Sunday, 19 September 2010

THẤT KIẾT SỬ

Bài này trích ra từ bài giảng của thầy Thích Thông Lạc, các bạn có thể tải về nghe tại đây.


Thất Kiết Sử là 7 pháp trói buộc con người khiến cho đau khổ, bảy pháp đó gồm có:

1- Ái Kiết Sử: là lòng thương yêu, thương mến, thích thú của mình, nó đã trói buộc mình làm cho mình đau khổ. Nghĩa là lòng thương yêu của mình đối với một đối tượng nào đó, đối với một vật nào đó, đối với cha mẹ anh em đều thuộc về ái kiết sử, cho nên cái lòng thương yêu đó nó trói buộc mình, làm cho mình đau khổ.

Hoặc là mình ưa thích vật nào đó thì đó cũng thuộc về ái kiết sử, cho nên nó trói buộc mình dữ lắm. Bây giờ ví dụ như mình ưa thích cái nhà, chính cái nhà là ái kiết sử nó trói buộc mình làm cho mình ưa thích nó, vì vậy mà mình chịu đau khổ đủ cách.

2- Sân Kiết Sử: là lòng sân, giận, tức, giận dữ của mình đã trói buộc mình làm cho mình buồn khổ, nó kéo buộc mình, làm mình tùy miên miên mật trong lòng, làm cho cái giận cứ kéo dài hoài, cho nên nó trói buộc mình không bao giờ làm cho mình nguôi cái lòng giận, lòng sân, lòng hận đó.

3- Kiến Kiết Sử: là sự cố chấp hiểu biết của mình cho là đúng, còn sự hiểu biết của người khác cho là sai. Vì thế nó tự trói buộc mình, làm khổ mình, ai nói gì nó cũng không nghe.

Ví dụ như: Tôi còn trẻ, nhỏ chưa biết đời, phải hiểu đời rồi tôi mới xả bỏ được, còn chưa biết gì thì xả bỏ khó lắm, do đó cái kiến chấp của mình là như vậy. Người ta nói đời là khổ, đừng có nhiễm, nhiễm rồi xả không có được, nhưng mình cứ chấp vào ý kiến của mình như vậy, “mình hiểu rồi mình mới xả được”. Do cái chổ kiến chấp đó thì đó gọi là kiến kiết sử, nó trói buộc mình hoài, không có chịu nghe lời của người có kinh nghiệm đã đi qua, vì vậy mình bị trói buộc ở trong đó, cho nên mình ray rứt khổ đau, phải tìm hiểu, chứ không thì khổ lắm. Đến khi hiểu rồi, thấy rõ lời của người ta nói quá đúng, đến khi biết rồi, dính rồi thì xả không được. Bây giờ có vợ con một bè thì làm sao xả đây, mình đâu bỏ họ được, cho nên dở chết dở sống, hồi đó không có thì khỏe quá, còn bây giờ thì khổ quá. Cho nên kiến kiết sử nó trói buộc mình rất chặt.

4- Nghi Kiết Sử: là lòng nghi ngờ trói buộc mình làm khổ mình mà chẳng bao giờ chịu rời bỏ. Nghĩa là lòng nghi của mình, mình không chịu bỏ cái lòng nghi đó, do cái chổ đó mà mình mất đi cái nghị lực. Ví dụ mình nghi cái pháp đó tu không được thì mình không có nghị lực tu, tu không nổi. Một người học trò mà nghi thầy mình tu chưa tới nơi, lòng nghi này làm cho mình không tu tập được nữa. Hoặc như nghi đức Phật, nghi đạo Phật là không đúng thì không còn theo đạo Phật nữa. Đó là cái nghi làm mất đi chổ tu tập.

Cho nên cái lòng nghi kiết sử này nó trói buộc mình làm cho mình không có xả ra được, làm cho người học trò xa thầy, họ nghi thầy cách này cách khác, không có chịu tìm hiểu cho rõ ràng, do vì cái nghi đó mà họ không còn tu tập pháp với vị thầy đó nữa, nghi Phật thì bỏ Phật. Do nên lòng nghi đó trói buộc mình, làm cho mình không còn sáng suốt. Bởi vậy đức Phật dạy, thầy dạy: Những gì thầy nói đừng có tin thầy, mà hãy suy ngẫm, suy ngẫm, thấy đúng rồi mới tin, như vậy nó sẽ không còn nghi nữa.

Còn bây giờ thầy nói thì không chịu nghe, không chịu nghe lời giảng dạy của thầy, do đó không chịu suy ngẫm có đúng hay không, do vậy mình đâm ra nghi thầy bằng cách này, bằng cách khác, từ đó mình không còn tu tập được nữa.

