Sunday, 23 May 2010

Bài Chánh Kiến # 9: Ý HÀNH NHÂN QUẢ

(Mỗi người mỗi tri kiến khác nhau, thời gian qua tri kiến cũng sẽ có nhận thức khác nhau, do vậy bài này chỉ là để tham khảo)



Tâm dẫn đầu mọi pháp
Tâm chủ tâm tạo tác
Nếu nói hay hành động
Với tâm tư  ô nhiễm
Khổ não sẽ theo sau
Như xe theo vật kéo

Tâm dẫn đầu mọi pháp
Tâm chủ tâm tạo tác
Nếu nói hay hành động
Với tâm tư thanh tịnh
Hạnh phúc sẽ theo sau
Như bóng không rời hình


Qua bài kệ trên trong kinh pháp cú Đức Phật đã xác định mọi hành động của thân và lời nói đều do ý dẫn đầu, ý suy tư. Nghĩa là ý là nhân, còn hành động của thân và lời nói là quả đã được bộc phát ra ngoài . Do đó ý đóng vai trò chủ chốt trong việc tạo tác nghiệp thiện hay ác .

            Chính vì vậy mà sau khi suy tư bất kỳ một việc gì ta phải quán xét lại xem những ý nghĩ đó có đem đến hại mình , hại người hay hại chúng sanh hay không? Có như vậy ta mới sống trong thiện pháp. Còn nếu ta không kỹ lưỡng suy tư từng ý niệm một thì khi ý đã được biến thành hành động của thân và lời nói thì hậu quả sẽ khó lường trước được .

            Các hậu quả của ý hành có thể mang đến hạnh phúc hoặc đau khổ dựa theo 1 số tiêu chuẩn sau:
·         Thập thiện và thập ác
·         Ngũ dục lạc thế gian : ăn, ngũ, sắc, danh và lợi
·         17 kiết sử
·         Vô minh lậu là các ý nghĩ không hiểu rõ đưa đến hại mình, hại người, hại cả hai và hại chúng sanh.
Chúng ta hãy cùng quan sát mọi khía cạnh của ý hành trong mọi nơi, mọi nghề nghiệp và mọi đời sống xã hội.  

I. Với tiêu chuẩn của thập thiện và thập ác, nếu ta có những ý nghĩ sau thì sẽ mang đến những quả xấu  như tai nạn, bệnh tật, tù tội, mất uy tính, người đời xa lánh , bị xấu hổ, mang tiếng suốt đời, v.v.

1.         Ý nghĩ sát hại chúng sanh; ý nghĩ khuyến khích người khác giết hại chúng sanh; ý nghĩ tán thán việc giết hại chúng sanh; ý nghĩ hân hoan việc giết hại chúng sanh.
2.         Ý nghĩ trộm cướp ; ý nghĩ khuyến khích người khác trộm cướp; ý nghĩ tán thán trộm cướp; ý nghĩ hân hoan trộm cướp.
3.         Ý nghĩ tà hạnh; ý nghĩ khuyến khích người khác tà hạnh; ý nghĩ tán thán tà hạnh; ý nghĩ hân hoan tà hạnh.
4.         Ý nghĩ nói dối; ý nghĩ khuyến khích người khác nói dối; ý nghĩ tán thán nói dối; ý nghĩ hân hoan nói dối.
5.         Ý nghĩ nói hai lưỡi; ý nghĩ khuyến khích người khác nói hai lưỡi; ý nghĩ tán thán nói hai lưỡi; ý nghĩ hân hoan nói hai lưỡi.
6.         Ý nghĩ nói phù phiếm; ý nghĩ khuyến khích người khác nói phù phiếm; ý nghĩ tán thán nói phù phiếm; ý nghĩ hân hoan nói phù phiếm.
7.         Ý nghĩ nói lời nói hung dữ; ý nghĩ khuyến khích người khác nói lời nói hung dữ; ý nghĩ tán thán nói lời nói hung dữ; ý nghĩ hân hoan nói lời nói hung dữ.
8.         Ý nghĩ tham tài sản của người khác; ý nghĩ khuyến khích người khác tham tài sản của người khác; ý nghĩ tán thán tham tài sản của người khác; ý nghĩ hân hoan tham tài sản của người khác.
9.         Ý nghĩ sân giận; ý nghĩ khuyến khích người khác sân giận; ý nghĩ tán thán sân giận; ý nghĩ hân hoan sân giận.
10.       Ý nghĩ có tà kiến; ý nghĩ khuyến khích người khác có tà kiến; ý nghĩ tán thán có tà kiến; ý nghĩ hân hoan có tà kiến.
Ngược lại với 40 ý nghĩ ác trên là 40 ý nghĩ thiện.

