANH THẢN, AN LẠC, VÔ SỰ (Niệm chân lý thứ ba), đó là CHÁNH NIỆM - CHÁNH NIỆM tức là TỨ NIỆM XỨ – TỨ NIỆM XỨ là chỉ cho một trạng thái TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC và VÔ SỰ.

TĨNH GIÁC nghĩa là gì?

TĨNH GIÁC có nghĩa là IM LẶNG VÀ SÁNG SUỐT.

Nghĩa chung của bốn từ này CHÁNH NIỆM TĨNH GIÁC là “LUÔN LUÔN IM LẶNG SÁNG SUỐT TRÊN TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC, VÔ SƯ”

Khi tâm luôn luôn im lặng sáng suốt trên tâm bất động thanh thản, an lạc, vô sự thì các căn không tiếp xúc các trần. Các căn không tiếp xúc các trần nên gọi là chế ngự các căn.

6- CHẾ NGỰ CÁC CĂN

Pháp CHẾ NGỰ CÁC CĂN nghĩa là gì?

PHÁP ĐỘC CƯ, ĐỘC BỘ, ĐỘC HÀNH. Nhờ pháp độc cư, độc bộ, độc hành mới chế ngự các căn và làm cho các căn không còn phóng dật chạy theo các trần. Do đó THÂN HÀNH, KHẨU HÀNH VÀ Ý HÀNH đều được thanh tịnh tức là thân hành, khẩu hành và ý hành không còn làm điều ác nên gọi là BA THIỆN HẠNH

7- BA THIN HẠNH

Pháp BA THIỆN HẠNH nghĩa là gì?

Pháp BA THIỆN HẠNH là pháp TỨ CHÁNH CẦN, người sống với BA THIỆN HẠNH là người đang "ngăn ác, diệt ác pháp; sinh thiện, tăng trưởng thiện pháp."

BA THIỆN HẠNH tức là ba hành động THÂN, KHẨU, Ý thanh tịnh. Ba hành động THÂN, KHẨU, Ý thanh tịnh là toàn thân thanh tịnh. TOÀN THÂN THANH TỊNH tức là bốn chỗ thanh tịnh. Bốn chỗ là THÂN, THỌ, TÂM, PHÁP thanh tịnh. Thân, thọ, tâm, pháp là TỨ NIỆM XỨ. Tứ Niệm Xứ thanh tịnh là thân tâm thanh tịnh.

8- TỨ NIỆM XỨ

LUÔN LUÔN IM LẶNG SÁNG SUỐT TRÊN TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC, VÔ SỰ tức là tâm đang ở trên TỨ NIỆM XỨ. Tâm ở trên trạng thái TỨ NIỆM XỨ này lần lượt xuất hiện đủ BẢY NĂNG LỰC GIÁC CHI.

9- BẢY NĂNG LỰC GIÁC CHI

Khi tâm tinh tấn siêng năng LUÔN LUÔN IM LẶNG SÁNG SUỐT TRÊN TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC, VÔ SỰ thì TINH TẤN GIÁC CHI xuất hiện, khi TINH TẤN GIÁC CHI xuất hiện thì NIỆM GIÁC CHI xuất hiện, khi NIỆM GIÁC CHI xuất hiện thì ĐỊNH GIÁC CHI xuất hiện; ĐỊNH GIÁC CHI xuất hiện thì KHINH AN GIÁC CHI xuất hiện; KHINH AN GIÁC CHI xuất hiện thì HỶ GIÁC CHI xuất hiện; HỶ GIÁC CHI xuất hiện thì XẢ GIÁC CHI xuất hiện; XẢ GIÁC CHI xuất hiện thì TRẠCH PHÁP GIÁC CHI xuất hiện.

Khi BẢY NĂNG GIÁC CHI xuất hiện đầy đủ thì thân tâm chúng ta có TỨ THẦN TÚC. TỨ THẦN TÚC gồm có:

1-    TINH TẤN NHƯ Ý TÚC (Tứ Niệm Xứ)
2-    DỤC NHƯ Ý TÚC (Lục Thông)
3-    ĐỊNH NHƯ Ý TÚC (Tứ Thánh Định)
4-    TUỆ NHƯ Ý TÚC (Trí tuệ Tam Minh)

Tu tập đến đây là chúng ta đã CHỨNG ĐẠO, không còn tu tập một pháp nào nữa cả. Vì thân tâm chúng ta có đủ nội lực làm chủ sự sống chết, chấm dứt tái sinh, tự tại trong sinh tử, không còn bị nhân quả chi phối, điều hành nữa.


(Trích từ sách "Những Lời Tâm Huyết" trang 27-37, xuất bản năm 2009)

CHỨNG ĐẠO


TÂM THƯ GỬI CÁC CON (Ngày 18-5-2009)

Một lần nữa Thầy nói về CHỨNG ĐẠO, các con đừng cho rằng tu hành theo Phật giáo là không chứng đạo. Chứng đạo là một sự thật của Phật giáo. Phật giáo là một tôn giáo vì loài người, cho nên tu hành phải có CHỨNG ĐẠO. Phật giáo là một tôn giáo luôn luôn biết dùng tự lực của mình vượt lên mọi đau khổ của cuộc đời, vì vượt lên mọi khổ đau của cuộc đời nên CHỨNG ĐẠO. Một tôn giáo nhờ vào tha lực của Thần, Thánh, Tiên, Phật, Trời, Bồ Tát cứu khổ, cứu nạn, giải trừ bệnh tật, tai ách khổ đau của mình là một tôn giáo mê tín.

Mục đích của đạo Phật là làm chủ SINH, GIÀ, BỆNH, CHẾT. Cho nên người nào làm chủ được SINH, GIÀ, BỆNH, CHẾT là người CHỨNG ĐẠO. Vì thế đạo Phật là đạo TỰ LỰC chứ không phải đạo THA LỰC. Ai tu theo Phật giáo mà cầu cúng lạy lễ van xin TAM BẢO gia hộ là theo ngoại đạo Bà La môn.

Đạo Phật còn gọi là đạo GIẢI THOÁT, vì thế ai sống đúng đạo đức không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sinh là CHỨNG ĐẠO. Bởi không làm khổ mình, khổ người, khổ tất cả chúng sinh đó là GIẢI THOÁT, mà giải thoát là CHỨNG ĐẠO. Sự chứng đạo của Phật giáo không có khó khăn, không có mệt nhọc chỉ cần chịu khó học tập đạo đức nhân bản – nhân quả, sống với PHÁP TRÍ ĐẠO ĐỨC và TÙY TRÍ ĐẠO ĐỨC là có sự giải thoát ngay trước mặt. Có sự GIẢI THOÁT ngay trước mặt là CHỨNG ĐẠO.

