Sunday, 23 May 2010

Bài Chánh Kiến # 16: Quán Tâm Xả

(Mỗi người sẽ có tri kiến khác nhau cho nên bài này chỉ là để tham khảo)
Giới Thiệu.
I.     Xã bỏ hữu lậu.
1.    Ngũ dục lạc.
a)     Xã ăn dục lạc.
b)    Xã ngủ dục lạc.
c)     Xã sắc dục lạc.
d)    Xã danh dục lạc.
e)    Xã lợi dục lạc.
2.    Xã bỏ sáu thứ dục lạc:
a)    Sắc.
b)    Thinh.
c)     Hương.
d)    Vị.
e)    Xúc
f)     Pháp.
3.    Xã các phước hữu lậu.
4.    Xã tham sân si trong thập thiện.
1)    Xã thân hành giết hại chúng sanh và các ác pháp liên quan.
2)    Xã thân hành trộm cắp.
3)    Xã thân hành tà dâm hay dâm dục và các ác pháp liên quan.
4)    Xã lời nói dối và các ác pháp liên quan.
5)    Xã lời nói thêu dệt và các ác pháp liên quan.
6)    Xã nói lời nói lật lọng và các ác pháp liên quan.
7)    Xã lòi nói hung dữ và các ác pháp liên quan.
8)    Xã ý tham.
9)    Xã ý sân.
10)   Xã ý si.
II.   Xã tâm bằng pháp vô lậu.
1.    Xã tâm năm triền cái
a)     Tham triền cái.
b)     Sân triền cái.
c)     Hôn trầm thùy miên triền cái.
d)     Trạo cử triền cái. 27
e)     Nghi ngờ triền cái.
2.    Xã năm hạ phần kiết sử:
a)     Thân kiến kiết sử.
b)     Nghi kiết sử. 27
c)     Giới cấm thủ.
d)    Tham kiết sử:
e)    Sân kiết sử.
3.    Xã năm thượng phần kiết sử:
a)     Sắc ái.
b)     Vô sắc ái
c)     Mạn kiết sử.
d)     Trạo cử.
e)     Vô minh.
4.    Xã thất kiết sử:
5.    Xã năm tâm hoang vu và năm tâm triền phược:
6.    Xã tâm Tứ diệu đế:
7.     Xã tâm trong thập nhị nhân duyên: ( phần này trích ra từ Đường về xứ Phật tập 1, trang 143)
8.    Xã tâm về năm thủ uẩn:
a.     Sắc uẩn.
b.     Thọ uẩn.
c.     Tưởng uẩn.
d.     Hành uẩn.
e.     Thức uẩn. ( phần này trích ra từ Đường về xứ Phật tập 2 bộ mới)
9.    Xã tâm trong giới phòng hộ các căn:
10.      Xã tâm trong độc cư.
Kết luận.

Giới Thiệu

          Xả là xả bỏ không còn chất chứa nữa, cương quyết dẹp bỏ không còn để lại một mầm móng nhỏ nào.
          Để đạt được tâm vô lậu thì người phật tử cần phải xả bỏ mọi thứ từ hữu lậu cho đến vô lậu.
          Hữu lậu gồm có vật chất, tài sản, các pháp thuộc ngũ dục lạc hay các dục trưỡng dưỡng do sáu căn (Mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý) tiếp xúc với sáu trần ( Sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp), các phước báo hửu lậu, và tâm tham sân si trong thập thiện.
          Vô lậu gồm có tâm tham sân si do thân khẩu ý phát sanh ra, xả bỏ ngũ triền cái ( Tham, sân, hôn trầm, trạo hối và nghi), xả bỏ năm hạ phần kiết sử (tham, sân, giới cấm thủ, và nghi), xả bỏ năm thượng phần kiết sử (sắc ái, vô sắc, mạn , trạo cử và vô minh), xả bỏ thất kiết sử (ái, sân, thân kiến, nghi, mạn, hữu tham và vô minh  ), xả bỏ thân ngủ uẩn (Sắc, thọ, tưởng, hành và thức), xả bỏ trong kinh Bát thành, xả bỏ trong tứ niệm xứ, xả bỏ trong thất giác chi.

