Monday, 20 February 2012

MÓN ĂN GIẢI THOÁT


TÂM THƯ GỬI QUÍ VỊ
(18-4-2009)

            Kính gửi: Quí vị!

            Quí vị hãy đọc kỹ lại bài mà Thầy đã cho ghi vào bia đá trong Tu viện Chơn Như “MÓN ĂN GIẢI THOÁT”.

            Đức Phật dạy:

        1.      Này các Tỳ kheo! Cái gì là thức ăn cho Minh Giải Thoát (Tam Minh)? Bảy Giác Chi, cần phải trả lời như vậy.
2.      Này các Tỳ kheo! Cái gì là thức ăn cho (Năng lực) Bảy Giác Chi? Bốn Niệm Xứ, cần phải trả lời như vậy.
3.      Này các Tỳ kheo! Cái gì là thức ăn cho Bốn Niệm Xứ? Ba Thiện Hành, cần phải trả lời như vậy.
4.      Này các Tỳ kheo! Cái gì là thức ăn cho Ba Thiện Hành? Các Căn Được Chế Ngự, cần phải trả lời như vậy.
        5.      Này các Tỳ kheo! Cái gì là thức ăn cho Các Căn Được Chế Ngự? Chánh Niệm Tỉnh Giác, cần phải trả lời như vậy.
6.      Này các Tỳ kheo! Cái gì là thức ăn cho Chánh Niệm Tỉnh Giác? Như Lý Tác Ý, cần phải trả lời như vậy.
7.      Này các Tỳ kheo! Cái gì là thức ăn cho Như Lý Tác Ý? Lòng Tin, cần phải trả lời như vậy.
8.      Này các Tỳ kheo! Cái gì là thức ăn cho Lòng Tin? Nghe Diệu Pháp, cần phải trả lời như vậy.
9.      Này các Tỳ kheo! Cái gì là thức ăn cho Nghe Diệu Pháp? Thân Cận Với Bậc Chân Nhân (Bậc tu chứng đạo), cần phải trả lời như vậy.

--o0o--


Kính gửi: Các con!

Món ăn giải thoát là một bài pháp thực hành rất cụ thể và căn bản nhất trong những lời đức Phật dạy từ xưa đến nay. Chúng ta hãy lắng nghe lời dạy thứ nhất của đức Phật: “Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho MINH GIẢI THOÁT (Tam Minh)? BẢY GIÁC CHI, cần phải trả lời như vậy”.

Đọc qua lời dạy này chúng ta thấy rõ con đường giải thoát của Phật giáo bắt đầu đức Phật chỉ thẳng cho chúng ta biết thành quả giải thoát cao nhất của Phật giáo là TAM MINH. Vậy muốn có TAM MINH thì phải tu tập như thế nào phải có BẢY NĂNG LỰC GIÁC CHI. Trong đoạn kinh này đức Phật xem BẢY NĂNG LỰC GIÁC CHI là món ăn của TAM MINH. Cho nên muốn có TAM MINH thì  phải tu tập có BẢY NĂNG LỰC GIÁC CHI. Đó là những kết quả pháp hành tối thượng của đạo Phật để làm chủ sinh, già, bệnh, chết.

Muốn đạt được TAM MINH và BẢY NĂNG LỰC GIÁC CHI thì phải tu tập pháp môn nào? Chúng ta hãy lắng nghe lời dạy thứ hai của đức Phật: “Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho (Năng Lực) Bảy Giác Chi? Bốn Niệm Xứ, cần phải trả lời như vậy”. Như vậy muốn có BẢY NĂNG LỰC GIÁC CHI thì phải tu tập pháp môn TỨ NIỆM XỨ, chứ không phải tu tập BẢY GIÁC CHI. Tất cả các nhà học giả xưa và nay đều hiểu lầm chỗ này, họ hiểu BẢY GIÁC CHI là bảy pháp tu tập, không ngờ tu tập pháp môn TỨ NIỆM XỨ  thì BẢY GIÁC CHI lần lượt xuất hiện từng GIÁC CHI. GIÁC CHI này xuất hiện xong thì GIÁC CHI kia xuất hiện, cứ trên trạng thái TỨ NIỆM XỨ tu tập kéo dài bảy ngày đêm thì BẢY GIÁC CHI xuất hiện đầy đủ. Khi BẢY GIÁC CHI xuất hiện đầy đủ thì liền có TỨ THẦN TÚC. TỨ THẦN TÚC gồm có;

1-    Tinh Tấn Như Ý Túc
2-    Định Như Ý Túc.
3-    Định Như Ý Túc.
4-    Tuệ Như Ý Túc.