Muốn làm sáng tỏ sự CHỨNG ĐẠO các con đừng giải thích theo chữ Hán (Trung Hoa). Đạo là con đường, nẻo, lối đi... Giải thích như vậy không đúng nghĩa Phật giáo. Vì ĐẠO ở đây có nghĩa là tâm không còn khổ đau, tâm được yên ổn an vui, tâm bất động không còn một ác pháp nào làm cho tâm động. Những điều trên đây tâm đã đạt được thì mới gọi là GIẢI THOÁT, mà giải thoát là CHỨNG ĐẠO như trên đã nói. Khi nói đến CHỨNG ĐẠO thì đức Phật dùng một cụm từ chỉ cho chúng ta thấy sự CHỨNG ĐẠO: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, các việc làm đã làm xong không còn trở lui trạng thái này nữa”. Cụm từ này chỉ rất rõ sự GIẢI THOÁT:

1- SANH ĐÃ TẬN có nghĩa là cuộc sống không còn đau khổ.

2- PHẠM HẠNH ĐÃ THÀNH có nghĩa là đời sống giới luật đức hạnh nghiêm chỉnh.

3- CÁC VIỆC LÀM ĐÃ LÀM XONG có nghĩa là sự tu tập đã hoàn tất không còn tu tập một pháp môn nào nữa.

4- KHÔNG CÒN TRỞ LUI LẠI TRẠNG THÁI NÀY NỮA có nghĩa là tâm không còn tham, sân, si, mạn, nghi nữa.

 CHỨNG ĐẠO có nghĩa là giải thoát hoàn toàn tâm không còn tham, sân, si, mạn, nghi như trên đã nói. Cho nên trong kinh Tương Ưng có đoạn ông Xá Lợi Phất hỏi Phật: “Bạch Thế Tôn! Nếu con được hỏi: Này hiền giả, giải thoát như thế nào mà Thế Tôn tuyên bố đã được chứng đắc. Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, các việc làm đã làm xong không còn trở lui lại trạng thái này nữa? Thì con sẽ trả lời, do tự giải thoát, do tự đoạn diệt tất cả các chấp thủ, do tự làm tâm con luôn an lạc trong chánh niệm. Nhờ sống an lạc trong chánh niệm như vậy, các lậu hoặc không còn tiếp tục rỉ chảy và không còn tự chấp tự ngã”.

Ngài Xá Lợi Phất trả lời rất đúng. Sự giải thoát này phải do chính mình, không có một người nào giúp mình được. Do tự chính mình phải ĐOẠN DIỆT CÁC CHẤP THỦ và phải luôn luôn SỐNG AN TÂM TRONG CHÁNH NIỆM, nhờ vậy mọi ác pháp không còn tác động được tâm. Để xác định sự CHỨNG ĐẠO, một lần nữa kinh Tương Ưng dạy: “Tóm lại pháp môn này gọi tắt như sau, những cái gì được vị sa môn gọi là lậu hoặc là Ta không còn nghi ngờ gì nữa, chúng đã được Ta diệt tận không còn phân vân gì nữa ”. (100 Tương Ưng tập 2). Đọc những lời trên đây ai còn phủ nhận đạo Phật không CHỨNG ĐẠO.

Đức Phật xác định rõ cho chúng ta biết thế nào là PHÁP TRÍ? “Này các thầy Tỳ Kheo, vị thánh đệ tử biết già, chết như vậy, biết già tập khổ như vậy, biết già diệt như vậy, biết con đường đưa đến già, chết diệt như vậy. Đây là PHÁP TRÍ của vị ấy . Vị ấy với pháp này được thấy, được biết, được quả tức thời, được đạt đến, được thể nhập hướng dẫn thái độ của mình đối với quá khứ và trong tương lai”


Người có trí tuệ về các PHÁP của đời sống con người thì phải thông suốt GIÀ, CHẾT. Thông suốt GIÀ, CHẾT thì được gọi là PHÁP TRÍ.

1- GIÀ là cơ thể suy nhược, răng rụng, da nhăn, tóc bạc, lưng khọm, tay chân run rẩy, yếu đuối... Đó là một sự đau khổ của kiếp người.

2- CHẾT là cơ thể bị hủy diệt, tử vong, các uẩn tàn lụn, hoại diệt... Đó là một sự đau khổ mà con người không ai tránh khỏi.

Do thông suốt sự đau khổ ấy nên người có trí phải lo tu tập làm chủ GIÀ, CHẾT. Một lần nữa đức Phật dạy: “Này các thầy Tỳ Kheo, vị thánh đệ tử biết già chết như vậy, biết già tập khổ như vậy, biết già diệt như vậy, biết con đường đưa đến già chết diệt như vậy”.

Một khi đã hiểu biết như vậy thì chúng ta cố gắng tu tập để giữ gìn tâm bất động, do giữ gìn tâm bất động thì lậu hoặc hoàn toàn sẽ bị diệt sạch. Cho nên kinh Tương Ưng xác định một lần nữa để chúng ta hiểu rõ sự GIẢI THOÁT bằng PHÁP TRÍ: “Đây là PHÁP TRÍ của vị ấy. Vị ấy với pháp này được thấy, được biết, được quả tức thời, được đạt đến, được thể nhập hướng dẫn thái độ của mình đối với quá khứ và trong tương lai”. (106 Tương Ưng tập 2)

PHÁP TRÍ là trí tuệ hiểu biết về các pháp sinh, già, bệnh, chết là khổ, người có pháp trí hiểu biết cuộc đời này là khổ, không có vật gì trên thế gian này là ta, là của ta nên buông xả sạch, vì thế họ được giải thoát hoàn toàn.

Khi một người có PHÁP TRÍ, nên về tương lai có xảy ra điều gì họ chẳng lo lắng buồn phiền và sợ hãi. Do chẳng còn buồn phiền và sợ hãi nên họ được giải thoát. Đó là họ đang sống trong TÙY TRÍ. Bởi người có TÙY TRÍ là người giải thoát về tương lai. Đây chúng ta hãy nghe đức Phật dạy: “Những Sa môn hay Bà la môn nào trong tương lai sẽ hiểu rõ già chết, sẽ hiểu rõ già chết tập khởi, sẽ hiểu rõ già chết diệt, sẽ hiểu rõ con đường đưa tới già chết diệt, tất cả những vị ấy sẽ hiểu biết như vậy. Như vậy, như hiện nay Ta vậy. Đây tức là TÙY TRÍ của vị ấy”.