          Bao gồm ăn, ngủ, sắc, danh và lợi.
     Từ nhỏ cho tới khi biết đạo Phật con chỉ biết ăn thịt chúng sanh để sống và ăn một ngày rất nhiều bữa, lúc muốn ăn thì ăn. Càng có tiền nhiều thì càng thích chạy theo dục ăn, thích ăn những thứ khác lạ của mọi miền đất nước mình và trên thế giới, vì con có cái đặc biệt là không bao giờ thấy ngán cái gì cả, ăn món gì cũng thấy ngon.
     Nhưng bản tính của con đôi khi cũng thấy ăn nhiều mệt quá, có khi con ước nguyện lâu lâu chỉ ăn một bữa thôi mà sống được thì tốt biết mấy.
     Khi biết đạo Phật thì biết được ăn chay là không ăn thịt chúng sanh và không ăn uống phi thời. Con có đặt câu hỏi tai sao phải ăn chay? Câu trả lời con tìm được là vì mình không muốn có sự đau khổ chết chóc của mọi loài vật có sự sống trong chén cơm của mình, đó là mình đang trau dồi lòng thương yêu mình, người và mọi loài vật. Đó là lần con đi tu bên phái Nam Tông, con thấy họ ăn thịt thì rất hạp với con chưa có ăn chay, nhưng khi được học giới luật của Phật thì một ngày nọ con cũng ăn bình thường như mọi ngày, con cảm nhận ra sự đau khổ của chúng sanh trong bát cơm của con, và con thấy ăn như hiện nay là không đúng với người tu theo Đạo Phật. Từ đó con bắt đầu tập ăn chay luôn cho tới nay, không bao giờ quay lại con đường củ là ăn thịt chúng sanh.
     Khi về tu viện Chơn Như tu tập thì con học được thêm về cách ăn một ngày một bữa và không ăn uống phi thời. Con nghĩ Đạo Phật dạy ly dục ly ác pháp cho nên ăn một ngày mà đủ năng lượng sống thì ăn như vậy là đúng chứ không có ức chế thân tâm. Với lại Đức Phật, các Thánh Tăng, Thầy và mọi người trong tu viện ăn được và sống khỏe đến 80 tuổi như Phật và Thầy thì đó là điều đúng. Từ đó con tập dần ăn một ngày một bữa tại tu viện và quen ngay. Có khi bụng kêu xột xoạt thì con tác ý “Thân Phật ăn một ngày một bữa thì thân ta cũng bắt chước thân Phật ăn một ngày một bữa,” còn nếu như bụng nó kêu thì con nhớ lời thầy dạy phải răn đe cái bụng và dũng cảm chiến đấu cho nên con nhắc “Chưa tới giờ ăn mà đòi ăn thì không ăn, có chết thì cho chết luôn.”
     Do còn sống ngoài đời đi làm, cho nên con chỉ giữ được hạnh ăn chay và không ăn uống phi thời. Nếu con xác định ăn một ngày 2 bữa thì ngoài 2 bữa con không ăn linh tinh. Lần cuối cùng con về tu viện biết được huynh Thanh trí là một cư sĩ đã tập được ăn một ngày một bữa và vẫn sống khỏe sinh hoạt bình thường. Con nghĩ nếu huynh làm được thì mình làm cũng được, cho nên sau đó con chuyển sang ăn một ngày một bữa cho tới nay luôn và cương quyết không bao giờ ăn lại 2 buổi nữa cho tới chết.
     Dĩ nhiên đễ không phải ức chế thân tâm ăn uống như vậy thì con phải tập ăn từ từ giảm dần cho cơ thể quen và phải biết quán thức ăn bất tịnh để có thể ly tâm tham ăn, chứ không phải ức chế. Có khi con nhắc tâm “Thức ăn chỉ là thuốc chữa bệnh đói thôi cho nên ăn một ngày một bữa là đủ” hay khi con quán tất cả thức ăn dù cho loại gì trái cây, bánh, chè ngọt, tất cả đều thành phân hết, cái miệng chỉ là nơi dùng để nhai nghiền thức ăn cho nhuyễn giúp tiêu hóa dễ dàng, nếu nhai xong mà nhã ra thì thật là gớm không muốn ăn nữa, vậy những cảm giác ngon là giả thôi. Tất cả thức ăn để lâu thì hôi tanh chua, nỗi móc, v.v. Khi con ăn con nhai thức ăn xong rồi con nhã ra và ăn lại cho thấy được sự bất tịnh của thức ăn là như thế nào. Do vậy mà tâm tham ăn dần dần không còn nữa. Bây giờ con chỉ ăn một ngày một bữa, ngoài bữa ăn nhìn thấy thức ăn thì không thèm, không tiết nước bọt nữa. Mặc dầu còn đi làm, sống như người ngoài đời nhưng con vẫn thấy khỏe, không có mệt gì cả.  
     Phụ thêm với diệt tâm tham ăn này con thấy người nào còn thích đi cửa hàng, đi chợ, thích nấu ăn, thích sưu tầm những món ăn ngon thì không thể diệt tâm tham ăn này được. Cho nên con từ bỏ đi siêu thị hay chợ búa, không tự ý chế biến thức ăn theo ý của mình. Ở nhà ai cho gì ăn cái đó, còn không đến giờ ăn thì ra ngoài mua đồ ăn nấu sẵn về nhà ăn. Khi đi mua đồ ăn nấu sẵn thì con biết cái tâm tham vẫn có vì có sự lựa chọn món này món khác. Con chỉ chọn những món ăn không có hình tướng giống như các loài động vật hoặc tên đặt không phải là tên chúng sanh, và con chỉ ăn những món quen hết ngày này sang ngày khác chứ không có nay món này mai món kia, vì con quán ăn để mà sống, sống để mà tu, do đó ăn mà ngán là còn dục cho nên con cứ ăn bấy nhiêu món đó ngày này sang ngày khác, thì lúc đó con thấy mình không phải bận tâm suy nghĩ hôm nay ăn món gì, mai ăn món gì.
     Ở  nhà có khi Mẹ nấu một món ăn cho cả tuần, con cũng ăn được, không còn sợ ngán gì cả, chỉ cần có cái bỏ vào bụng cho no là được rồi.  Khi ăn thì mỗi bữa ăn phải quán thức ăn bất tịnh để cho thấm và xã tâm tham ăn, khi ăn thì nhai kỹ, rồi mới nuốt thì sẽ thấy được cảm giác vô vị của thức ăn.
     Ngoài ra tâm tham ăn nó cũng tinh vi đánh vào tâm lý như con có cho mứt gừng một bà giáo dạy lái xe, bà ta nói thích ăn nữa và nhờ mua. Khi đó tâm tham nó bảo khi mua thì mua 1kg, cho bà ta một phần, còn một phần để mình ăn. Con nghĩ là người tu theo Đạo Phật thì không mua giữ thức ăn, cho nên con biết đây là tâm tham. Cho nên con nói với nó, nếu mua được bao nhiêu thì cho bà giáo hết, chứ không để dành một miếng nào.
     Con nhớ khi về tu viện Chơn Như tu tập con cũng chưa xã bỏ tâm tham ăn của mình khi có vài lần đi khất thực, thấy trên bàn chỗ có ghi tên con không có thức ăn, thì con lại quay sang hỏi Thanh Trí phần thức ăn của con. Con nghĩ lại vì mình chưa xã tâm rốt ráo cho nên mới hỏi, còn xã tâm sạch rồi thì khi chấp nhận lập hạnh đi khất thực thì ai cho gì ăn cái đó, nếu hôm đó không có thức ăn thì ăn cơm không với muối chứ có sao đâu.
     Vì một ngày chỉ ăn một ngày một bữa cho nên cái tâm rất mong đến giờ ăn, con phải tườnbg xuyên quán thức ăn bất tịnh khi tâm khởi các niệm đó và dùng câu “Thức ăn là bất tịnh, là hôi thúi, chua mốc, hãy cút đi.”
     Khi đi ngoài phố con thấy mọi nơi đều có nhà hàng bán thức ăn, con nghĩ nếu mà không tu xong trong kiếp này thì kiếp khác rất khó mà bỏ được tâm tham ăn vì rất dễ bị cám dỗ bởi cuộc sống này.
    