Trong TUỆ NHƯ Ý TÚC có đầy đủ TAM MINH. TAM MINH gồm có:

1-    Túc Mạng Minh
2-    Thiên Nhãn Minh
3-    Lậu Tận Minh.

Như vậy muốn có BẢY GIÁC CHI, TỨ THẦN TÚC, TAM MINH thì chỉ cần tu tập pháp môn TỨ NIỆM XỨ. Vậy trước khi tu tập pháp môn TỨ NIỆM XỨ chúng ta phải tu tập pháp môn gì?

Chúng ta hãy lắng nghe lời dạy thứ ba của đức Phật: “Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho Bốn Niệm Xứ? Ba Thiện Hành, cần phải trả lời như vậy”. Vậy BA THIỆN HÀNH là gì?

BA THIỆN HÀNH là pháp môn TỨ CHÁNH CẦN. Muốn đạt được trạng thái TỨ NIỆM XỨ thì phải tu tập pháp môn TỨ CHÁNH CẦN tức là hằng ngày tu tập không lúc nào ngơi nghỉ. Đi, đứng, nằm, ngồi đều tu tập được cả luôn luôn dùng ý thức tri kiến ngăn và diệt các ác pháp bên ngoài lẫn bên trong của từng tâm niệm. Tất cả ác pháp này đều phải diệt  sạch chỉ còn giữ gìn và bảo vệ một pháp duy nhất, đó là TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC VÀ VÔ SỰ.

Trong sự tu tập ngăn ác diệt ác pháp thì SÁU CĂN PHẢI ĐƯỢC CHẾ NGỰ như lời dạy thứ tư của đức Phật: “Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho Ba Thiện Hành? Các Căn Được Chế Ngự, cần phải trả lời như vậy”.

 Muốn chế ngự các căn thì phải sáng suốt nhận xét sáu trần xem coi tâm dính mắc vào trần nào, nếu tâm dính mắc vào trần nào thì phải ngăn và diệt trần đó không cho dính mắc, đó là cách thức chế ngự các căn. Như vậy chế ngự các căn là phải CHÁNH NIỆM TỈNH GIÁC. Đúng như lời dạy thứ năm của đức Phật: “Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho Các Căn Được Chế Ngự? Chánh Niệm Tỉnh Giác, cần phải trả lời như vậy”. 


Khi tâm lúc nào cũng ở trong CHÁNH NIỆM TỈNH GIÁC thì tâm rất sáng suốt. Tâm sáng suốt thì không một trần cảnh hay một ác pháp nào muốn xăm chiếm vào tâm đều bị ý thức ngăn và diệt sạch ra khỏi tâm khiến tâm luôn luôn BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC VÀ VÔ SỰ. Muốn ngăn và diệt được ác pháp như vậy thì ý thức luôn luôn phải CHÁNH NIỆM TỈNH THỨC, nhờ có chánh niệm tỉnh thức mới biết dùng pháp NHƯ LÝ TÁC Ý. Có tu tập như vậy mới thấy lời dạy thứ sáu của đức Phật: “Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho Chánh Niệm Tỉnh Giác? Như Lý Tác Ý, cần phải trả lời như vậy”.

Đúng như vậy, những pháp hành này là những pháp bảo vệ và giữ gìn TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC, VÔ SỰ dễ dàng nhất mà không có một pháp nào hơn được. Đây là pháp môn rốt ráo nhất của Phật giáo để cứu người ra biển khổ. Cho nên các con hãy nhớ mà tu tập, xem pháp môn này như món ăn hằng ngày để nuôi sinh mạng của các con. Bởi vậy bài pháp THỨC ĂN của Phật dạy là một bài pháp tuyệt vời. Cuộc đời đi tu mà gặp pháp môn này như người đói mà gặp cơm và thực phẩm thì làm sao còn đói được nữa; như người nghèo gặp vàng bạc của báu thì làm sao còn nghèo nữa.