II. Ngũ dục lạc thế gian: ăn, ngủ, sắc, danh và lợi.
Đậy là những thứ dục lạc mà người đời thường hay dính mắc nhất, không ai là không dính mắc. Không những dính mắc mà con người bị mê say, ngập chìm trong năm thứ dục lạc này. Dẫn đến cuộc sống đầy đau khổ bất tận, không bao giờ dứt, cho nên cứ trôi lăn mãi hết kiếp này sang kiếp khác trong 6 nẽo luân hồi. 
1)         Ăn: là hoạt động hằng ngày của miệng. Không ai mà không ăn, mọi loài vật trên thế gian này đều phải nương tựa vào cái ăn này. Các cảm xúc, thưởng thức thức ăn của miệng khi ăn làm cho tâm tham của mọi loài càng lớn. Chính vì tham ăn, lo lắng cho cái ăn, vì miếng ăn mà bao nhiêu tội ác và ác pháp trên thế gian này hình thành. Những ý niệm về ăn thường là:
·         Ý nghĩ tham ăn nhiều hơn sức chứa của bụng.
·         Ý nghĩ ăn uống phi thời: khi mở tủ lạnh ra thấy thức ăn trong tủ lạnh thì muốn ăn; khi thấy thức ăn trên bàn thì muốn ăn; khi đi siêu thị thấy thức ăn lạ hoặc những thức ăn được bao bì bên ngoài trông đẹp mắt thì muốn ăn; khi nghe người bán rong rao bán hàng thì muốn ăn như chè, xôi, bánh, trái, v.v.; khi nghe người nhà hoặc ai đó tả về một món ăn nào đó thì muốn thử ngay; khi thấy và nghe quảng cáo trên TV, đài radio, trên sách báo hay ngoài phố thì muốn tìm đến ăn hoặc mua về nấu thử, v.v.
·         Khi đươc nếm hay ngửi hay sờ vào thức ăn tại quán ăn, nhà hàng hay nhà của người nào đó thì có ý ưa ghét món ăn đó
·         Ý thì luôn suy tư nhớ các món đã ăn, những món thích ăn.
·         Khi nhìn thấy các món ăn không đúng khẩu vị của mình thì ghét, chê bai, phê bình, bình luận, phân tích v.v
·         Khi người khác nấu những món ăn không đúng khẩu vị của mình thì có ý chê bai,v.v. Còn ngược lại thì khen. Và khi đi ăn tại nhà hàng hay chổ nào đó thì cũng có ý khen chê.
·         Khi đã ăn quen của một người nào đó nấu , đến lúc đổi người nấu ăn khác thì bắt đầu so sánh ngon dỡ, nhiều ít,v.v.
·         Khi chưa đến giờ ăn thì thèm ăn.
·         Khi ngồi tu mà nhớ món ăn này món ăn kia, nhớ những món hải sản, thịt, cá,v.v.
·         Nhớ món ăn này ăn ơ ủđâu là ngon, ăn ở đâu là dở.
·         Có ý muốn ăn món này món kia cho có đủ chất, có sức khoẻ.
·         Có ý phải ăn uống một ngày 2-3 lần cho có sức khỏe.
·         Có ý phải ăn món này, món kia cho tốt da, tốt răng, tốt dạ dày, tốt thận, tốt gan, tốt tim,v.v.
·         Uống rượu để hết bệnh cảm, ho, có đàm,v.v uống rượu vang để tim làm việc tốt, uốn gbia để dễ tiêu hoá.
·         Khi bữa ăn không có bánh trái, chè đồ ngọt thì nhớ,v.v
·         Vì lầm chấp cái thân này là của mình cho nên ta càng cung phụng cho cái thân. Cái thân đòi ăn cái gì thì ta chạy đây chạy đó tìm thức ăn bồi bổ cho cái thân mập mạp, tròn trịa và hồng hào. Chính vì vậy mà ta đã tạo bao nhiêu ác nghiệp mà không biết.
           
Thức ăn chỉ là thuốc chữa bệnh đói thôi. Aên là để sống, sống để tu, để xã tâm trên từng tâm niệm, có như vậy ta mới làm chủ cái thân này, nghĩa là làm chủ bệnh tật đem lại hạnh phúc an vui cho thân và tâm.
           
Dù cho loại thức ăn gì thì ta cũng phải nhai, khi nhai thì thức ăn được răng nghiền nát trộn với nước dịch thành một hỗn hơp như bột nhào. Ta thử nghĩ lúc này ta nhả thức ăn ra thì hổn hợp trên giống cái gì? Có phải giống cám heo không? hay là còn ghê hơn nữa? Thức ăn đó nếu để ở ngoài 1 phút thôi là ta đã không dám nuốt lại rồi. Dù cho thức ăn có màu gì , mùi gì, vị gì, hình dáng hấp dẫn như thế nào thì sau khi nhai cũng trở thành hỗn hơp trên thôi.  Sau đó ta mới nuốt vào bụng tiêu hóa với các axit được tiết ra trong bụng.
           
Cái ham ăn ngon, ăn ngọt, ăn chua, ăn cay,v.v chỉ là ảo tưởng thôi. Dù cho là cơm trắng thì cũng vậy thôi.
            Có nhiều cách quán thức ăn bất tịnh để nhàm chán ly tham thức ăn. Vậy mỗi bữa ăn ta hãy dành thời gian mấy miếng ăn đầu quán thức ăn là bất tịnh thì dần dần hiệu quả sẽ thấy rõ.   

2)                  Ngủ:

Ngủ là một trạng thái si mê của bao nhiêu ngàn kiếp mê mờ, vô minh lười biếng, biếng nhác, dẫn đến không rõ thiện ác, sống làm khổ mình, khổ người và khổ chúng sanh.
Si mê có năm dạng: Hôn trầm, thùy miên, hôn tịch, vô ký và ngoan không. Năm dạng này thay phiên nhau tấn công con người trong suốt cuộc đời. Muốn diệt tâm si mê này thì chỉ có sống đúng giới luật, để có tri kiến hiểu rõ mọi pháp, không còn suy nghĩ điều ác, chỉ suy nghĩ điều thiện. Thì ta mơí chấm dứt đươc đau khổ.
Tâm ham muốn ngủ thường có những lý luận sau:
·         Khi chưa đến giờ ngủ thì muốn đi ngủ.
·         Khi đến giờ dậy mà vẫn muốn nằm thêm một chút.
·         Trong giờ tu tập thì buồn ngủ muốn đi ngủ sớm.
·         Sau đó thì tâm lại lý luận khi hết giờ tu tập thì đi ngủ 1 chút.
·         Có ý tính toán phải ngủ bao nhiêu tiếng để có sức khỏe.
·         Phải ngủ trên giường nệm cho không bị đau lưng, đau cổ,v.v
Do đó hằng ngày ta phải ngăn ác diệt ác pháp sống không làm khổ mình khổ người thì may ra ta mới thắng được giặc ngủ này.