     Ngủ là một dạng của si mê, lười biếng. Còn ham ngủ là còn si mê rất nhiều. Có si mê nhiều thì không biết đâu là thiện đâu là ác, mà chỉ biết làm theo dục của mình. Do đó khi biết được pháp môn tu của Thầy thì con tu tập dần dần ngủ và thức dậy đúng giờ. Khi buồn ngủ thì đi kinh hành chánh niệm tỉnh giác hay thân hành niệm. Kiên trì chiến đấu với tâm ham ngủ con mới thấy và hiểu rõ thêm về tâm si mê của mình là do mình chưa có thấu hiểu đạo Phật dạy cái gì, cho nên chưa có xã tâm rốt ráo. Càng xã tâm nhiều thì cái si cũng sẽ giảm.
     Vậy muốn xã tâm được thì con phải học và hiểu rõ đâu là thiện đâu là ác. Cho nên con cũng mài mò tìm sách và các kinh điển học hỏi thêm những lời dạy của Phật. Và nhờ vào khóa mở dạy Bát Chánh Đạo của Thầy mà con cảm thấy khi viết bài thì mình xã tâm nhiều hơn, từ đó cái ngủ tự nó lui đi chứ không ức chế không ngủ như xưa nữa. Hiện nay con ngủ từ 11 h – 1h 30’ sáng, trưa đi làm về thì con ngủ 45’. Con thấy thân tâm con vẫn khỏe, ban ngày không có buồn ngủ. Khi  đi làm chiều về nếu cần phục hồi sức khỏe thì con vẫn nằm ngủ 10’-15’. Sau đó ngồi giữ tâm thanh thản thì sau đó thấy khỏe ra và rất tỉnh táo cho tới khuya.
     Nhưng hiện nay con chưa phải là người vô sự, ban đêm vẫn phải nghe băng giảng và làm bài cho nên con chưa biết là sự tỉnh thức của con đến đâu. Nhưng khi sáng thức dây thì con vẫn cảm thấy bị hôn trầm thùy miên đánh, từ đó con biết con chưa phải tỉnh hoàn toàn, nhưng con sẽ tìm cách chiến đấu với những cái hôn trầm thùy miên này để cho tỉnh hoàn toàn.
     Trong quá trình tu tập thì bất kỳ ai con nghĩ cũng phải gặp các trạng thái của si mê như
·         Hôn trầm: ngồi một lúc là gục xuống, rồi lại ngẩng lên. Phải đứng dậy đi kinh hành ngay.
·         Thùy miên: cúi đầu xuống, quẹo cổ qua một bên và ngủ thiếp đi một khoản thời gian từ 5’-1h. Phải đứng dậy đi kinh hành ngay.
·         Hôn tịch: lúc mê, lúc tỉnh, mơ mơ, màng màng. Thí dụ: Ý tu tập đếm hơi thở mà lúc nhớ, lúc quên. Phải đứng dậy đi kinh hành ngay.
·         Vô ký: chợt quên. Bị giật mình làm cho quên pháp đang tu, không biết niệm gì đã xẹt vào, hay là quên mình đang quán xét niệm nào. Khi quên thì tâm không còn tỉnh giác, vọng niệm liền khởi. Phải đứng dậy đi kinh hành ngay.
·         Ngoan không: vô ký kéo dài là ngoan không; còn gọi là không ngơ. Lúc này ngồi tu thấy tỉnh, không có trạng thái hôn trầm, thùy miên, hôn tịch nhưng giống như thiếp đi một thời gian dài, cái tỉnh này là bị rơi vào không, ý thức không còn làm việc nữa. Nếu gồng mình hay nắm hai bàn tay lại thì thấy tỉnh táo lại thì biết mình đang ở trạng thái ngoan không. Ôm pháp đang tu lại và giữ tỉnh táo.
Khi viết đến đề mục ngoan không này con thấy hiện nay con bị đang rơi vào các trạng thái của ngoan không dài có khi cả giờ động hồ, nghĩ rằng ngồi yên an tịnh, không gật gù hay nghẹo cổ, hay không giật mình là mình tu tốt, nhưng vẫn còn rơi vào trạng thái ngoan không, hèn chi sau khi tu xong con quán xét lại con thấy không biết mình đang làm gì, không có tỉnh giác xem xét 4 chổ trên thân để khắc phục tham ưu gì cả. Con nghĩ phải xem lại cách tu này và tìm cách khắc phục.
     Thường thì nếu hôm nay tu tập thấy được những trạng thái trên xuất hiện đối với con thì con lập ra phương án cho ngày mai chiến đấu với chúng bằng cách nếu biết trong khoảng thời gian nào mà giặc hay tấn công thì đi kinh hành, tùy theo dạng si mê nếu nặng thì đi thân hành niệm 30’-35’, nhẹ thì đi thanh thản 15’, rồi nghĩ, nếu chưa hết thì đi tiếp, hoặc đi kinh hành 20 bước rồi ngồi xuống thở năm hơi thở. Lúc nào mà bị giặc si mê này đánh dữ dội thì con đi suốt 3 tiếng, không dám ngồi xuống tu, mà chỉ ngồi nghĩ thư giản thôi, rồi đứng lên đi tiếp.
     Lúc đầu thì còn sợ những tên giặc này, nhưng bây giờ thì con hết sợ chúng rồi. Nếu nó xuất hiện thì đánh thôi. Còn nếu mà đánh không nỗi thì tại vì do mình tăng thời gian tu tập lên cho nên phải giảm xuống cũng cố lực lượng lại thôi. Con không ép buộc mình tu tập quá sức nữa, chỉ tu vừa sức mà thấy có hiệu quả hơn.
     Con thấy khi sức tỉnh thức của mình chưa cao mà tham ngồi thiền nhiều thì rất dễ rơi vào các trạng thái ngủ này, do đó khi thấy tỉnh thì ngồi, còn không thì không ngồi tu. Vì lúc đó không tu mà chỉ ngủ thôi, thà đứng dậy động thân thì tốt hơn.
     Khi có triệu chứng buồn ngủ như ngáp hay mờ mờ thì con nhắc tâm “si mê, lười biếng lui đi” hay “hôn trầm, thùy miên cút đi”
     Khi bị đau nhức thì tâm dễ lý luận ngủ nghĩ phi thời, con nghĩ là nếu thân này là vô thường là không phải của ta thì ta không nghe lời nó. Trong giờ tu thì phải ngồi dậy tu, dù cho có đau chân cũng phải bám vào pháp mà tu đẩy lui, còn nghĩ ngời thì coi như mình bị thua nhân quả rồi.
    