Trải qua sáu pháp tu học giúp chúng ta thấy Phật pháp rất thực tế và cụ thể trong các pháp hành. Tu đâu liền có kết quả ngay liền, bởi vì Phật pháp là pháp môn tu tập làm chủ thân tâm nên tu tập là có thấy kết quả làm chủ ngay liền.

Muốn siêng năng tinh tấn tu tập mà không biếng trể thì chúng ta hãy lắng nghe lời dạy thứ bảy của đức Phật: “Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho Như Lý Tác Ý? Lòng Tin, cần phải trả lời như vậy”.

Lời dạy thứ bảy của đức Phật là LÒNG TIN. Lòng tin do từ đâu mà có?

Chúng ta đã nghe sáu pháp môn thực hành trên đây của Phật giáo, mỗi pháp môn đều chỉ thẳng sự tu tập làm chủ thân tâm một cách cụ thể rõ ràng, khiến cho người nào tu tập cũng đều có sự làm chủ  thân tâm, mang đến sự giải thoát rõ ràng, nếu chúng ta không tu tập thì thôi mà đã tu tập thì ngay đó là có sự làm chủ giải thoát. Chỉ cần nghe chứ chưa tu tập mà chúng ta đã có lòng tin sâu sắc, lòng tin không thể còn ai lay chuyển được.

Nhờ có những pháp tu hành làm chủ thân tâm thực tế như vậy nên làm sao người ta không tin. Những pháp ấy đức Phật gọi là VI DIỆU PHÁP. Vậy chúng ta hãy lắng tai nghe lời dạy thứ tám của đức Phật: “Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho Lòng Tin? Nghe Diệu Pháp (chân pháp của Phật), cần phải trả lời như vậy”.

VI DIỆU PHÁP không phải là pháp môn cao siêu vĩ đại có thần thông, phép lực cao cường, hô phong, hoán vũ, tàng hình, biến hóa v.v… VI DIỆU PHÁP của Phật rất bình thường như ăn cơm uống nước dễ dàng như vậy, chứ không phải như đọc thần chú, luyện bùa như Mật Tông; chứ không như niệm Phật nhất tâm cầu vãng sinh Cực Lạc Tây Phương như Tịnh Độ Tông rất khó khăn; chứ không như ngồi thiền nhập định như Thiền Tông chân đau như buốt, gối mỏi, lưng thụng, đầu lút lắt như lên đồng nhập cốt v.v…

VI DIỆU PHÁP của Phật chỉ là những đức hạnh sống hằng ngày không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả các loài chúng sinh. Bởi vậy VI DIỆU PHÁP của Phật chỉ là pháp NGĂN ÁC DIỆT ÁC PHÁP hằng ngày trong tâm niệm của mình. Hầu hết mọi người tu hành chưa chứng đạo khi nghe nói đến VI DIỆU PHÁP thì liền nghĩ tưởng đó là pháp CAO SIÊU vượt ngoài sự hiểu biết của con người.

Người ta cho rằng VI DIỆU PHÁP còn có một cái tên là PHÁP MÔN BẤT TƯ NGHÌ có nghĩa là pháp môn không thể nghĩ bàn. Thật là con người quá giàu lòng tưởng tượng.

Ngày xưa đức Phật bảo: “Phật pháp không ngoài thế gian pháp”. Như vậy chúng ta không nên nghe những người tu chưa chứng mà hãy tìm những người đã tu chứng làm chủ sinh, già, bệnh, chết thì họ sẽ chỉ dạy những pháp mà họ đã tu chứng đạo như lời dạy thứ chín của đức Phật: “Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho Nghe Diệu Pháp? Thân Cận Với Bậc Chân Nhân (Bậc tu chứng đạo), cần phải trả lời như vậy”. Đúng vậy chỉ có những người tu chứng mới đủ khả năng dạy chúng ta tu chứng. Còn ngoài ra thì chúng ta đừng tin ai cả. Khi tu chưa chứng họ chẳng có kinh nghiệm tu hành nên dạy chúng ta tu hành không kết quả làm chủ thân tâm.