3)         Sắc dục:
Là tâm ham muốn người khác phái : Do đó ta thường có những suy tư về người khác phái như sau:
·         Nhớ dến những người đã yêu từ nhỏ tới lớn
·         Nhớ đến cuộc tình đầu tiên
·         Nhớ đến lần đầu tiên giao cấu vói người khác phái, lần đầu tiên giao cấu với người yêu đầu tiên.
·         Nhớ đến những cuộc làm tình với người khác phái
·         Nhớ đến những nơi đã từng đi chơi, kỹ niệm với người yêu đầu tiên và các người khác phái khác.
·         Nhớ từng hành động, lòi nói, nụ cười, tướng đi, vóc dáng, làn da, từng bộ phận trên thân,v.v của người khác phái.
·         Nhớ những ước mơ, ước nguyện của người khác phái.
·         Nhớ những câu chuyện mà người khác phái kể cho nghe.
·         Nhớ những người bà con, Cha Me, Anh Chi Em của người khác phái.
·         Nhớ nơi ỏ, nơi làm việc của người khác phái.
·         Nhớ quần áo, đôi dép, chiếc xe, hộp kem của người khác phái.
·         Nhớ đến sự bất tịnh, cái xấu của người khác phái.
·         Nhớ những kế hoạch, những cuộc nói chuyện lúc chia tay với người khác phái.
·         Nhớ những hình ảnh kỹ niệm dẫn người khác phái vào bệnh viện hoặc đi thăm họ.
·         Nhớ những hoàn cảnh đối xử không tốt, nói những lời nói không tốt làm người khác phái đau khổ.
·         Nhớ đến sự lừa dối của ta đối với người khác phái.
·         Nhớ đến những kỹ niệm ngày đám cưới.
·         Nhớ đến những nơi đi chơi và có sụ giao cấu với người khác phái.
·         Có ý đi ra ngoài phố, khu vui chơi, công viên,v.v tìm ngươiụ khác phái.
·         Có ý đi học để có cơ hội gặp ngươiụ khác phái
·         Có ý nhờ bạn bè, Cha Mẹ, Bà con tìm giiới thiệu ngươiụ khác phái cho mình.
·         Có ý nghĩ về tiêu chuẩn của người khác phái như đẹp, cao, thông minh, lanh lẹ, ăn nói lịch sự, giàu có,v.v
·         Có ý nghĩ có một gia đình hạnh phúc, sống với nhau đến bạc đầu.
·         Có ý nghĩ muốn tìm người bạn đời là người miền Nam hay miền Bắc hay miền trung hay người nước ngoài.
·         Ý nghĩ về cách tấn công hoặc tán tỉnh ngươiụ khác phái
·         Có ý nghĩ giới thiệu người khác phái đó cho ai.
·         Có ý nghĩ muốn giao hợp với ngươiụ khác phái.
·         Có ý nghĩ sống chung với ngươiụ khác phái trước khi cưới.
·         Có ý nghỉ có 2 hoặc hơn ngươiụ khác phái cùng mốt lúc.          
·         Có ý nghĩ muốn chia tay ngươiụ khác phái

Con đường sắc dục là con đường của sanh tử luân hồi, là con đường uế trược, bất tịnh, là sợi dây ái kiết sử vô hình kiếp này sang kiếp khác. Do đó ta phải diệt sạch tâm ham muốn sắc dục này.
           
Thân người là vô thường, không thường hằng. Kết cục rồi thì cái thân tứ đại này cũng hoại diệt, tan rã. Lúc chết ta cũng đâu có mang theo được gì đâu cho nên Đức Phật nói: không có cái gì là ta, không có cái gì của ta, và không có cái là tựĩ ngã của ta. Nếu biết vậy thì cái thân hôi thúi, bất tịnh của người khác phái cũng kh6ng phải của họ, không phải là họ thì tại sao ta cứ nghĩ là mọi cái thuộc thân họ đẹp , nhìn dễ thương, ánh mắt triều mến, giọng nói trong trẻo, lịch sự, là có văn hóa, có đạo đức. Họ cũng vô minh, không biết gì, còn ta đã biết rồi, đã hiểu thật rồi thì tại sao ta vẫn còn chạy theo các ảo tưởng, ảo giác đó. Tất cả đều là đồ giả hết và trở thành tro bụi hết thôi.
           
Ta hãy thường xuyên nhắc tâm đuổi tâm sắc dục này ỀTâm sắc dục hãy lui đi, ngươi là bất tịnh hôi thúi hãy cút điỂ hay là ỀSắc dục là con đường sanh tử luân hồi muôn ngàn kiếp, ta không nên ngu si dính vàoỂ. Mỗi khi gặp người khác phái ta phải quán thân họ bất tịnh, vô thường để diệt cái tâm tham sắc dục này.

4)         Danh: là sự ham muốn chức vị, quyền chức.

Danh chỉ là ảo giác, là 1 hình thức nô lệ cho công việc. Danh càng cao thì trách nhiệm càng nặng, làm việc phải nhiều hơn người khác, càng phải suy nghĩ, càng lo lắng nhiều làm cho mất ngu, trí nhớ sút kém, lao lực, stress, cao máu, tiểu đường,v.v
Vậy mà mọi người ai cũng vì cái danh ảo đó mà lao vào, tìm cách hại nhau,hạ thấp danh dự mình, tự mình lừa mình, lừa người. Thật là đáng thương. Người sống với tâm mong muốn có danh thường có những sauy nghĩ sau:
·         Có ý nghĩ muốn làm vị trí cao hơn vị trí đang làm.
·         Có ý nghĩ muốn làm lãnh  đạo kẽ khác.
·         Có ý nghĩ muốn tranh dành quyền lực nơi làm việc, nơi học,v.v với người khác.
·         Có ý nghĩ thích người ta gọi mình là ông này bà nọ.v.v
·         Có ý nghĩ chia rẽ nội bộ trong nơi làm việc, lợi dụng cơ hội đó làm cho mình nỗi lên.
·         Có ý nịnh bợ, lấy lòng hoặc khoe tài với cấp trên hoặc ông chủ.
·         Có ý làm tốt mọi chuyện để mai sau được thăng tiến.
·         Có ý hại ai đó để tranh giành địa vị
·         Có ý chê bai nói xấu ai đó trước mặ cấp trên hoặc ông chủ.
·         Có ý muốn được khen khi có sáng kiến mới hoặc làm tốt công việc được giao.
·         Có ý ác như sau ỀNgười ta đang làm những việc như vậy là đang lấy lòng cấp trên hoặc ông chủ để được thăng chứcỂ
·         Có ý ác như sau ỀNgười ta đang muốn hại mình, lợi dụng sơ hở của mình, hay có âm mưu muốn chiếm lấy chức vụ của mìnhỂ
·         Có ý khoe khoang những cái hay, cái biết của mình trong nơi làm việc cho mọi người.
·         Có ý muốn cấp trên hoặc ông chủ biết cái xấu của người này người nọ trong nơi làm việc hoặc trong trường lớp.

Hậu quả của việc chạy theo danh là làm nô lệ và tôi tớ cho công việc và cái chính là nô lệ cho đồng tiền vì không có ai dại mà bỏ ra mọi công sức chỉ vì danh. Chính vì vậy mà họ thường dùng vũ khí miệng lưỡi, hoặc mọi hình thức, mọi cách xử lý tiêu diệt nhau của xã hội đen. 

Vậy ta hãy lánh xa những công việc có mang tính trách nhiệm nặng và những nơi dễ sanh ra danh lợi, thấy sợ hãi những lờiĩ khen của con người. Ta hãy nhớ lời Đức Phật dạy. Có danh thì nên ẩn bóng. Ta hãy thường xuyên tác ý nhắc nhỡ tâm tránh xa danh.  Danh là ảo tưởng, biến ta thành nô lệ cho công việc. Danh sẽ biến ta thành bia đạn cho mọi người. Có ghê tởm, nhàm chán danh thì ta mới thoát ra khỏi được nguy hiểm vực thẳm của cuộc đời. Lúc đó ta sẽ thấy tự an vui và không sợ hãi điều gì cả.