Nguyên nhân của các trạng thái ngủ trên và cách khắc phục là:
·         Làm việc nhiều làm thân mệt mõi – cần nghĩ ngơi một chút cho tỉnh táo lại.
·         Ăn chơi chạy theo sắc dục, rượu chè quá độ – chấm dứt ngay những cuộc chơi đó
·         Ăn nhiều quá no, sanh ra buồn ngủ. – Ăn vừ đủ thôi.
·         Đi xe cũng buồn ngủ – tác ý đuổi tưởng hay là lấy đề tài nào đó ra quán.
·         Lái xe cũng buồn ngủ – mở cửa sổ cho khí lạnh vào làm tỉnh táo, tác ý đuổi, hay là lấy tay giả vào 2 má cho tỉnh táo lại hoặc nhìn 2 bên kính theo dõi các xe xung quanh.
·         Tu tập quá sức- cần giảm giờ tu lại cho vừa sức của mình.
·         Uống thuốc ( vì trong bất kỳ loại thuốc nào cũng có chất gây buồn ngủ trong đó)
·         Cơ thể lười biếng, dã dượi – đi kinh hành nhiều cho tỉnh táo lại, đi tắm, rửa mặt hay tập thể dục, lấy sách ra đọc để tìm hiểu nghĩa lý trong kinh, quán vô lậu các niệm theo nhân quả, vô thường, bất tịnh, hay tứ niệm xứ...
·         Khi tu tập bị rơi vào các định tưởng nhiều thì cũng rơi vào các trạng thái ngủ – xã bỏ các loại tưởng ra và không chạy theo các tưởng.
·          Ham thích ngồi thiền nhiều thì dễ bị thiếp đi và rơi vào các trang thái ngủ trên – tập đi kinh hành, khi thấy tỉnh thỉ ngồi, còn có triệu chứng muốn ngủ thì đứng dậy đi kinh hành ngay.
·         Khi tu tập thiếu tỉnh giác làm cho lơ đãng không tập trung vào các thân hành- phải tu tập tỉnh thức trước, nghĩa là tập khi làm việc gì thì phải biết việc đó hay là tu tập tâm Từ.
·         Điều tiết mắt quá độ, nhìn trân trân vật nào trước mặt làm cho mõi mắt – xã bỏ cách tu này vì đây là cách ức chế tâm.
·         Không nên nhìn vào điểm trụ tâm nhiều quá mà làm căng thần kinh – xã bỏ ra.
·         Chưa quen sống một mình độc cư cũng dễ sanh ra buồn ngủ – phải tu tập từ từ – đi kinh hành nhiều.

Phá bỏ các trạng thái ngủ là cuộc chiến đấu trường kỳ không ngừng nghĩ và phải cảnh giác cao độ từng giây. Khi không thấy còn các trạng thái trên trong thời gian dài từ 1 tuần cho tới một tháng là chúng ta biết đã phá được chúng.

     Đây là một cái tâm dai dẳng và nguy hiểm nhất. Nó sai khiến ham muốn sắc dục, nếu không có bạn đời thì nó khiến cho mình làm thủ dâm, nếu chưa có bạn đời thì khi thấy người khác phái ngoài phố, không cần biết là ai, dân tộc nào hay lứa tuổi nào nó cũng thích. Còn khi nó khởi lên ham muốn mảnh liệt thì nó nói ra ngoài phố tìm những người đứng đường.
     Khi thấy người khác phái thì nó nhìn thân thể người ta ở những chỗ gợi dục như ngực, mông, nét da, khuôn mặt, chú ý giọng nói, tiếng cười, cách nói chuyện, cách đi, cách ngồi, mái tóc, cách ăn mặt, cách trang điểm …
     Khi ra ngoài phố thấy bóng dáng của người khác phái là con mắt dục nhìn ngay. Nếu có bạn cùng đi đường thì chỉ cho người đó xem rồi cùng nhau nhận xét người khác phái đó.
     Người có tâm ham sắc dục rất ưa thích lấy đó làm đề tài nói chuyện, cười đùa, và thích hỏi người khác có bạn đời chưa. Những người này thích la cà và nói chuyện với người khác phái, họ không biết xấu hổ nữa.
     Khi quen ai cái tâm này tìm cách tính toán, nói lời nói gì sao cho chiếm được trái tim người khác phái, để có thể ăn nằm với người ta càng nhanh càng tốt.
     Dâm dục là con đường của sanh tử luân hồi. Nhúng vào rồi thì tự làm cho mình khổ, người bạn đời khổ và làm nhân cho biết bao nhiêu người phải khổ. Do đó để thoát cái khổ này con quyết không bao giờ quay lại con đường này, cương quyết từ bỏ mọi thứ dính dáng hay liên quan đến người khác phái.
     Qua hiểu biết những gì Phật và Thầy dạy về quán thân bất tịnh, quán cái bao da thối chứa một đống đồ bất tịnh, quán thân xình thối và quán bộ xương trắng, mỗi khi con ra ngoài phố con mắt nhìn thấy người khác phái thì con nhắc “Con mắt ham sắc dục cút đi, cái thân đó là hôi thối, có gì đâu mà ham nhìn.”
     Khi nhìn thấy làn da, mái tóc, nét mặt, bộ ngực của người khác phái thì con quán ngay đến thân vô thường già nua của họ, mái tóc rối bời cứng khô, nét mặt nhăn nheo như các bà lão già, bộ ngực như 2 cục thịt đang sình thối chảy nước và đầy những con vòi đang ăn và con nhắc “đó chỉ là cái bao da thối chứa một đống đồ bất tịnh” hay là hình dung ngay một bộ xương trắng đang đi rồi tất cả các xương rớt xuống ra từng khúc văng lung tung, rồi tất cả các xương đó mục thành bột trắng bị gió thổi bay khắp nơi.
     Khi nhìn thấy bộ phận sinh dục của mình thì con nhắc tâm “đó là đồ bất tịnh hôi thúi, yếu đuối và bất lực”
     Đễ dễ dàng tránh các duyên với người khác phái thì con cạo tóc giống như các vị tu sĩ để lòi những cái thẹo trên da đầu. Không quan hệ với các bạn bè cũ, không tham gia các tiệc cưới, tiệc sinh nhật nữa. Tránh mọi duyên nói chuyện với người khác phái.
     Khi ngồi tu thì những hình ảnh của các người bạn khác phái cũ khởi lên con cũng dùng những câu tác ý trên để đuổi.
     Khi nằm ngủ những hình ảnh ham thích sắc dục cũng khởi lên và làm cho tiết ra các chất bất tịnh, con cũng tác ý đuổi đi. Nhờ kiên trì như  vậy mà từ từ không còn nằm mộng nữa và không tiết các chất bất tịnh ra nữa. Mặc dù lâu lâu cơ thể vẫn tiết ra các chất bất tịnh đó nhưng không phải vì con có mộng tinh hay khởi ý tham muốn sắc dục. Con nghĩ đó chỉ là sụ phản ứng của cơ thể thôi. Nhưng con vẫn tác ý “Cái thân bất tịnh này phải chấm dứt tiết ra các chất bất tịnh này.”