Tóm lại người có PHÁP TRÍ và TÙY TRÍ là người đang sống trong ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai hoàn toàn thân tâm họ được giải thoát không còn một chút xíu nào lậu hoặc. Người ấy được nhập lưu, nhập vào dòng thánh, được đầy đủ trí hữu học, được đầy đủ minh hữu học. Một lần nữa, để xác định điều này đức Phật đã dạy: “Này các thầy Tỳ Kheo! Vì rằng vị thánh đệ tử được thanh tịnh và thuần tịnh hai loại trí: PHÁP TRÍ và TÙY TRÍ. Vị ấy được gọi là thánh đệ tử đạt tri kiến, đã đi đến diệu pháp này, đã chấp nhận diệu pháp này, đã đầy đủ hữu học trí, đã đầy đủ hữu học minh, đã nhập được pháp lưu, là bậc thánh minh đạt tuệ, đã đứng gõ vào cửa bất tử”. (107 Tương Ưng tập 2)

Trong lời dạy này chỉ định rất rõ người có đầy đủ PHÁP TRÍ và TÙY TRÍ là người hoàn toàn làm chủ sinh, già, bệnh, chết, cho nên lời dạy trong đoạn kinh này rất rõ ràng họ là người đã đứng gõ vào cửa BẤT TỬ.

Thầy xin ghi lại lời PHẬT dạy để minh chứng rằng sự giải thoát của Phật giáo bằng sự hiểu biết mà đức Phật gọi là PHÁP TRÍ và TÙY TRÍ. Cho nên CHỨNG ĐẠO không phải chứng bằng THIỀN ĐỊNH như mọi người nghĩ mà chứng đạo bằng PHÁP TRÍ và TÙY TRÍ.

                                                            Kính ghi,
                                       Trưởng lão Thích Thông Lạc



(Bài này trích từ Tu viện Chơn Như)

Mời các bạn đọc tiếp bài:
1- Chứng đạo là chứng cái gì?
2- Chứng đạo là chứng ở đâu? ở chổ nào?
3- Như thế nào là làm chủ Sanh, Già, Bệnh, Chết

DẪN TÂM VÀO ĐẠO

TRẢ LỜI NHỮNG CÂU HỎI
(29-4-2009) 

1- Các con nên nhớ câu tác ý là câu DẪN TÂM VÀO ĐẠO. Vậy đạo là cái gì?

ĐẠO là chổ thân tâm không còn đau khổ. Trả lời như vậy các con hiểu chưa? Nếu các con chưa hiểu thì nên xét nghiệm lại thân tâm các con hiện giờ, về tâm có giận hờn, buồn phiền, lo lắng, thương nhớ, sợ hãi hay không? Nếu không thì nó đang im lặng, thanh thản và vô sự đó; về thân các con có cảm nhận bệnh tật đau nhức chổ nào không? Nếu không đó  nó đang an lạc và vô sự.

Như vậy ĐẠO GIẢI THOÁT là chổ “THÂN TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC VÀ VÔ SỰ”. Cho nên DẪN TÂM VÀO ĐẠO là dẫn tâm vào chỗ “THÂN TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC VÀ VÔ SỰ”.

     Ví dụ 1:
1- CẬU BÉ
2- SỢI DÂY
3- CON TRÂU
CẬU BÉ dụ như CÁC CON
SỢI DÂY dụ như CÂU TÁC Ý
CON TRÂU dụ như “THÂN TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC VÀ VÔ SỰ”.
Khi các con MUỐN TÁC Ý, đó là CẬU BÉ nắm lấy sợi dây cột CON TRÂU.
Khi các con ĐANG TÁC Ý là CẬU BÉ dắt TRÂU.
Khi CON TRÂU bước đi là “THÂN TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC VÀ VÔ SỰ”.
     Ví dụ 2:
1- TÁC Ý
2- NGÓN TAY CHỈ
3- MẶT TRĂNG SÁNG

a- TÁC Ý: Bắt đầu tu tập, các con chọn chổ nơi yên tịnh vắng vẻ, ngồi bán già hay kiết già hay ngồi trong bất cứ tư thế nào nhưng lưng phải thẳng, không nên khòm lưng cúp cổ hay nghiêng đầu, cúi đầu hay ngưỡng cổ. Đặc biệt ngồi hay đi đứng đầu, lưng không được cúi khòm mà phải gìn giữ ngay thẳng.

Sau khi giữ gìn lưng ngay thẳng thì các con để cho thân tâm yên lặng 1 phút rồi mới tác ý rõ ràng từng chữ một như: “TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC VÀ VÔ SỰ”, khi tác ý xong giữ tâm yên lặng thì lúc bấy giờ tâm biết hơi thở ra vô.

b- NGÓN TAY CHỈ: Hơi thở ra vô là ngón tay chỉ mặt trăng. Cho nên khi tác ý xong mà tâm các con chỉ chú ý trong hơi thở thì khác nào các con tu tập ĐỊNH NIỆM HƠI THỞ, đó là tu tập sai. Các con tu tập như vậy là các con tu tập ĐỊNH NIỆM HƠI THỞ, chứ không phải tu pháp DẪN TÂM VÀO ĐẠO.

DẪN TÂM VÀO ĐẠO là lúc bấy giờ các con NƯƠNG VÀO HƠI THỞ để biết TÂM BẤT ĐỘNG. Các con biết cách tu tập như thế này chưa?

c- MẶT TRĂNG: Mặt trăng chính là TÂM BẤT ĐỘNG của các con. Như vậy NƯƠNG HƠI THỞ ĐỂ NHÌN MẶT TRĂNG, chứ không phải chỉ biết có HƠI THỞ RA VÔ. Biết có hơi thở ra vô là tu tập sai pháp không đúng pháp DẪN TÂM, vì vậy vọng tưởng, hôn trầm thường đến thăm viếng các con.

Tất cả sự trình bày của các con đều là tu sai pháp, tu pháp này lẫn sang pháp khác. Thật tội nghiệp cho các con quá!