5)         Lợi:
Đó là cái tâm muốn kiếm tiền  và muốn làm ra của cải tài sản vật chất. Với tâm ý có lòng ham muốn như vậy cho nên đầu óc thường xuyên suy tính:          
·         Có ý tham tài sản hoặc tiền bạc của người khác.
·         Có ý muốn có tài sản hoặc tiền bạc như mọi người khác đang có.
·         Cuộc sống đã đầy đủ mà vẫn muốn tính toán kiếm thêm tiền.
·         Có ý muốn có danh, chức vụ cao đễ kiếm tiền dễ dàng- tham ô.
·         Có ý ăn cắp tài sản, tiền bạc của người, của nơi công tác, không phải của mình.
·         Có ý kiếm tiền bằng mánh mung, lường gạt, nói dối- VD: người bán hàng, thầy bói.
·         Cóy kiếm tiền bằng bốc lột chất xám và sức khỏe của người khác.
·         Có ý kiếm tiền bằng gian xảo, khai gian trốn thuế, VD Tất cả các Cty kinh doanh hiện nay.
·         Có ý kiếm tiền bằng tánh mạng của người khác. VD buôn bán ma túy.
·         Có ý kiếm tiền bằng những hành động ác đe doạ giết người, cướp của, trấn lột, VD Mafia.
·         Có ý kiếm tiền bằng các nghề ác như : Săn bắn, đánh bắt cá, buôn bán thịt sống, buôn bán thịt chín, buôn bán người, nấu rượu, buôn bán rượu, chất say, chất kích thích, những nghề khác làm khổ mình, làm khổ người, hay làm khổ chúng sanh,v.v.
·         Có ý kiếm tiền bằng cách nhận đút lót: VD hải quan, cảnh sát giao thông.
·         Có ý tham tiền bằng cách hứa xuông, bắt bẽ người khác, nói rằng việc này khó cần có thời gian như trong các Cty hành chánh nhà nước hiện nay.
·         Có ý kiếm tiền bằng cách ăn trộm những thành quả làm ra của người khác , VD đợi người khác trồng Lan ra hoa, thì vào vườn chở đi hết.
·         Có ý kiếm tiền bằng tôn giáo.
·         Có ý kiếm tiền bằng quan hệ trong gia đình, bà con, bạn bè.
·         Có ý kiếm tiền bằng buôn bán lậu.
·         Có ý kiếm tiền bằng làm đồ giả, đồ kém chất lượng.
·         Có Ỷ kiếm tiền bằng các trò chơi cờ bạc, cá độ và mua vé số.

Với những tâm tham như vậy đã đẩy đưa con người đến bờ vực thẳm của mọi hành động ác, hạ thấp phẩm chất danh dự của mình, dùng đủ mọi mánh khóe gian xảo lường gạt mình, lường gạt người làm cho bị mang tiếng suốt đời, rồi bị tù tội, tai nạn, giết hại lẫn nhau.
            Muốn tránh tâm tham tiền thì ta hãy tập trau dồi tâm bố thí. Và ta phải hiểu sự bố thí phải là trong sạch, nghĩa là đồng tiền bố thí là đồng tiền trong sạch được làm ra bằng sức lao động chân chinh của mình, không lường gạt, hại ai, chiếm đoạt ai mà có được.
           
Do vậy ta hãy thường xuyên nhắc tâm ‘Tiền bạc là rắn độc, là đôi giày rách’.          Có như vậy ta mới không coi trọng đồng tiền, mất tiền không buồn, không vì đồng tiền mà giận buồn ai, tính toán hại ai cả. Nếu có ai lừa gạt mình ăn cắp tiền bạc tài sản của mình, ta hãy sống theo gương hạnh của ông Phú Lâu Na và nghĩ rằng ‘Người ta còn thương mình, vì người ta chưa giết chúng ta để cướp tiền bạc và tài sản’, hoặc quán xét nhân quả ‘Có bị người khác lừa gạt, giết hại hoặc muốn chiếm đoạt của cải, tiền bạc là cũng do nhân quả thôi, vì trong thời quá khứ ta đã có Ỷ tham lam của cải của người khác thì bây giờ ta gặp những người như vậy. Ta hãy quán chuyển nhân quả và thương xót những người đang có những hành động ác đó, đừng giận họ mà sẽ hại họ, và biết đâu lại hại mình nữa.’ hay là tự nhắc tâm là ‘Những người đó đang tạo duyên cho ta xã bỏ nhanh mọi thứ tiền bạc và tài sản thế gian để ta dành hết thời gian còn lại cho việc tu hành, vậy thì ta phải cám ơn những người đó mới phải.’

III. Ái kiết sử: là sợi dây vô hình ràng buộc mình và người thân thuộc, bạn bè và những người quen biết.
            Ái kiết sử làm cho tâm ta bức rức, ray rức khó chịu như làm một việc gì đó sai, không đúng đạo đức. Nó khiến ta phải nhớ, viếng thăm người này người kia, rồi hỏi thăm những người bà con quyến thuộc, hàng xóm của người đó.
·         Ngồi tu mà nhớ gia đình Cha Mẹ, Anh, Chị, Em, bà con quyến thuộc và bạn bè.
·         Nhớ những kỹ niệm đi chơi, đi ăn, làm việc và nói chuyện với gia đình Cha Mẹ, Anh, Chị, Em, bà con quyến thuộc và bạn be.
·         Nhớ những việc mình nhờ gia đình Cha Mẹ, Anh, Chị, Em, bà con quyến thuộc và bạn bè làm dùm.
·         Nhớ những ngày tổ chức lễ, đám như đám cưới, sinh nhật, đám ma, đám dỗ, v.v trong gia đình
·         Nhớ những người hàng xóm mà ta đã ở.
·         Nhớ các bạn bè học trong tất cả những trường lớp ta đã học.
·         Nhớ những người đã làm chung công việc với ta trước kia.
·         Nhớ những người tình trong quá khứ.
·         Khi đi ngang qua những nơi ta học, ta sống, hoặc ta làm việc,v.v trước kia, các kỷ niệm củ tuôn trào ra, nhớ người này người kia.
·         Khi gặp một người nào đó đã từng quen biết thì 1 dòng người quen liên hệ trước kia ào ào tuôn ra và ta lại hỏi thăm hoặc nhớ lại.
·         Khi ở xa thì muốn gọi điện thoại hoặc viết thơ hỏi thăm. Hằng ngày mong nhận thơ của người thân hoặc mong người thân gọi điện thoại.
·         Nghĩ nhớ đến từng người thân, bây giờ họ đang ở đâu, làm gì, sức khỏa, mập ốm ra sao? Có khổ hay đang hạnh phúc? Có nhớ ta hay không?
·         Nhớ những người thân, bạn bè ghét ta và những người thương ta.