     Danh là chưc vụ, địa vị, tiếng khen, bằng cấp. Khi có danh thì có quyền lực, nói người khác nghe theo, được mọi người kính nễ, dễ dàng quan hệ với nhiều người có địa vị hơn.  
     Khi có danh thì người đó phải đảm nhận một công việc nào đó phù hợp với địa vị của mình, danh càng cao thì trách nhiệm càng nhiều và nặng. Do đó làm ngày làm đêm, xử lý hết việc này đến việc khác mà không thấy hết. Chưa có danh thì rãnh rỗi, có danh rồi thì suốt ngày suốt đêm bận, làm việc tại Cty không hết rồi đem về nhà làm luôn, không còn thời gian cho mình và cho người thân trong gia đình. Giống như là mình đã thành nô lệ cho công việc hay là cho cái danh đó. Do vậy ta thấy danh chỉ là ảo tưởng.
     Khi có danh thì thích có nhiều bạn bè hơn để dê dàng ngoại giao, cho nên không tránh khỏi những bữa tiệc, ăn nhậu, la cà những nơi không có đạo đức như bia ôm, karaoke, quán nhậu,nhà hàng, massa, tắm hơi…Những chổ như vậy sẽ biến con người thành ô nhiễm chạy theo các dục lạc, và làm nô lệ cho tiền bạc. Vì để có tiền tới những nơi đó cho nên phải tính toán, làm ăn cho có tiền.
     Vì danh mà người người tranh giành nhau, nói xấu nhau, giết hại nhau, cài thế nhau để bị mắt mưu làm mất lòng tin của cấp trên và dùng mọi thủ đoạn để hại nhau.
     Vì lợi dụng danh mà sanh ra tâm tham ô trộm cắp tài sản của Cty, của ông chủ hay của nhà nước.
     Vì ỷ mình có danh mà hách lối, cống cao ngã mạn, không coi ai ra gì, không tin ai, thích ra lệnh sai bảo người khác.
     Do đó danh chỉ là những cái ảo tưởng thôi, làm hại cuộc đời của một người. Thấy ai khen mình thì phải biết sợ hãi những điều đó, không vì những lời khen đó mà chạy theo tâm ham muốn của họ. Ai khen mình thì con tránh xa người đó ngay hoặc như thấy đó là thuốc độc hay mũi tên độc bắn vào mình.
     Con nhớ đến lời Phật dạy “Ở đâu có danh thì chúng ta nên ẩn bóng”. Do đó con rất ngại  khi nghe người khác khen mình, không thích khoe khoang, không tham gia tích cực vào bất kỳ đoàn thể nào, ai làm gì làm thì thay kệ, không nên tự mình có ý kiến. Con chỉ thích là người nhỏ nhất, không cần ai chú ý. Con thường tác ý “Danh chỉ là ảo giác thôi, sẽ biến ta thành nô lệ cho công việc và chỉ làm cho người khác ghét mình thêm thôi.” Hoặc “Danh chỉ là ảo giác, khiến cho tâm ta càng cống cao ngã mạn khinh thường người khác làm hại mình, hại người hại cả hai, vây tâm tham danh này phải cút đi ”
     Con nhớ khi còn đi làm có được một chút xíu danh thì rất thích sai khiến người khác, nếu người khác làm trái ý mình thì dễ sân giận, rồi để ý người ta. Có danh thì thích chải chuốt, trang điểm. Có danh thì rất thích ăn món ăn ngon. Có danh thì thích ăn chơi chổ này chổ kia, nhậu nhẹt, rượu chè, thích gần người khác phái, và thích làm chuyện dâm dục với họ. Chính vì vậy mà tâm trí dần dẩn mê mờ, không còn sáng suốt, làm việc càng tệ hơn, lười biếng đi chơi nhiều, từ đó sanh ra tâm tham tiền, tìm mọi cách kiếm thêm tiền dựa vào địa vị của mình. Nhìn những thứ trên mà tâm con bây giờ thấy ngao ngán cái danh hảo đó. Và không bao giờ muốn để ý đến chúng nó làm gì nữa.