Phải bền chí kiên gan tu tập lại đừng theo kiến giải của mình mà tu pháp này pháp khác. Nhất là tự kiến giải ra tu tập thì con xa muôn dặm.

Phải theo lời Phật dạy: SỐNG TRONG CÁI HẠ LIỆT KHÔNG THỂ CHỨNG ĐẠT CÁI CAO THƯỢNG.
“Này các thầy Tỳ kheo! Không phải sống với cái hạ liệt có thể đạt cái cao thượng“ (Trang 57 Tương Ưng tập 2)

Như vậy đức Phật đã xác định rõ ràng: Một người sống trong hạ liệt mà muốn chứng trong cái cao thượng thì không thể nào chứng đặt được. Vậy sống trong hạ liệt là sống như thế nào?

Sống trong hạ liệt là sống chạy theo dục lạc thế gian, tâm còn đầy tham, sân, si, mạn, nghi; tâm chưa sống ly dục, ly ác pháp, mỗi chút mỗi phiền não giận hờn khổ đau; tâm còn ham muốn cái này cái kia. Hằng ngày tâm còn phóng dật thấy cái này thấy cái kia. Thấy cái này cái kia tâm còn muốn nhìn, ngó, lưu ý thì làm sao chứng đạt cái cao thượng được.

Cho nên quí Thầy, quí Cô tu tập thì tốt nhưng không chứng đạo là hay ngó nhìn ra ngoài. Tại sao quí Thầy, quí Cô không nhìn ngó vào thân tâm của mình mà lại nhìn ngó ra ngoài. Nhìn ngó ra ngoài có lợi ích gì?

Khi quyết tâm tu tập để làm chủ sinh, già, bệnh, chết thì hãy nhìn vào thân tâm của mình để làm chủ nó, nếu nó làm sai hay làm không đúng thì chúng ta đều biết liền. Biết sai thì ngăn chặn lại không làm theo, biết đúng thì tăng trưởng và làm theo cho thân tâm mỗi ngày một tốt hơn. Nhờ chúng ta biết tập sống như vậy nên từ chổ sống hạ liệt trở thành sống thanh cao, còn nếu không biết sống như vậy thì sống từ cái hạ liệt này sẽ mãi mãi sống trong cái hạ liệt khác. Cho nên đức Phật mới dạy như vậy: “SỐNG TRONG CÁI HẠ LIỆT KHÔNG THỂ CHỨNG ĐẠT CÁI CAO THƯỢNG”. Dù chúng ta muốn tu chứng đạt giải thoát mà sống trong hạ liệt thì tu vô lượng kiếp cũng chẳng đi đến đâu.

Thầy dạy PHÁP DẪN TÂM VÀO ĐẠO là pháp cao thượng, vì thế các con muốn chứng đạo phải sống cao thượng thì mới tu tập không sai.
--o0o-- 

PHẬT PHÁP TU HÀNH KHÔNG KHÓ


Đúng như tựa đề của bài pháp này, nên đức Phật dạy: “Pháp Ta không co thời gian đến để mà thấy”. Có nghĩa là PHẬT PHÁP không có dụng công tu tập như các pháp môn ngoại đạo, chỉ cần hiểu biết tính chất của các pháp thế gian là VÔ THƯỜNG, VÔ NGÃ thì người có trí liền BUÔNG XẢ sạch các pháp. Nhờ BUÔNG XẢ sạch các pháp thế gian nên không có pháp nào làm ĐỘNG TÂM họ được.


Khi tâm BUÔNG XẢ sạch các pháp thế gian thì tâm luông luôn ở trong trạng thái BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC, VÔ SỰ. Một trạng thái giải thoát mà người tu sĩ Phật giáo nào cũng đều tha thiết muốn sống được với nó. Nhưng muốn sống với nó phải bằng cách nào đây?


Để trả lời câu hỏi này thì chúng tôi xin quý vị hãy lắng nghe và suy tư cho chín chắn thì mới biết rõ: Từ lâu mọi người đều hiểu không đúng chánh pháp của PHẬT, nên dụng công tu tập từ ngày này qua ngày khác mà kết quả chẳng có gì: Chính sự hiểu sai PHẬT PHÁP mà quý vị tốn rất nhiều công sức tu tập, nhưng xét lại chẳng có lợi ích gì cho bản thân mà còn xa lìa PHẬT PHÁP, vì thế tu mãi mà không tìm thấy GIẢI THOÁT.


Có những người tu tập nhiều năm gần như suôt cả cuộc đời, thế mà vừa nghe bạn đồng tu gõ cửa và nói rằng: “Con khuyên thầy đứng dậy đi đi!”. Vừa nghe lời khuyên nhủ của bạn đồng tu, thay vì nói lời cám ơn, nhưng ngược lại thầy nói: “Ngồi không được à!”. Nghe nói vậy vị thầy đi kiểm tra liền bỏ đi.


Sau khi vị thầy đi kiểm tra quay lại thì vi thầy kia ra giữa đường chặn lại và nói: “Thầy có nhìn thấy tôi ngủ gật bao giờ chưa?. Nếu tôi ngủ gật tôi sẽ rời khỏi tu viện ngay lập tức. Người ta đang ở trong định mà thầy làm vậy là phá người ta, là xâm phạm nhân quyền. Tôi có thể ngồi 5-6 tiếng đồng hồ. Trưởng lão cho phép tu trong 4 oai nghi. Thầy đi kiểm tra theo dõi tôi thế nào tôi biết hết”. Lúc bấy giờ thầy đi kiểm tra nói: “Con thấy thầy mắt nhắm và gật”. Khi nói xong lời này, thấy mình không thể khuyên được vị thầy đó nên thầy đi kiểm tra xá và nói: “con xin sám hối thầy”. Khi đó vị thầy đó mới đi vô thất.


Qua những sự đối đáp này đã làm cho mọi người biết vị thầy đó tu hành không xả được tâm mà ức chế tâm nên mới bộc phát cơn sân dữ dội như vậy. Thật đáng thương thay! Bỏ hết cuộc đời để tu tập mà giờ đây tâm tánh vẫn còn như người thế gian. Do thấy sự tu tập này mà Thầy viết bức tâm thư gửi các con, để các con xét lại sự tu tập của mình, ngõ hầu sự tu tập của các con không còn sai lạc nữa.
Sự GIẢI THOÁT của PHẬT GIÁO rất đơn giản, chỉ cần sống TỰ NHIÊN với tâm BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC và VÔ SỰ. Sống mà không có sự tu tập gò bó thân tâm thì mới thấy sự GIẢI THOÁT chân thật của ĐẠO PHẬT. Còn ngược lại dụng công tu tập làm gò bó thân tâm để tâm BẤT ĐỘNG thì làm sao thấy sự GIẢI THOÁT. Phải không thưa quý vị?