--o0o--
    
GIẢNG TRẠCH VÀ CHỈ THẲNG PHÁP MÔN TU TẬP

  Những lời dạy trên đây của đức Phật, chúng ta nhận thấy có CHÍN PHÁP tu tập gồm có:

1- THÂN CẬN THIỆN HỮU TRI THỨC:


Người mới bắt đầu vào đạo phải tu pháp môn nào trước? Như đức Phật dạy: Mới bắt đầu tu tập là phải THÂN CẬN THIỆN HỮU TRI THỨC. Thân cận thiện hữu tri thức là thân cận bậc tu đã chứng đạo, có nghĩa là phải sống ở gần bên người chứng đạo để được thưa hỏi những điều mình chưa hiểu biết. Như vậy pháp thứ nhất. là pháp “THÂN CẬN THIỆN HỮU TRI THỨC”

Khi sống được thân cận với bậc tu chứng đạo thì phải thưa hỏi chân lý giải thoát. Vậy chân lý giải thoát là cái gì?

2- NGHE VI DIỆU PHÁP.

Như lời đức Phật đã dạy: NGHE VI DIỆU PHÁP. Vậy NGHE VI DIỆU PHÁP là nghe pháp gì?

NGHE VI DIỆU PHÁP của đức Phật là nghe dạy BỐN CHÂN LÝ: KHỔ, TẬP, DIỆT, ĐẠO. Khổ, tập, diệt, đạo nghĩa là gì?

- KHỔ là nói về đời sống con người không ai là không khổ. Cho nên khi hiểu được đời là KHỔ thì ai cũng muốn đi tu cả.

- TẬP là nguyên nhân sinh ra mọi thứ đau khổ tức là LÒNG THAM MUỐN. Khi hiểu được lòng tham muốn là nguyên nhân sinh ra đau khổ thì ai cũng muốn tu tập để diệt trừ lòng ham muốn.

- DIỆT là một trạng thái TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC VÀ VÔ SỰ. Khi hiểu biết và nhận ra "tâm bất động, thanh thản, an lạc và vô sự" là chân lý giải thoát của Phật giáo thì ai cũng muốn gìn giữ và bảo vệ nó để sống cho được với trạng thái này.

- ĐẠO là tám lớp học để thực hiện những phương pháp tu tập giữ gìn và bảo vệ TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC VÀ VÔ SỰ. Khi nhận ra tám lớp học và những pháp tu tập để bảo vệ và giữ gìn tâm bất động thanh thản, an lạc và vô sự thì ai cũng muốn tu tập để được giải thoát.

3- LÒNG TIN

Khi nghe và nhận hiểu bốn chân lý này là sự thật của kiếp người thì còn ai mà không tin đạo Phật.

Khi chúng ta có LÒNG TIN thì pháp đầu tiên chúng ta tu tập là pháp NHƯ LÝ TÁC Ý.

4- NHƯ LÝ TÁC Ý

Pháp NHƯ LÝ TÁC Ý như thế nào?

 Pháp NHƯ LÝ có nghĩa là như lý của sự giải thoát. Vậy NHƯ LÝ CỦA SỰ GIẢI THOÁT như thế nào?

Như lý của sự giải thoát là TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC, VÔ SỰ. Đó là chân lý thứ ba của pháp môn “TỨ DIỆU ĐẾ”

Khi chúng ta thường xuyên tu tập pháp NHƯ LÝ TÁC Ý thì tâm chúng ta ở trong trạng thái CHÁNH NIỆM TĨNH GIÁC.

5- CHÁNH NIỆM TĨNH GIÁC

Pháp CHÁNH NIỆM TĨNH GIÁC nghĩa là gì?

CHÁNH NIỆM nghĩa là niệm đúng theo như lời đức Phật dạy, còn niệm không đúng lời Phật dạy là TÀ NIỆM. Vậy niệm đúng lời Phật dạy là niệm gì?

NIỆM TÂM BẤT ĐỘNG THANH THẢN, AN LẠC, VÔ SỰ (Niệm chân lý thứ ba), đó là CHÁNH NIỆM - CHÁNH NIỆM tức là TỨ NIỆM XỨ – TỨ NIỆM XỨ là chỉ cho một trạng thái TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC và VÔ SỰ.

TĨNH GIÁC nghĩa là gì?

TĨNH GIÁC có nghĩa là IM LẶNG VÀ SÁNG SUỐT.