Khi sống xa gia đình, khi gặp tai nạn, khi bị bệnh tật, ta mới thấy rõ sợi dây ái kiết sử này. Ta hãy quán chiếu rõ nhân quả của con người là từ nhân quả sanh ra, sống trong nhân quả và chết với nhân quả cho nên ‘Không có ai của ta cả, ta không thuộc ai cả, và ta không là cái gì cả’ để cắt đứt những sợi dây ràng buộc này.

Nói thì dễ nhưng làm thì cực kỳ khó. Nếu ta không kiên trì đuổi con ma này thì sẽ khổ suốt đời và luôn thấy bị nó tới lui cám dỗ.

Theo nhân quả thì vì ta tạo nghiệp nhân quả với những người thân, bà con cho nên ta được sanh ra trong gia đình làm con, cháu của họ. Trả hết nợ thì đường ai nấy đi, thay hình đổi dạng trả tiếp nhân quả chứ có gì đâu của ta đâu mà nhớ thương. Cái nhớ thương đó cũng vô thường, khi xa thì nhớ, khi gần thì không, khi trong tu viện thì nhớ, khi ra ngoài tu viện thì không.

Do đó cái tưởng nghĩ là khi xa người thân là ta làm cho họ buồn nhớ là sai. Đó chỉ là tưởng thôi. Sau một thời gian rồi tâm họ thay đổi và quen dần, tự bản thân họ sẽ tìm cách thích nghi với hoàn cảnh mới, tìm cách bù đắp vào khoảng trống đó. ( như kết bạn , đi chơi... ) Và cũng có thể khi không có mặt của ta thì tốt hơn vì lúc đó cuộc sống của họ sẽ bớt có gánh nặng hơn, tự do hơn, tự họ quyết định cuộc sống của họ, không phải cần lo lắng cho ta nữa.

Nếu ta chọn con đường tu thì phải cố gắng tu cho xong để giúp những người thân hiểu rõ Phật pháp. Còn nếu Cha Mẹ có chết rồi thì ta biết ở đâu để tìm. Đó là thương yêu Cha Mẹ nhất. Còn nếu ta suy tưởng thương yêu Cha Mẹ là về sống bên họ để đi làm kiếm tiền nuôi Cha Mẹ thì cũng không giúp ích gì. Vì Cha Mẹ vẫn khổ, vẫn bệnh hoạn, và ta cũng vậy, không khác gì họ, vẫn còn trôi lăn mãi trong 6 nẽo luân hồi. Do đó ta phải quyết tâm tu cho bằng được để cứu độ họ, đó là tình thương yêu chân thật đem đến giải thoát cho mọi người trong xã hội này không riêng gì những người thân của ta trong kiếp sống này.

Ta phải can đảm gan dạ kiên trì quán xét thường xuyên và đuổi sạch cái tâm ái kiết sử này.

IV.Của cải tài sản: là những vật chất xung quanh ta

·         Nhớ những tài sản mình đã làm ra trong quá khứ và đang có trong nhà.
·         Nghĩ tới những căn nhà, xe, tài sản mình đã có và đang có.
·         Nghĩ tới hình dáng, màu sắc của những căn nhà, chiếc xe và tài sản mình đã có và đang có.
·         Nghĩ tới ưu khuyết điểm của những căn nhà, chiếc xe và tài sản mình đã có và đang có.
·         Đặt câu hỏi không biết ai đang ở trong ngôi nhà của mình? Và không biết họ có chăm sóc căn nhà đó tử tế hay không? Không biết họ có tỉa cây, tưới cây? Không biết các cây sau nhà có trái chưa và lớn đến đâu rồi? Không biết họ có đóng thuế hằng năm hay không? Không biết có ai nhổ cỏ, phát cỏ khu vườn của mình?
·         Đến mùa thu hoạch trái cây không biết có ăn trộm vào hái hay không?
·         Nhớ lại những sự kiện có thể xãy ra khi mình còn ở ngoài đời chăm sóc, lo lắng đến tài sản, xe cộ, nhà ở, đất đai, ruộng vườn, v.v.
·         Khi có tài sản trong tay thì luôn lo lắng không biết xài như thế nào, cho ai, cho bao nhiêu, làm từ thiện chăng? Có nên giấu mọi người hay không? Nếu ai đó hỏi mượn tiền thì trả lời sao đây? Cho họ luôn hay là cho mượn, hay là từ chối khéo? Hay là cứ xã bỏ hết, ai xin thì cứ cho, cho hết thì khỏe không còn nhớ là mình còn tài sản mà ra vô tu viện hoài. Không nên sở hữu tiền bạc, của cải là tốt nhất phải không?
·         Đầu tư của cải, tài sản vào đâu để sanh ra lãi, bỏ ngân hàng chăng? Cho vay chăng? Bao nhiêu phần trăm? phải làm gì để không bị lừa? phải thế chấp cái gì?
·         Có của cải thì phải lo cho nó khi có gì hư hỏng. 

Chính vì ta coi nó là của ta, do công lao của ta xây dựng lên cho nên nhớ nhung, lo lắng cho nó. Ai đụng đến làm hư thì giận lên, ai lấy thì buồn rầu thì giận sôi lên, muốn giết người ta luôn. Vì vật chất tài sản mà gia đình lục đục, hiềm hận nhau, nghi ngờ nhau, anh em bất hoà nói xấu nhau, con cái không nghe lời, coi thường ý kiến của Cha Me,v.v.ĩ Thiệt ra tất cả chỉ là trò chơi lừa đảo của nhân quả thôi, khi chết thì ta có mang được gì theo đâu, đều để lại cho người khác hết, tất cả toàn là vật vô thường trước sau thì cũng vào thùng rác hết, vào bãi rác hết.  
           
Vậy ta hãy thường xuyên tác ý  ‘Tài sản là vật vô thường, không có gì là của ta cả, tất cả chỉ là trò chơi của nhân quả thôi.’