     Ở đâu có lợi thì không ai mà bỏ qua cơ hội đó, vì người ta nói dịp may chỉ đến một lần. Do đó ai cũng thích làm ăn, thích làm chủ, đâu có ai thích làm người làm, công nhân hay là những người có địa vị thấp như thầy giáo, anh lái xe…Vì những nghề đó làm ra ít tiền.
     Khi chuẩn bị thi vào đại học thì ai cũng nhắm vào những nghề có lương cao, những nghề có khả năng kiếm thêm như các công sở của nhà nước. Còn thực chất họ có thích nghề đó hay không thì chỉ chiếm 50% thôi.
     Khi thấy TV quảng cáo những nghề đang hái ra tiền như nuôi tôm, nuôi ba ba, nuôi cá sâu, nuôi cá basa xuất khẩu thì tính toán nhảy vào nghề đó ngay, không cần biết cái nghề đó là nghề ác hay thiện.
     Khi thấy ai nói rằng tại chổ nào đó chưa có quán ăn món này món kia mà dân thì thích ăn những món đó thì bàn tính mở ngay quán bán thức ăn đó ngay. Như một lần Cô của con đi Malaysia chơi, bên đó người quen rất thích ăn món lẩu dê mà không tìm được tại đó, họ đề nghị về VN tính toán và học nấu món lẩu dê qua bên Malaysia mở quán. Vậy là Cô con về VN đem chuyện này ra bàn với gia đình ngay.
      Khi có lợi thì chắc có sự tranh dành, tìm cách hại nhau, nói xấu nhau kể cả người trong nhà, hay bạn bè, bà con.
     Biết rõ những cái xấu do ham lợi đó cho nên con học cách xã những cái tham đó bằng cách tập bố thí, xã bỏ mọi thứ tài sản của mình, không làm chủ hay đứng tên tài sản gì cả. Nếu có tài sản thì để lại cho Mẹ hay Cha hết.
     Không sống trong những ảo tưởng như nghĩ rằng làm cái này thì sẽ đẻ ra tiền nhiều, buôn bán cái này vào thời điểm này thì có lãi to, bàn chuyện kinh doanh kiếm tiền với bất kỳ ai, có ai hỏi ý kiến làm ăn thì nói là không biết gì cả. Có ai rũ làm ăn thì con tránh xa, không nói chuyện đó, chỉ nói là thích đi tu thôi.
     Từ bỏ mọi hiểu biết và không chấp vào nó nữa, xem những hiểu biết xưa nay là những thứ rác rưởi. Cho nên không phân tích, bình luận hay nhận xét việc làm của ai cả, ai làm gì mặc kệ. Khi có những ý nghĩ nhận xét phân tích về việc làm của người khác khởi lên thì con dùng câu tác ý “Những suy tưởng này không phải của ta, là ảo tưởng, rác rưởi, vậy những ảo tưởng này hãy cút đi” Vì con thấy rằng con người hay chấp vào những hiểu biết, xem nó là của mình cho nên sanh ra đủ thức ác pháp như khoe khoang, khinh thường mọi người, thích tranh luận hơn thua, châp kiến, bảo thủ, nghi ngờ người khác…Do đó xã được tâm này thì không chạy theo những cái lợi dục lạc nữa, vì không chấp vào những suy tính là của mình mà ngược lại xã bỏ hết.
     Quán vô thường mọi pháp, dù cho bây giờ có tiền như vô thường đến thì mất tất cả, phí bao nhiêu công sức.
     Quán tưởng chết để thấy bất kỳ lúc nào cũng có thể xãy ra cái chết với mình thì chạy theo lợi lạc để làm gì. Chết đâu có đem theo được gì đâu.
     Con thường nhắc tâm “Tiền bạc là rắn độc và là đôi giày rách” đễ xã cái tâm tham tiền bạc.
     Con quán rằng dù cho ai có lừa gạt hay làm mất tiền của con thì con không bao giờ giận bằng cách thương họ vì họ đang sống trong ác pháp và đau khổ. Có quán như vậy thì mới xã cái tâm oán trách hay giận họ.
     Những đồng tiền con làm ra thì con không có dùng mua gì cả, mà chỉ đễ dành cho mọi người bà con Cha Mẹ, hay bố thí làm từ thiện. Con chỉ xin cơm của Mẹ một ngày một bữa thôi, còn tiền thì không bao giờ để dành mua bất kỳ một cái bánh, viên kẹo nào cho bản thân. Và không sắm sửa quần áo mới gì cả. Quần áo con mặc mấy năm nay chưa rách thì cứ mặc chứ có sao đâu.
     Để không bị đồng tiền sai khiến, con chỉ đi làm vừa đủ xài, không bao giờ nghĩ đến chuyện kiếm tiền thêm bằng cách kiếm thêm việc làm thứ hai hay việc làm cuối tuần. Sống biết đủ, là được rồi, ai nói gì thì nói, chê gì thì chê. Con thấy sống biết đủ làm cho thân tâm thanh thản và vô sự.
     Mỗi lần con về tu viên tu, con tập sống không cất giữ tiền bạc. Đến khi có đủ duyên xuất gia thì sẽ bỏ tất cả, không giữ một đồng nào, không sở hữu, đứng tên một tài sản nào, kể cả sẽ không bao giờ nhận một chùa nào là của mình, sống nay đây mai đó, ai cho ở thì ở, còn không thì đi nơi khác thôi.
     Khi có những niệm khởi lên liên quan đến tiền bạc thì con nói rằng “Cái đồng tiền này mi là ông chủ tính đến sai khiến ta chạy theo người làm nô lệ hay sao, hãy cút đi” Con nghĩ đến như vậy thì các niệm này biến mất ngay. 
    