Từ lâu mọi người hiểu sai PHẬT PHÁP nên cố gắng tu tập, vì thế mà không có một vị sư, thầy nào làm chủ SINH, GIÀ, BỆNH, CHẾT như PHẬT.
Dù sử dụng trong bốn oai nghi: đi, đứng, nằm, ngồi mà tâm vẫn tự nhiên như người NHÀN DU, VÔ SỰ.  Đó là người đã BUÔNG XẢ sạch. Vì thế họ không còn tu tập một pháp môn nào nữa cả...


Bởi vậy người nào hiểu đúng PHẬT PHÁP là phải cảm nhận được tâm BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC và VÔ SỰ. Nhờ có cảm nhận được tâm như vậy nên họ đã trở thành CON TÊ NGƯU MỘT SỪNG luôn luôn sống MỘT MÌNH.


Ngược lại người nào không cảm nhận được tâm BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC và VÔ SỰ thì nên theo pháp NHƯ LÝ TÁC Ý để hằng ngày ngăn và diệt tất cả ác pháp thì mới mong BUÔN XẢ tất cả các pháp thế gian, nhưng phải bền chí trong một thời gian dài.


Khi sống được với tâm BẤT ĐỘNG thì ngũ triền cái và thất kiết sử không làm sao tác động được. Vì thế không cần phải tu tập pháp môn ly dục, ly ác pháp mà tâm vẫn tự ly dục, ly ác pháp. Như vậy chỉ cần sống với tâm BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC và VÔ SỰ là tâm đã xả sạch. Hiểu như vậy mới thấy PHẬT PHÁP rất nhiệm mầu.


Đối với BỆNH TẬT và tất cả các ÁC PHÁP, khi gặp tâm BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC và VÔ SỰ, nó đều lìa xa khỏi thân tâm ngay tức khắc. Như vậy BỆNH TẬT và tất cả các ÁC PHÁP không còn tác dụng vào thân tâm được nữa, đó là trạng thái NIẾT BÀN trong cuộc sống, chớ không phải đợi chết mới vào NIẾT BÀN. Vì thế đức PHẬT dạy: “Pháp ta không có thời gian đến để mà thấy!”.


(Trích từ tu viện Chơn Như)

Sunday, 19 February 2012

ĐỨC KÍNH TRỌNG


Đức kính trọng là một đức cao cả tuyệt vời giữa người với người. 

Ai ai chúng ta cũng đều cung kính và tôn trọng. Không bao giờ mở một lời nói hay hành động nào nói xấu, chê bai, chỉ trích, nhận xét, bình luận đúng sai. Nếu thấy con đường của họ đi không hợp với mình thì mình không theo.

Kính trọng gồm 2 đức cung kính và tôn trọng.

  • Đức cung kính có thể tham khảo ở đây.
  • Tôn trọng là không bao giờ có những suy nghĩ, lời nói hay hành động thất lễ hay vô lễ, không bao giờ nói xấu, chỉ trích chê bai trước mặt lẫn sau lưng. Ngược lại chỉ nói những lời nói ôn tồn, nhẹ nhàng lễ phép, biết lắng nghe họ chỉ dạy, luôn nhường cho họ những ưu tiên, sẵn sàng giúp đỡ họ khi có yêu cầu, v.v...

Đức kính trọng giúp cho cuộc sống giữa người và người gần gủi hơn, thông cảm với nhau nhiều hơn. Người có đạo đức khi thấy ai sai, hay lầm lỗi, thì chỉ biết thương yêu họ hơn. Cớ sao chúng ta lại nói xấu, chỉ trích, chê bai họ thêm. Làm như vậy thì chúng ta đã tự nói với người khác rằng mình cũng không tốt gì, không có đức hạnh đạo đức. Bởi vì người sống có đạo đức không bao giờ nói xấu, chê bai hay chỉ trích ai. 

Do vậy, là người sống đạo đức chúng ta hãy luôn cung kính và tôn trọng tất cả mọi người, không phân biệt ai, dù ai có lầm lỗi gì, sai lầm gì, có đi con đường nào khác với ta, không cùng môn phái, không cùng tôn giáo, không cùng ngành của ta học hay làm việc,… Chúng ta vẫn kính trọng, chào hỏi, hỏi thăm, luôn ước mong họ luôn khỏe mạnh, an vui và hạnh phúc. 

Ví dụ: Trong tôn giáo, giả sử chúng ta là đệ tử của thầy Thích Nhất Hạnh, khi gặp những quý thầy sư, sư cô của các môn phái khác không phân biệt Đại Đức, Thượng Tọa hay Hòa Thượng hoặc các vị linh mục, mục sư, cha, Đức Hồng Y, Đức Giáo Hoàng, các Sơ trong các tôn giáo khác,... chúng ta đều kính trọng như kính trọng thầy của mình. Trước mặt lẫn sau lưng không bao giờ nói xấu, chỉ trích chê bai ai dù họ là ai, tu theo pháp môn gì, theo tôn giáo nào, học ngành nào, giàu hay nghèo, dân thành thị hay nông thôn, miền núi, có học hay không học, xấu hay đẹp, thông minh hay ngu dốt, sang hay hèn, người nước mình hay người nước ngoài, em bé hay người lớn, v.v...

Tóm lại, người có đức kính trọng luôn kính trọng tất cả mọi người như kính trọng cha mẹ mình. Đức kính trọng giúp cho tâm hồn ta luôn thanh thản, vui tươi và tràn đầy tình thương yêu chân thật giữa người và người.  