            Do đó nếu ta xác định đi theo con đường của Đức Phật thì ta phải mạnh dạn xã bỏ mọi thứ không cất giữ hoặc để dành bất cứ cái gì. Xã sạch không còn một gì cả nghĩa là không đứng tên làm chủ bất cứ tài sản, của cải nào từ căn nhà, chiếc xe, mảnh đất hoặc tài khoản nào trong nhà băng. Có như vậy thì tâm ta mới đạt được thanh thản, an lạc và vô sự.

            Tài sản, của cải, vật chất thế gian là ông chủ độc tài, khi ta có sở hữu bất cứ cái gì thì cái tâm bắt đầu suy tưởng về nó, kể cả có 1 đồng trong túi cũng suy nghĩ phải làm gì với nó. Tâm sẽ mất đi sự thanh thản, an lạc và vô sự. Ông chủ này sẽ sai khiến ta làm cái này, làm cái kia, rồi sẽ sanh ra bao nhiêu ác pháp khác như khi ai đụng chạm đến ông chủ thì ta sẽ rơi vào các khẩu nghiệp như nói dối, nói lời hung dữ, giận dữ lên khi ai xen vào hoặc can thiệp vào những kế hoạch và việc gì đến ông chủ này.

            Xã bỏ được và không làm nô lệ cho của cải tài sản là hạnh phúc nhất thế gian này. Ta phải cố gắng tránh mọi duyên đưa đến phải giải quyết những chuyện về tài sản, của cải. Luôn luôn phòng ngừa và thấy được sự nguy hiểm khi tiếp xúc, nói chuyện và suy tính về của cải tài sản. Và dùng câu tác Ỷ đập dẹp tâm tham của cải tài sản. 

V.Thân kiến kiết sử: là xem trọng cái thân này, chăm sóc, trang điểm, lo lắng cho nó,v.v xem cái thân này là ta, là của ta, là tự ngã của ta.

            Chính vì quá coi trọng cái thân này mà có người vì  cái thân mà muốn sửa sang, làm phẩu thuật thẩm mỹ sủa tai, mũi , môi, mắt, v.v. Rồi sau một thời gian bị nhiễm trùng, kết quả thật là thậm tệ mắt thì mắt nhỏ mắt lớn, mũi thì bị gãy, môi thì thâm đen,v.v

            Ngoài ra còn mất thời gian trang điểm, tốn tiền mua quần áo, phấn son, dầu thơm, dầu gội đầu, kem rữa mặt, thoa mặt v,v. Chính vì coi trọng cái thân mà thường xuyên lo lắng, suy nghĩ về nó như những ý nghĩ như sau:  

·         Kỳ này vào tu mới được 1 tuần đã thấy ốm, hai má hốp lại.
·         Muốn xem gương thường xuyên, xem xương sườn, xem mắt, xem má, xem tóc.v.v.
·         Khi bị muỗi cắn thì muốn sức dầu
·         Khi bị cảm cũng nghĩ đến chai dầu và thuốc uống.
·         Nghĩ là khi tóc ngắn và ốm làm cho hình dáng của ta giống như 1 tên tù hoặc một người từ trại cai nghiện mới ra.
·         Răng bị vàng do nước ơ đây không sạch, cần phải đánh răng kỹ.
·         Khi ốm thì các sợi gân lồi ra trông xấu.
·         Nếu trên thân hoặc gương mặt có một cái gì đó nổi đẹp hơn những người khác, thì khi ai nhìn mình thì mình muốn người biết mình có cái đó đẹp, và luôn luôn để ý chăm sóc nó, VD như mũi dọc dừa, mắt bồ câu, miệng hình trái tim, môi đỏ, lỗ tai có rái tai dài, v.v
·         Khi tu được thì mắt sáng hơn, nước da mịn hơn, khuôn mặt sáng sủa.
·         Khi bị đau chân, tay, lưng, cổ, mắt hoặc đau một bệnh gì thì muốn đi bác sĩ, uống thuốc.
·         Ăn không đủ chất thì lo cơ thể sẽ yếu, xấu đi hoặc đau nhức.
·         Lo lắng nếu ngủ không đủ thì viền mắt xanh xao, ánh mắt khờ dại, da nhăn,v.v.

Do chấp vào cái thân này là có thật cho nên muôn ngàn kiếp làm nô lệ, phục dịch cho nó, khổ vì nó.

Chỉ có thường xuyên quán thân vô thường, bất tịnh, hôi thúi và quán xương trắng, ta mơí ly tham cái thân này. Và thường xuyên nhắc tâm :'thân này không phải là ta, là của ta, là tự ngã của ta.' Có như vậy ta mới sống đơn giản hóa mọi thứ không còn phụ thuộc vào cái thân và vật chất thế gian này nữa.

VI.Tà kiến  : Là những kiến thức hiểu biết thiếu cơ sở khoa học, thiếu thực tế, trừu tượng, lươn lẹo như con lươn không mang đến lơị ích gì cả. Làm khổ mình, khổ người và khổ chúng sanh. Những tà kiến đó mang tính chất mê tín, ảo tưởng như sau:

·         Nhớ những lời nói của các ông bà thầy bói về số mạng của mình.
·         Nhớ đến năm nay là năm con gì, có hợp với tuổi mình không, có gặp chuyện gì xấu trong năm hay không?
·         Nghĩ xem năm nay là năm nào thuộc cung nào trong lá số tủ vi, và cung đó có sao gì, ý nghĩa là gì?
·         Nhìn đường chỉ bàn tay thay đổi rồi tư bói cho mình.
·         Nhìn hình sắc tướng trên khuôn mặt rồi tự đoán cho mình.
·         Nhớ những gì mình biết trong xem tướng, tủ vi, coi tay, phong thủy,v.v.
·         Nhớ những lời trong kinh sách của các tôn giáo khác làm khổ mình, làm khổ người và khổ chúng sanh.
·         Vẫn tin là có thế giới siêu hình cho nên vẫn sợ ma, quỹ, thần,v.v
·         Vẫn tin vào những phong tục truyền thống ma chay mê tín như đốt giấy tiền vàng mã, mời Thầy về tụng kinh,v.v

Chính vì sống trong tà kiến mà con người trở thành mê mụi trở thành nô lệ cho những phong tục, tập quán, truyền thống cổ hủ làm cho con người mất tính tụ lực vươn lên trong cuộc sống, tụ cứu lấy mình.