5- Mạn Kiết Sử: là lòng ngã man, kiêu căng tự đắc, tự trói buộc mình, lúc nào cũng tự xem mình là trên hết, do lòng kiêu kiêu tự đắc này đã làm khổ mình, đó là đã bị trói buộc mà mình không hay biết gì cả. Mình tưởng là mình hay, mình ngon nhất, đó là nó đã tự trói buộc mình mà mình không biết. Do vậy khi người ta có một sự học thức nào đó là tự nhiên người đó có mạn kiết sử ngay liền. Nó trói buộc họ, họ cho cái học của họ là trên hết, do vậy họ bị cái ngã mạn.

6- Hữu Tham Kiết Sử: là những vật mình đã có sẵn rồi như cái nhà, cái đồng hồ, cái bàn, cái ghế, cái này cái kia,...Khi những vật này mất đi mình buồn, mình tiếc, ai làm hư thì mình giận mình chửi người ta,...thì đó gọi là hữu tham kiết sử.

Nó làm cho mình buông xả không được, tức là mình đã bị hữu tham kiết sử. Ví dụ: cái nhà, cái bàn của mình có người đến lấy đi, mình nói cái bàn này của tôi không phải của ông đâu, ông lấy không có được, mình không rời bỏ được. Hoặc thậm chí người tu sĩ chúng ta chỉ có một cái bình bát thôi, cứ sửa sang bình bát cho đẹp là cũng đã bị hữu tham kiết sử, chứ chưa nói cái khác. Phải xả hết.

Cho nên khi mình có một cái gì tốt mà người ta xin thì vui lòng cho liền, người đó không có bị hữu tham kiết sử. Còn mình thấy vật này tốt, mình không cho thì mình còn hữu tham kiết sử. Nó trói buộc mình với những vật đó.

Ví dụ: Cái đồng hồ của thầy đây, ai hỏi xin, thầy nói nó bị hư rồi. Thôi để thầy kiếm đồng hồ khác, nhưng đó là hữu tham kiết sử đó. Thầy muốn giữ, thầy khéo léo nói như vậy, chứ thầy muốn giữ nó, không muốn rời nó. Đó là những kỷ niệm của thầy hồi xưa, hồi đó có người bạn biếu thầy, nếu bây giờ bỏ nó thì mất đi cái tình kỷ niệm.

Cho nên cái gì chúng ta có mà bỏ ra không được gọi là hữu tham kiết sử, tức là nó trói buộc mình với cái vật đó.

7- Vô Minh Kiết Sử: là điều mình không hiểu mà cứ nghĩ rằng mình hiểu. Ví dụ những thiền sư họ không hiểu mà cứ nghĩ mình đã hiểu, họ không hiểu Diệt Thọ Tưởng Định mà họ nói bừa như vậy, râu tóc mọc dài như vậy đó. Đó là cái không hiểu, là cái vô minh của họ, mà họ không biết.

Ví như các thiền sư Đông Độ không hiểu Tứ Thánh Định, mà cứ cho là mình hiểu, nên xếp Tứ Thánh Định là thiền tiểu thừa, phàm phu thiền hay ngoại đạo thiền. Mình không hiểu nó mà dám xếp loại nó như vậy, thì mình chẳng biết gì hết.

Theo trong kinh sách ngài Khuê Phong, khi ngài viết kinh sách ngài dung hòa thiền giáo lại, phân thành 5 loại thiền và xếp Thiền chúng ta đang tu (thiền xả tâm) là thiền phàm phu, thiền tiểu thừa. Cho nên cái đó gọi là vô minh kiết sử. Cái không biết mà ngài ngỡ rằng ngài biết. Ngài xếp như vậy cho nên sau này ai cũng theo đó mà hiểu có 5 loại thiền, do vậy cái thiền tiểu thừa, thiền phàm phu này do ngài Khuê Phong mà đặt ra.

Chúng ta cứ ngỡ ngài Khuê Phong là Thánh mới đặt ra như vậy, sự thật ông chả nhập được Tứ Thiền chút nào hết, ông cũng chẳng biết nó tịnh chỉ hơi thở như thế nào cả, mà ông dám bảo rằng đó là thiền phàm phu, mà không ngờ rằng trong loại thiền này, đức Phật đã xác định cho chúng ta biết đó là Thánh trú. Chỉ có bậc Thánh mới trú ở trong thiền này. Phạm trú là tất cả những đức hạnh Phạm Thiên ở trong cái này. Như Lai trú là bậc Như Lai trú vào trong định này. Đức Phật đã xác định cho chúng ta thấy 4 loại thiền đó dành cho những bậc Thánh mà bây giờ biến thành phàm phu thiền thì đó là cái sai của Ngài Khuê Phong.

Do vậy cái không hiểu mà cho là hiểu gọi là vô minh kiết sử.

Giống như khi mình thương nhớ trong lòng mà mình không hiểu thì đó là vô minh kiết sử, nó làm cho mình dính mắc vào cái chổ không hiểu đó, nó trói buộc mình vào cái chổ đó. 



Mời các bạn đọc tiếp bài "Ngũ Triền Cái" tại đây.