Mời bạn đọc câu chuyện Hạt Giống Tâm Hồn "Lỗi Lầm"

Saturday, 18 February 2012

Tại Sao Tu Hoài Chưa Giải Thoát

Có rất nhiều nguyên nhân: Để rõ các bạn tìm đọc những bộ sách của thầy Thích Thông Lạc tại tuvienchonnhu.net

Đường Về Xứ Phật
Những Lời Gốc Phật Dạy
Văn Hóa Truyền Thống
12 cửa vào đạo
V.v

Friday, 17 February 2012

Thầy Giải Đáp Cho Tu Sinh Về Tâm Bất Động

Dưới đây là phần giải đáp của Trưởng lão đối với thắc mắc của một tu sinh, kính mong quý bạn đọc tham khảo:
Kính gửi con!
Con nói tâm con "im re" không niệm vậy sao con tê chân hoặc chuyển sang đi kinh hành.
- Biết tê chân là khởi niệm.
- Biết chuyển sang đi kinh hành là khởi niệm.
Như vậy con tu sai mà không biết.
Nếu thật sự con không còn niệm khởi thì con đã trở thành cục đá gốc cây.
Đạo Phật là đạo trí tuệ, vì vậy trước các ác pháp tâm không giận hờn phiền não, cũng như trước các dục mà tâm không bị lôi cuốn đam mê, chớ không phải không niệm.
 Tịnh mà không khởi niệm là sai, là không hiểu nghĩa của niệm.
Niệm tịnh là những niệm an vui yên ổn.
Nếu con bảo tâm con không niệm sao con biết mọi vật xung quanh con.
Con hiểu sai chữ niệm, vì chữ niệm có hai nghĩa rất rõ:
- Niệm là tư duy suy nghĩ.
- Niệm là chỉ biết mọi vật đang xảy ra xung quanh con.
Vậy biết niệm nào là đúng, niệm nào là sai?
- Niệm đúng là tư duy suy nghĩ những điều thiện.
- Niệm sai là tư duy suy nghĩ những điều ác.
- Niệm là chỉ biết mọi vật xung quanh con mà không bị lôi cuốn theo mọi vật là đúng.
- Niệm là chỉ biết mọi vật xung quanh con mà bị lôi cuốn theo mọi vật là sai.
                                    Kính thư,
                                 Thầy của con

KIỂM TRA TRI KIẾN TU TẬP VÀ ĐÁP ÁN # 1

Để tránh đi sự hiểu biết sai lệch dẫn đến tình trạng tu ức chế tâm và mất thời gian tu tập. Tu viện sẽ có những bài kiểm tra thường xuyên với Tu sinh, đến khi nào mọi người đã hoàn toàn thông hiểu.

1/ Tâm bất động, thanh thản, an lạc và vô sự. Hãy giải thích ý nghĩa của tâm và trình bày sự tu tập của mình khi tác ý câu này?

2/ Khi tâm sanh khởi niệm thì phải làm gì? Có mấy loại niệm?
Cho ví dụ và trình bày cách tu tập trên niệm đó?


3/ Khi bị hôn trầm thì phá như thế nào? Trình bày cách phá và nêu rõ tầm quan trọng (mục đích) một trong những pháp hành dùng để đối trị?

4/ Khi ngồi chơi tâm ở đâu? Hãy nói rõ trạng thái tâm lúc đó động hay tịnh. Tịnh như thế nào là đúng, như thế nào là sai? Động như thế nào là đúng, động như thế nào là sai?

5/ Khi một người tu tập có bao nhiêu pháp để tu tập trong một thời gian nhất định (ví dụ: 1 giờ, 2 giờ, 3 giờ)?

ĐÁP ÁN

1/TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC VÀ VÔ SỰ là tâm ở trạng thái NIẾT BÀN của Phật giáo, khi tâm ở trạng thái này thì không có một ác pháp nào tác động được. Muốn giữ gìn và bảo vệ chân lý này để chứng đạo thì chỉ có pháp NHƯ LÝ TÁC Ý. Khi tác ý câu này phải để tâm tự nhiên không ức chế, ý thức cũng không bám giữ câu tác ý.

2/ Khi tâm sanh khởi niệm thì phải biết PHÂN BIỆT niệm đó. Có 3 loại niệm: Niệm THIỆN, niệm ÁC và niệm KHÔNG THIỆN KHÔNG ÁC.
Ví dụ: Có niệm ÁC thì TÁC Ý đuổi đi hoặc dùng TRI KIẾN NHÂN QUẢ quán triệt.

3/ Khi bị hôn trầm thì ĐI KINH HÀNH hoặc dùng pháp THÂN HÀNH NIỆM có nghĩa là tác ý trước thân hành sau.

4/ Khi ngồi chơi tâm ở trên TỨ NIỆM XỨ, lúc đó tâm TỊNH mà ĐỘNG.
  • TỊNH mà ý thức khởi niệm phân biệt biết tất cả các pháp mà không phóng dật theo pháp nào là đúng.
  • TỊNH mà ý thức không khởi niệm là sai.
  • ĐỘNG mà ý thức khởi niệm phân biệt biết tất cả các pháp mà không dính mắc các pháp là đúng.
  • ĐỘNG mà ý thức khởi niệm phân biệt biết tất cả các pháp mà dính mắc các pháp là sai.
5/ Trong một thời tu nhất định có 4 pháp tu tập:
  • Định niệm hơi thở
  • Quán tâm vô lậu
  • Thân hành niệm
  • Tứ niệm xứ.
Nguồn lấy từ Tu Viện Chơn Như