Chính vì sống trong tà kiến mà con người mất đi một nền đạo đức nhân bản nhân quả quý báo của loài người.
Do vậy ta phải thường xuyên quán xét từng tâm niệm có tà kiến hay không? Và dùng pháp như lý tác ý đuổi đi ‘Tà kiến hãy cút đi, ta quyết đoạn dứt, từ bỏ những tà kiến này’

Những tà kiến này đã ăn sâu vào trong lòng mọi người, chỉ có sự đập mạnh chỉ thẳng những cái sai của nó cộng với sự giúp đỡ của chánh quyền nhà nước thì những thành kiến ác đó chắc chắn sẽ lung lay và thay đổi.

VII.Vô minh lậu: là những ý nghĩ không rõ ràng, không hiểu rõ đưa đến hại mình, hại ngườI, hại cả hai và hại chúng sanh.
           
Chúng ta hãy thử xem xét những ý niệm sau :
  •             Biết Cha Mẹ Anh Chi Em, bà con không thích cho mình đi tu mà cứ nói với họ là mình sẽ vào chùa tu làm cho họ bực tức , giận lên và không vui.
  •             Biết mọi người không tin vào Phật pháp, vào Thầy, vào con đường tu hành mà ta đang đi , Vậy mà cứ nói pháp cho họ nghe, giảng thuyết lung tung,v.v.
  •             Biết Me không cho mình về VN ở mà cứ đòi làm giấy hồi hương.
  •             Biết người khác không thích nói chuyện về đề tài nào đó mà mình cứ xoáy vào đó nói hoài.
  •             Biết người ta không muốn giúp mình mà cứ nhờ vả hoài.
  •             Biết người ta bận mà cứ nhờ vả.
  •             Biết người ta đang kẹt tiền mà vẫn đến đòi tiền.
  •             Biết người ta không thích ăn uống món này mà vẫn cứ dẫn người ta đến quán ăn món đó.
  •             Biết người ta không đủ sức khỏe, mà vẫn xem  họ khỏe làm được những việc người khác làm.
  •             Biết người ta đang làm ác mà không can ngăn.
  •             Biết đi làm 2-3 công việc là mệt mà vẫn đi làm.
  •             Biết cả tuần đi làm mệt cần những ngày cuối tuần nghĩ ngơi mà vẫn ham đi chơi, hoặc hứa hẹn giúp ai đó, hoặc đi làm luôn những ngày cuối tuần.
  • Nói chung biết làm việc này sẽ mang đến khổ mình, khổ người và khổ chúng sanh mà vẫn cứ làm là vô minh.
  •             Biết người đang khổ, đang gặp khó khăn mà không biết là vô minh
  •             Biết mình đang khổ mà không biết xã ra là vô minh.
  •             Biết nhà nghèo mà vẫn muốn sài sang.
  •             Biết hút thuốc, uống rượu, chích xì ke, ma túy, thuốc phiện là có hại mà vẫn dính vào.
  •             Đã học, biết được chánh đạo mà không chịu bỏ các tà đạo.
  •             Biết rõ đâu là thiện đâu là ác, vậy  mà không chịu từ bỏ ác.
  •              Biết rõ tu hành ức chế tâm là sai, vậy mà vẫn cứ ức chế.
  •             Biết rõ phá giới là tu hành không có kết quả, vậy mà vẫn phá giới.
  •             Biết rõ khi giận là mọi chuyện hư hết, vậy mà vẫn thích giận.
  •             Biết rõ mình bị cao máu, mà vẫn thích ăn mặn.
  •             Biết rõ mình bị bệnh tiểu đường mà vẫn thích ăn ngọt.
  •             Biết rõ bệnh AIDs chưa có thuốc trị mà vẫn thích đi chơi đàng điếm. Biết rằng tà dâm là hại sức khỏe mà không chịu bỏ.
  •             Biết rõ giết người là bị án tử hình mà vẫn phạm
  •             Biết rõ ăn trộm là bị bỏ tù, vậy mà vẫn đi ăn trộm.
  •             Biết rõ nói xấu người khác là kẻ xấu mà vẫn nói.
  •             Biết rõ khi nạt nộ người khác là làm cho người ta buồn, tủi thân vậy mà cứ la, hét nạt nộ hoài.
  •             Biết rõ nghi ngờ người khác không đem lại ích lợi cho mình, dễ hiểu lầm người khác, rồi phân tích, bình luận, nói xấu người khác. Vậy mà vẫn nghi ngờ.
  •             Biết rằng kiêu mạn là hỏng việc, vậy mà không chịu bỏ.
  •             Nghĩ mình đang tu đúng đường
  •             Nghĩ đến khi chứng đạo mình sẽ giảng đạo, thuyết pháp độ hết mọi người
  •             Nghĩ là khi gặp người ăn xin thì cứ cho không cần suy nghĩ là vô minh.
  •             Mọi suy tưởng đều cho là của mình là vô minh
  •              Nhớ tưởng những chuyện quá khứ không có lơị ích gì, hoặc ước mong chuyện gì ở tương lai không có thật.
  •             Thế giới này là đau khổ, vậy mà cho là sướng.
  •             Không thấy các Thần thánh như thế nào, vậy mà tin có thật.
  •             Đọc sách không có kinh nghiệm tu tập, vậy mà tin cuồng, rồi nói lung tung.

Trong tất cả mọi ác pháp đều có vô minh trong đó chứ không phải chỉ có bấy nhiêu ở trên không. Chính vì không rõ những hành động của mình đem đến hại mình, hại người, hại cả hai hoặc hại chúnh sanh cho nên ở đâu có ác pháp ở đó có vô minh. Vô minh là bao trùm hết mọi ác pháp tr6n thế gian này.

Muốn có minh thì  sau khi suy nghĩ về bất cứ việc gì ta phải quán sét lại những ý nghĩ đó có hại mình, hại người hay hại chúng sanh hay không? Có như vậy thì ta mới sống trong yên ổn , đem lại hạnh phúc cho mình, cho người và cho chúng sanh.