     Tóm lại năm thứ dục lạc này con thấy cần phải xã cho rốt ráo thì thân tâm sẽ an tịnh phần nào. Con có cảm giác khi xã bỏ được năm cái dục lạc này thì hình như mình đã sống trong thế giới khác rồi.
     Còn rất nhiều những niệm tinh vi hằng ngày xung quanh ngủ dục lạc thế gian này, do đó con luôn luôn phòng hộ tâm ý bằng cách quán vô lậu để đuổi chúng đi. Rồi từ từ sự thanh thản cũng đến, thật là một miềm hạnh phúc khi biết niệm nào là ác thì niệm đó biến mất ngay.
     Thiệt ra mà nói để xã bỏ được năm dục này thì phải thấu rõ và hiểu năm dục trưỡng dưỡng do sáu căn là mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý tiếp xúc với sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp và pháp mười hai nhân duyên để khi có sự tiếp xúc va cham trên của sáu căn và sáu trần thì chúng  ta phải bẽ gãy ngay để không cho sanh các cảm thọ, vì có thọ sẽ có ái, đưa đến khổ đau cho mình, cho người và cho cả hai. Vậy ta hãy xem rõ sáu dục trưỡng dưỡng và các xã tâm như thế nào.

     Do 6 căn tiếp xúc với 6 trần là sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp để sanh ra các dục khả ái, khả hỹ và khả lạc làm cho tâm mê muội, mất tự chủ chạy theo. Vậy chúng ta hãy xem rõ sáu trần đó gồm những gì để chúng ta tránh.

     Sắc ở đây khác với sắc trong ngủ dục lạc. Sắc này là những hình ảnh có hình tướng đập vào mắt của ta như căn nhà, xe, máy móc, con người, con vật, thức ăn, thức uống…Những sắc này đập vào mắt làm cho sanh ra các cảm thọ khả ái, khả hỷ, khả lạc. Chính vì vậy mà tâm đâm ra ưa thích làm cho các dục sanh. Còn ghét thì sanh ra tâm sân giận. Do vậy đối với mọi sắc ta phải quán vô thường thấy được sự hoại diệt, tan rã của các sắc này thì tâm sẽ không dính mắc.
     Ví dụ khi mắt thấy một chiếc xe hơi đời mới, tâm ta khởi lên ham muốn có nó. Con quán chiếc xe này bây giờ mới và bóng đẹp. Dù gì đi nữa thì nó chỉ là một thùng sắt chứa người thôi, nhưng khi gặp tai nạn thì mốp nát, méo mó thành một đống sắt vụng bỏ vào bãi rác thôi chứ không còn là một chiếc xe nữa. Do đó khi gặp chiếc xe nào mới con liền quán tưởng đến đống sắt vụn thì niệm ham muốn liền biến mất.
     Khi thấy thức ăn thì quán về bất tịnh.
     Khi thấy căn nhà thì quán vô thường, nay còn đó, mai cháy rụi, hay động đất thì mất tiêu căn nhà, hoặc căn nhà được tạo thành gồm có đá, gạch xi măng, sơn…Sau một thời gian thì sơn bạc màu phải sơn lại, xi măng tróc ra, tường nứt, gạch cũng mục đổ xuống, ngói thì bể cũng phải thay, tôn thì sét. Nhà càng to thì càng tốn nhiều thời gian lo cho nó, nay hư cái này mai hư cái khác, chỉ làm khổ mình thôi. Do đó mà không còn ham muốn có nhà nữa.
     Khi thấy quần áo thì quán như chiếc giẻ rách.
     Khi thấy người khác phái thì quán thân bất tịnh, sình thối hoặc xương trắng.
     ………..
     Có quán xét như vậy quen thì với bất kỳ vật nào do mắt thấy tâm tham sẽ bị đập xuống ngay.
     Là âm thanh như tiếng nhạc, giọng nói, giọng ca, tiếng cười, tiếng kêu của loài động vật, tiếng động xe, tiếng nói từ TV, radio… Khi lỗ tai nghe âm thanh thì tâm khởi lên các cảm thọ khả ái, khả hỷ và khả lạc làm cho tâm dính mắc sanh ra dục. Còn ghét thì sanh ra tâm sân giận.
     Khi nghe tiếng nói tiếng cười, giọng ca của người khác phái thì con quán đến sự vô thường của âm thanh, nay còn khỏe thì giọng còn trong trẻo, mai già rồi thì khàn khàn, nói không ra hơi, hay là lúc này ca thì giọng ngọt ngào còn lúc giận lên thì như của những người không có đạo đức, xưng hô  là bà, là mày nghe thật khủng khiếp.
     Đồng thời nhắc “Nhỉ thức quay vô nghe hơi thở hay bước chân đi.”
     Là mùi hương như mùi bánh trái, mùi thức ăn, mùi dầu thơm, mùi người khác phái…Khi mũi tiếp xúc với các mùi hương đó thì sanh ra các cảm thọ khả ái khả hỷ khả lạc sanh ra dục, hay những cảm giác không thích như mùi phân, mùi rác…làm cho tâm không thích.
     Khi ngửi thấy mùi hương thì quán đến sự vô thường của cái lỗ mũi, sự vô thường của mùi cho nên nay thích mùi này mai ghét mùi kia. Do vậy thích ghét chỉ là ảo giác. Nếu còn thích ghét thì tâm còn chạy theo dục. Vậy thì ta phải đuổi “cái ảo giác đó phải lui đi” và nhắc “Cái tỉ thức phải ngửi vào trong cơ thể, không được ngửi ra ngoài.”
     Là vị như cay, đắng, mặng, bùi, ngọt, chát, chua, …Khi lưỡi tiếp xúc với các vị đó thì có cảm giác khả ái khả hỷ khả lạc làm sanh dục, còn không thích thì sanh tâm ghét bỏ.
     Khi có cảm giác như vậy thì ta cũng quán đến sự vô thường của lưỡi, của vị, do đó cảm giác ưa ghét là không thật, cũng vô thường luôn. Cho nên ta phải nhắc tâm “Vị giác là ảo tưởng, hãy lui đi” và nhắc “Thiệt thức hãy quay vào trong ”
     Xúc là xúc chạm có tính ghồ ghề, trơn láng, mềm, cứng, nóng, lạnh, êm mát. Khi thân có sự va chạm với các vật thì sanh ra các cảm giác đau nhức, cảm giác sung sướng, buồn vui và khổ.
     Những cảm giác này cũng là ảo giác ta phải đuổi đi vì cái thân này là vô thường, mọi vật va chạm cũng vô thường. Ta nhắc “xúc giác này là vô thường là ảo tưởng hãy lui đi”
     Pháp ở đây được hiểu là những kiến thức cổ kim, những môn học, khoa học, hiểu biết của con người, những khám phá, những triết học, những lời sấm, lời tiên đoán, những kiến thức về thần thánh, ma quỉ, cõi trời, thế giới siêu hình, những điều mê tính, những phong tục, tập quán, những lời nói của người xưa...
     Khi ý tiếp xúc với các pháp đó sanh ra các cảm thọ khả ái khả hỷ khả lạc hay là ghét bỏ. Đối với pháp chúng ta phải có con mắt chánh kiến thực tế, và biết những pháp nào nên tin và không tin, chỉ tin những pháp đem lại thiết thực cho cuộc sống con người như đạo đức nhân bản nhân quả không làm khổ mình khổ người và khổ mọi loài chúng sanh. Còn nếu không có chánh kiến mà là tà kiến thì dễ sanh ra tranh cãi, hý luận hơn thua những pháp huyền hoặc không thực tế, không giải thoát và không có đạo đức đó. Càng lý luận nhiều thì càng sanh ra bản ngã cao.        
     Do đó khi tâm khởi tham những pháp trên thì ta phải nhắc “Tà pháp phải lui đi.”