TÂM BẤT ĐỘNG - Không Nhìn Tâm Bất Động

        (NGÀY 22/11/2010)
 Kính gửi: Các con thân mến.
 1- Tâm bất động mà cứ quán thì sao gọi là tâm bất động hỡi các con?
2- Tu quá lâu mà các con giống như người mới vào tu, luôn luôn lúc nào cũng quán điều này, điều khác. Như vậy gọi là tu tập tâm bất động, hỡi các con?
3- Tu tập đến đây mà các con còn hỏi chữ và nghĩa về việc đoạn tận tham, sân, si bằng cách nào?
4- Tu tập tâm bất động sao lại ngồi nhìn tâm bất động. Tu như vậy là các con tự ức chế tâm, các con có biết không?
5- Tâm là sáu căn, sáu trần, sáu thức chứ đâu phải là tánh nghe, tánh thấy, tánh biết sao? Tánh nghe, tánh thấy, tánh biết là những pháp môn của Trung Quốc do các sư thầy Trung Quốc tưởng giải nên nó không đúng giáo pháp của Phật.
6- Tâm không niệm thiện, niệm ác là tâm bị ức chế ý thức, khiến ý thức không hoạt động, nên người tu tập lạc vào thiền tưởng như các sư thầy Lạt ma Tây Tạng, Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Campuchia, Việt nam, Lào, Mông Cổ, Miến Điện, Ấn độ,...
7- Lời Phật dạy: “Ý LÀM CHỦ, Ý TẠO TÁC, Ý DẪN ĐẦU CÁC PHÁP”. Các con nên khắc nghi những lời dạy này để dùng ý thức điều khiển sinh, già, bệnh, chết dễ như trở bàn tay.
8- Các con tu tập tâm bất động, thanh thản mà quán các pháp vô thường, vô ngã là tự các con đã làm tâm động thì làm sao gọi là tâm bất động?
9- Các con nhìn tâm bất động mà còn quán tâm bất động thì tâm còn bất động chổ nào?
10- Khi hỏi pháp tu hành thì nên hỏi ngay pháp thực hành chớ không nên hỏi những pháp tào lao.
11- Khi cầm bút viết thư thưa hỏi thì phải viết ngắn gọn và chỉ thẳng vấn đề muốn thưa hỏi.
12- Pháp tu tâm bất động chỉ nhắc tâm một lần rồi để tâm tự nhiên bất động chớ không nên dụng công bất động.
13- Tâm bất động là chân lý giải thoát của đạo Phật nên ai sống được với tâm này dù trong một giây, một phút... là đã thấy sự giải thoát ngay liền, vì thế khi tu tập pháp môn tâm bất động thì không cần phải tu tập pháp môn nào khác nữa cả.
14- Đức Phật dạy: “Pháp Ta không có thời gian đến để mà thấy”. Cho nên ai sống được với tâm bất động này là chứng đạo. Chứng đạo không ngoài tâm bất động.
15- Đạo Phật là đạo của con người, vì thế ai muốn giải thoát là có giải thoát ngay liền, trừ những người không muốn buông bỏ đời sống thế tục khổ đau thì dù có biết pháp giải thoát của Phật nhưng cũng không giải thoát.
                                   Kính ghi,
                          Thầy của các con


Nguồn : Tu Viện Chơn Như

Thursday, 16 February 2012

VAI TRÒ CỦA THẢO LUẬN LÀ GÌ?

Thảo luận ngày nay rất phổ biến ở khắp nơi nhất là ở trường học, các diễn đàn, các câu lạc bộ, hội đoàn, v.v…Thảo luận giúp cho mọi người trong nhóm thảo luận học hỏi những quan điểm khác nhau của bạn nhóm mình. 

Để có thể cuộc thảo luận trở nên có kết quả tốt thì những người trong nhóm thảo luận phải hiểu rõ vai trò của cuộc thảo luận là gì. Vì nếu không hiểu được thì sẽ biến cuộc thảo luận thành cuộc tranh luận đúng sai, hơn thua, dẫn đến những chuyện chỉ trích, chê bai, nói cái sai, cái xấu của nhau ra, dẫn đến tình cảm bị xức mẻ, mất đi tình bạn trong nhóm, v.v…

Vậy phải nên hiểu vai trò của thảo luận là gì? Thật là đơn giản.
Khi một người đưa ra một đề tài để thảo luận, mỗi người trong nhóm chỉ cần nói lên sự hiểu biết của mình về đề tài đã được nêu ra mà thôi, chứ không phải đánh giá nhận xét ý kiến hoặc sự hiểu biết của người khác.

Chính vì chỗ này, chỗ đánh giá ý kiến của người khác đúng sai mà dẫn đến sự tranh luận, làm mất đi ý nghĩa của cuộc thảo luận.

Chúng ta không nên trách ai có ý kiến sai hay khác với ý của mình, mà hãy hiểu rằng mỗi người đều có sự hiểu biết và kiến thức giới hạn, do đó không ai giống ai. Chỉ cần chúng ta biết tôn trọng ý kiến của người khác, chỉ nói lên ý kiến của mình về đề tài mà thôi thì buổi thảo luận thành công.

Thảo luận để học hỏi chứ không phải để chứng minh mình hơn người khác. Nhưng thường thì ai cũng bị cái bản ngã cho mình ta đây hiểu biết nhiều, hiểu biết hơn người cho nên liền phản ứng ngay lại với những ý kiến khác trái ý với mình.

Do vậy chúng ta nên cẩn thận kẻo dẫn đến mất lòng, gây bất hòa, bạn bè chia rẽ và mất đoàn kết. 
 
Hiểu rõ đúng vai trò của thảo luận, chính là biết thương yêu tôn trọng lẫn nhau, cùng nhau học hỏi và tiến bộ. Đó gọi là đức thảo luận.

Có một người góp ý như sau:

 Ba yếu tố chính để cuộc thảo luận thêm phần phong phú, khoáng đạt ( tự do, thỏa mái ) và cảm thông đó là:

1- Loại bỏ cái tôi
2- Tôn trọng ý kiến, và lắng nghe ý kiến
3- Không thiên kiến, thành kiến.


 và quan trọng nhất là thảo luận đúng chủ đề. 

Dĩ nhiên khi nghe ai đó nói lên quan điểm của mình, người nghe không hiểu một số danh từ hay vấn đề nào đó, có thể nhờ họ giải thích rõ lại để mọi người hiểu rõ hơn. 

Phật Giáo Còn Hay Mất


Dựa vào đâu chúng ta có thể xác định Phật giáo còn hay mất?

Trước khi đức Phật nhập diệt, Ngài đã để lại di ngôn cho chúng ta rồi: “Các con hãy lấy giới luật của ta làm thầy, làm chổ nương tựa; Giới luật còn là Phật giáo còn, Giới luật mất thì Phật giáo mất”. Nghĩa là ở đâu có người giữ gìn giới luật thì ở đó có Phật giáo, ở đâu không có người giữ gìn giới luật, ở đó không có Phật giáo.