IX. Sân, giận: là giận dữ, đỏ mặt, đỏ tai, quát tháo lên, nạt nộ, chủi mắng người làm cho người khác sợ hãi, tránh xa. Sân là kết quả của sự bất toại nguyện không đạt được, kh6ng thỏa mãn một điều gì đo.ù
Sân như một ngọn lửa đốt cháy tất cả, làm cho năng lượng cơ thể hao hụt, cơ thể mệt nhọc, trí tuệ sút kém dẫn đến bệnh tật, tai nạn và hỏng hết mọi việc,v.v
Trong cuộc sống có rất nhiêu hoàn cảnh đưa đến sân giận. Đối với một người từ sáng tới chiều thì thế nào cũng phải đối đầu với tâm sân của mình vì con người luôn sống trong ham muốn. Ta hãy xem vài ví dụ sau:
·         Khi người khác tò mò chuyện của mình thì cũng giận
·         Không đạt được múc đích.
·         Người khác không làm theo ý mình.
·         Người khác kh6ng để ý đến mính, đển công việc, đến lời nói của mình.
·         Không bằng người khác về học vấn, chức vị, tiền bạc, tài sàn,v.v.
·         Người khác nói xấu, chê bai, chỉ trích, la hét nạt nộ, nói móc, châm biếm,.v.v
·         Một người thay đổi ý liên tục cũng làm người khác giận.
·         Ai không nghe lời mình cũng sân.
·         Aên uống không đúng khẩu vị.
·         Bị giao nhiều việc làm quá.
·         Bị hối thúc làm nhanh công việc.
·         Người khác đối xử, tiếp đãi không lịch sự đàng hoàng, không tôn trọng, khinh thường mình.
·         Ai nói ngươc ý mình cũng sân.
·         Đụng xe ngoài phố, ai cũng giữ lập trường đúng cho  mình, cãi nhau không nhường nhịn nhau.
·         Không kiên nhẫn, sắp hàng tại những khu công cộng, siêu thị, v.v
·         Khi lái xe ngoài phố thấy ai đó vượt nhanh qua mình thì cũng không hài lòng.
·         Ai đó nói không đúng sự thật.
·         Ai đó lường gạt mình
·         Ai đó giết hại người thân, con vật của mình.
·         AI đó làm một việc gì ác.
·         Ai đó nói lời nói thêu dệt, thêm bớt.
·         Thấy ai đó tham lam.
·         Thấy ai đó có tà kiến.
·         Thấy ai đó làm việc lâu lắc.
·         Thấy ai đó hơn mình cái gì đó.
·         Sống trong suy tưởng, ác ý.
·         Ai phá vỡ kế hoạch, chấp trước của mình.
·         Ai đụng đến lòng tự ái của mình.
·         Con chó sủa liên tục không đúng đối tượng.
·         Con chó không nghe lời chủ.
·         Con chó ỉa đái bậy không đúng chổ.


Do đó nếu muốn từ bỏ tâm sân thì ta phải từ bỏ cái ngã, biết sống tùy thuận theo lời nói, ý kiến, yêu cầu, và việc làm của người khác để mình và mọi người cùng vui, nghĩa là ta phải thấy và hiểu rõ. Cái thấy, cái nghe, cái biết không phải là ta, là của ta, là tự ngã của ta.
            Ngoài ra ta phải trau dồi lòng Từ  Bi Hỷ Xã biết thương yêu mọi người, mọi loài chúng sanh.

X. Ác ý, nghi ngờ:   là sự suy nghĩ sai, nghĩ xấu về một người nào đó bằng suy tưởng, nghi ngờ mọi hành động của người đó. 
           
Sống với tâm nghi ngờ mọi người, nghi ngớ pháp là một tâm ác, làm cho tâm ta luôn phiền não, suy tưởng lung tung, sống trong tà kiến, mất lòng tin vào người đó, pháp đó, làm cho ta làm việc gì cũng không đến nơi đế chốn.
           
·         Khi thấy 2 người nam và nữ đi chung với nhau ta thường nghĩ họ là người tình của nhau hoặc họ đã giao cấu nhau rồi.
·         Khi biết tính của một người thích cái gì, thì khi người đó đi ra ngoài, ý sẽ tự suy tư người đó ra ngoài sẽ làm những cái họ thích. VD thích ăn vặt, thích uống rượu, bia, thích đi mua sắm, v.v.
·         Khi tiếp xúc với 1 người thấy họ thường nghi ngờ, nói xấu hay chê bai người khác thì ta giữ chấp kiến đo rồi mỗi lời nói của người đó, ta thường nghĩ có sự chê bai, chỉ trích, nói xấu, nghi ngờ trong đó.
·         Khi ta làm một việc gì mà không muốn ai biết, thì chỉ cần một động tỉnh của người đó ta cũng nghi ngờ người đó đang theo dõi hành động của ta.
·         Khi chưa có trí tuệ thông hiểu mọi pháp bằng thực chứng, kinh nghiệm tu hành mà chỉ dùng các hiểu biết đọc sách của mình để suy xét, phán xét người khác.
·         Nghi ngờ pháp không đưa đến giải thoát.
·         Nghi ngờ người khác đang hại mình, dối gạt mình.
·         Khi thấy con cái đi chơi khuya thì cũng nghi ngờ con cái chơi với bạn xấu.
·         Khi chống hoặc vợ đi chơi khuya về nhà trễ thì cũng nghi ngờ nhau
·         Chỉ vì một lời nói thôi cũng làm cho người khác nghi ngờ suy tưởng lung tung, nhất là người ta đã đã có thành kiến xấu về mình.

Do vậy muốn giải toả sự nghi ngờ ta phải thưa hỏi thẳng,nói chuyện với những người đó để cả hai cùng hiểu nhau. Tránh sau này không nhìn mặt nhau và xem nhau như kẻ thù.
Chính vì do chấp kiến, chấp ngã mà ta sanh lòng nghi ngờ ác ý mọi người. Ta hãy xã bỏ mọi kiến chấp, ngã chấp, quán mọi vật vô thường, là khổ là vô ngã và thường xuyên tác ý ‘Ta là ai mà đo lường, nghi ngờ người khác’
Và lòng Từ Bi Hỷ Xã sẽ giúp chúng ta yêu thương, thương xót mọi người, luôn sống trong vui vẽ với mọi chướng ngại và xã bỏ mọi ác pháp tìm ra phương pháp giải tỏa mọi chướng ngại trong tâm.

Càng tiếp duyên nhiều hằng ngày thì ý càng bị chi phối nhiều và luôn luôn suy tư , chạy lăng xăng như con khỉ. Chỉ có đời sống của 1 vị xuất gia với 3 y 1 bát, xả sạch mọi thứ, từ bỏ gia đình và vật chất thế gian, luôn sống chế ngự ý, chế ngự thân, chế ngự lời nói và thích sống ở những nơi thanh tịnh thì tâm sẽ trở nên thanh thản, an lạc và vô sự được. Thật là một đời sống thánh hạnh tuyệt vời của Đạo Phật.