Nghĩa chung của bốn từ này CHÁNH NIỆM TĨNH GIÁC là “LUÔN LUÔN IM LẶNG SÁNG SUỐT TRÊN TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC, VÔ SƯ”

Khi tâm luôn luôn im lặng sáng suốt trên tâm bất động thanh thản, an lạc, vô sự thì các căn không tiếp xúc các trần. Các căn không tiếp xúc các trần nên gọi là chế ngự các căn.

6- CHẾ NGỰ CÁC CĂN

Pháp CHẾ NGỰ CÁC CĂN nghĩa là gì?

PHÁP ĐỘC CƯ, ĐỘC BỘ, ĐỘC HÀNH. Nhờ pháp độc cư, độc bộ, độc hành mới chế ngự các căn và làm cho các căn không còn phóng dật chạy theo các trần. Do đó THÂN HÀNH, KHẨU HÀNH VÀ Ý HÀNH đều được thanh tịnh tức là thân hành, khẩu hành và ý hành không còn làm điều ác nên gọi là BA THIỆN HẠNH

7- BA THIN HẠNH

Pháp BA THIỆN HẠNH nghĩa là gì?

Pháp BA THIỆN HẠNH là pháp TỨ CHÁNH CẦN, người sống với BA THIỆN HẠNH là người đang "ngăn ác, diệt ác pháp; sinh thiện, tăng trưởng thiện pháp."

BA THIỆN HẠNH tức là ba hành động THÂN, KHẨU, Ý thanh tịnh. Ba hành động THÂN, KHẨU, Ý thanh tịnh là toàn thân thanh tịnh. TOÀN THÂN THANH TỊNH tức là bốn chỗ thanh tịnh. Bốn chỗ là THÂN, THỌ, TÂM, PHÁP thanh tịnh. Thân, thọ, tâm, pháp là TỨ NIỆM XỨ. Tứ Niệm Xứ thanh tịnh là thân tâm thanh tịnh.

8- TỨ NIỆM XỨ

LUÔN LUÔN IM LẶNG SÁNG SUỐT TRÊN TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC, VÔ SỰ tức là tâm đang ở trên TỨ NIỆM XỨ. Tâm ở trên trạng thái TỨ NIỆM XỨ này lần lượt xuất hiện đủ BẢY NĂNG LỰC GIÁC CHI.

9- BẢY NĂNG LỰC GIÁC CHI

Khi tâm tinh tấn siêng năng LUÔN LUÔN IM LẶNG SÁNG SUỐT TRÊN TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC, VÔ SỰ thì TINH TẤN GIÁC CHI xuất hiện, khi TINH TẤN GIÁC CHI xuất hiện thì NIỆM GIÁC CHI xuất hiện, khi NIỆM GIÁC CHI xuất hiện thì ĐỊNH GIÁC CHI xuất hiện; ĐỊNH GIÁC CHI xuất hiện thì KHINH AN GIÁC CHI xuất hiện; KHINH AN GIÁC CHI xuất hiện thì HỶ GIÁC CHI xuất hiện; HỶ GIÁC CHI xuất hiện thì XẢ GIÁC CHI xuất hiện; XẢ GIÁC CHI xuất hiện thì TRẠCH PHÁP GIÁC CHI xuất hiện.

Khi BẢY NĂNG GIÁC CHI xuất hiện đầy đủ thì thân tâm chúng ta có TỨ THẦN TÚC. TỨ THẦN TÚC gồm có:

1-    TINH TẤN NHƯ Ý TÚC (Tứ Niệm Xứ)
2-    DỤC NHƯ Ý TÚC (Lục Thông)
3-    ĐỊNH NHƯ Ý TÚC (Tứ Thánh Định)
4-    TUỆ NHƯ Ý TÚC (Trí tuệ Tam Minh)

Tu tập đến đây là chúng ta đã CHỨNG ĐẠO, không còn tu tập một pháp nào nữa cả. Vì thân tâm chúng ta có đủ nội lực làm chủ sự sống chết, chấm dứt tái sinh, tự tại trong sinh tử, không còn bị nhân quả chi phối, điều hành nữa.


(Trích từ sách "Những Lời Tâm Huyết" trang 27-37, xuất bản năm 2009)