Chỉ cần một lời di chúc này đã đủ để cho chúng ta biết:
1.   Phật giáo còn hay mất.
2.   Đâu là chánh đạo, đâu là tà đạo. Ở đâu có giới luật, ở đó có chánh đạo; ở đâu có không giữ gìn giới luật, ở đó có tà đạo. Dù là môn phái pháp môn nào không phân biệt Tịnh Độ, Mật Tông, Thiền Tông, Thiền Đông Độ, Tiểu Thừa, Đại Thừa hay Nguyên Thủy, v.v…ở đâu giữ gìn giới luật, ở đó Phật Giáo còn.
3.   Xác định ở đâu là thời chánh pháp, ở đâu là thời mạt pháp.
4.   Đâu là pháp của Phật, đâu là tà pháp. Người không giữ gìn giới luật thì những lời dạy, sách viết đều là do tưởng tri mà ra, tưởng tri có được là do tu tập không giữ gìn giới luật, bị rơi vào tưởng định, phát sinh tưởng tuệ, tưởng mình là thông suốt kinh điển lời Phật, tưởng mình đã chứng đạo nên viết sách dạy người khác, tự xưng là Phật, là phật tổ, là tổ sư, là giáo chủ rồi lập ra giáo phái môn phái mới, v.v… dạy những điều mê tín dị đoan, nói những điều tiên tri về phật quá khứ, tương lai, nói về thế giới siêu hình tưởng có thế giới này thế giới nọ sau khi chết, biến Phật giáo thành chia năm xẻ bảy, v.v…
5.   Giúp đã thông và giải quyết những tư tưởng của người thời đại luôn đặt nặng vấn đề phân biệt môn phái: đại thừa, tiểu thừa, mật tông, tịnh độ, thiền tông, thiền đông độ, nguyên thủy,v.v… Ở đâu có giới luật ở đó có Phật giáo, ở đâu không có giới luật thì dù cho tên tuổi gì, nhãn mác gì, quần áo màu gì, đầu có cạo trọc hay không, thuộc môn phái Phật nào cũng không phải là phật giáo.


Chính sau khi đức Phật chứng đạo, Ngài đã quỳ xuống đảnh lễ Giới Luật, Chính nhờ giới luật mà Ngài đã tu chứng đạo. Bởi vậy giới luật là thầy của chúng ta.

Chúng ta đã bỏ qua và quá xem thường giới luật, xem giới luật giống như những điều cấm kỵ hay pháp luật, nhưng thực chất ra chính giới luật là những đức hạnh đạo đức cao quý tuyệt vời giúp cho con người sống biết thương yêu nhau.

Nếu chỉ có giới luật làm thầy thì
·        Làm gì trong chùa có Thần Thánh, ông Phật này bà thánh nọ để mọi người vào cúng bái, cầu khẩn biến Phật giáo thành một tôn giáo đa thần.
·        Trong chùa không có ông thần thánh nào mà chỉ có những lời dạy đạo đức thì đâu cần đốt nhang, xem săm, bói quẻ, coi ngày lành tháng tốt, giải sao giải hạn,…
·        Đâu cần xây chùa to làm gì vì xây để cho ai nếu không còn ông thần thánh hay bà chúa nào trong đó. Có cần hội họp, giảng dạy hay thuyết pháp gì thì ngồi ngoài sân cũng được, ngồi ngoài sân càng mát chứ sao.
·        Trong chùa chỉ cần xây những ngôi nhà nhỏ như các thất để người đệ tử Phật giáo vào đó sống đời sống độc cư đức hạnh buông xả ly dục ly ác pháp cho sạch.
·        Đâu cần hao tài tốn của đàn na thí chủ cúng dường xây chùa cao cửa rộng, xây tượng, đúc chuông,hồ ao, danh lam thắng cảnh…
·        Ngày nay đâu có rừng kinh sách về Phật giáo, chỉ cần có giữ gìn 10 giới sa di, thập thiện, ngủ giới thôi cũng đủ rồi.
·        Ngày nay trong chùa đâu có thần thánh hóa tôn thờ các vị Phật, Phật A di Đà, Phật tổ sư, Phật tương lai Di Lạc. Bởi vì dù ai đi chăng nữa cũng phải sống đúng giới luật. Giới luật là tiêu chuẩn xác định thực tế người tu theo đạo Phật, còn có ông Phật nào đó xuất hiện cũng đâu giúp cho con người tu thoát khổ được, làm sao những ông Phật đó giúp cho con người chứng đạo được, chỉ phải mỗi người tự mình đốt đuốc lên mà đi.
·        Chúng ta không bị lừa bởi các ông Phật ra đời, vì mấy ổng biết không giúp cho con người chứng đạo được cho nên đệ tử của mấy ổng sáng chế ra có thế giới sau khi chết, nếu tu đời này chưa chứng đạo thì sau khi chết sẽ tiếp tục vào thế giới của những ông Phật đó tu tiếp. Bị lừa kiểu này vậy mà vẫn để bị lừa. Đúng là đủ mọi mánh khóe.
·        Nếu mấy vị phật tổ, tổ sư, phật này phật nọ, giáo chủ này giáo chủ nọ cũng chứng đạo từ giới luật mà ra thì cần gì lập ra môn phái mới, cứ theo con đường mà giới luật mà dạy. Chỉ vì tu sai cho nên mới sáng chế ra thêm pháp môn mới để che mắt thiên hạ sự không chứng đạo của mình, nhưng thiệt ra chính mấy ổng Phật giả đó dấu đầu lòi đuôi.
·        Đâu cần tụng kinh gỏ mỏ, ngồi thiền, niệm thần chú, luyện công án, tranh luận hơn thua,v.v… chỉ cần sống độc cư, ngồi chơi tự nhiên như người bình thường xả tâm, buông xả mọi tâm niệm dục và ác pháp là đủ rồi.
·        Con người không còn tin vào thế giới siêu hình vì mỗi người đã sống có đạo đức đức hạnh rồi thì họ quan tâm đến thế giới siêu hình có hay không để làm gì, cuộc sống của họ đã hạnh phúc ngay tại thế gian này rồi, đây là thiên đàng rồi thì mơ tưởng đến thế giới vô hình để làm gì. Chỉ những người sống không có giới luật đức hạnh mới tin vào thế giới siêu hình, sống trong sợ hãi, mê muội và đầy mê tín, do vậy mới bị người khác gạt cần cầu an cầu siêu cho người chết. Nếu khi còn sống giữ gìn giới luật đức hạnh thì khi chết cần gì cầu an, cầu siêu. Tại sao không cầu an cầu siêu cho người còn sống, biết chắc ăn thì còn sống mướn mấy ông thầy đó về cầu an cầu siêu để được vào thẳng thế giới Phật luôn, sống chi cho khổ.

·        V.v…

Tóm lại, chỉ cần một lời di chúc của đức Phật Thích Ca Mau Ni cũng đủ giải quyết mọi thắc mắc của con người thời đại ngày nay về Phật Giáo. Đã là đệ tử theo Phật giáo chúng ta nên chú trọng về việc sống đời sống đức hạnh, vì chỉ có đời sống đức hạnh mới đem lại niềm vui và hạnh phúc cho chính mình, mọi người và muôn loài vạn vật khác.