     Tóm lại tấc cả các pháp trên thế gian này đều là ác pháp, hằng ngày qua sáu căn thâm nhập vào làm cho tâm chúng ta tham đấm, dính mặc giận hờn buồn phiền. Muốn thắng được chúng không phải bị chúng lôi kéo thì chúng ta phải có chánh kiến và chánh tư duy để tâm bất động trước mọi pháp và luôn luôn nhớ phòng hộ sáu căn kiên cố.

     Các phước hữu lậu có được là do những hành động, lời nói hay ý nghĩ thiện của ta trong cuộc sống. Hạnh bố thí là phương pháp xã tâm tham đắm vật chất thế gian, không coi trọng vào tài vật và dính mắc vào chúng, biết chia sẽ mọi vật mình có cho tất cả mọi người, dẹp bỏ được tính keo kiệt và bủn xỉn. Không chấp vào bất kỳ vật gì là của ta, vì đã biết mọi vật là vô thường, là hoại diệt.
     Phước hữu lậu thì không ai thấy bằng mắt được, cho nên đừng quá vì chữ phước mà biến nó thành một vật nào đó mà đi tìm hay đi mua phước. Với tâm thiện thì khi chúng ta sống trong xã hội trước những cảnh đau khổ của mọi loài chúng sanh chúng ta hãy làm
·               Những việc làm từ thiện, giúp đỡ người nghèo, bệnh hoạn hay những người bị thiên tai bằng tiền tài vật chất hay bằng sức khỏe, công sức của mình.
·               Nói lời nói an ủi, trấn an, hòa hợp tạo sự đoàn kết trong mọi người.
·               Những ý nghĩ thiện mong sao cho mọi vật có sự sống được hạnh phúc có đủ cơm ăn áo mặc và những đồ dùng cần thiết kể cả khi thấy ai đó vứt bỏ thức ăn thừa thì ta cũng có ý mong sao cho các loài vật thấy được những thức ăn này.
·               Dùng những lời nói dạy đạo đức cho mọi người biết sống không làm khổ mình khổ người và không khổ chúng sanh hay qua thân giáo sống làm gương hạnh cho mọi người.
Có làm được những việc như vậy thì người đó gọi là có phước hữu lậu.
     Tại sao gọi là hữu lậu? Hữu lậu là không có mãi mà có rồi thì hết, là vô thường và đau khổ.
     Phước hữu lậu là phước trong đau khổ. Người làm phước hữu lậu vẫn sống trong ác pháp tham sân si cho nên vẫn còn bị tái sanh luân hồi.
     Có một thời gian con đi làm bồi bàn cho một nhà hàng. Nhìn cảnh nhà hàng đông đúc khách, con nghĩ là họ đang hưỡng phước. Nhưng bên trong việc làm ăn thì họ vẫn còn tham, sân si như mọi người.     Ví dụ như tiền típ khách cho người phục vụ thì họ lấy không chia lại cho ai cả, cuối tuần rãnh thì họ đi casino đánh bài bạc… Do đó con thấy càng có phước báu nhiều thì con người càng tham và càng sống trong ác pháp nhiều hơn. Và phước hữu lậu thì vô thường, không có mãi được. Có khi thì làm ra tiền nhiều, có khi thì cũng bị tai nạn cướp hết, rồi lại phải xây dựng lại từ đầu.
     Con thấy con người như là con cờ của nhân quả, hôm nay nó cho mình cái nhà, ngày mai nó lấy lại như trở bàn tay. Còn con người thì buồn phiền khóc lóc thở than, nói là sao xuôi quá, chắc do làm nhiều điều ác quá, phải đi chùa cúng tiền hay làm phước để có phước lại. Do đó con người bị kẹt vào chữ phước mà cứ nghĩ phước báu như một món quà mua dễ dàng và đầu tư ít được lãi nhiều.
     Do đó con thường nhắc mình rằng “Phước hữu lậu là vô thường, càng có nhiều phước hữu lậu thì càng sống trong ác pháp nhiều hơn, là vẫn còn tái sanh luân hồi, là phước trong đau khổ. Do đó ta phải từ bỏ tâm ham phước hữu lậu, quyết chí đoạn tận mọi lậu hoặc trong cuộc sống này. Do đo ta không cần phước hữu lậu này, phước hữu lậu hãy cút đi khỏi tâm ta”
     Sách có nói khi cúng dường các bậc chân tu thì được nhiều phước. Đôi khi con cũng có cúng dường cho tu viện. Lúc đó cái tâm nó hay lý luận sẽ được phước báu nhiều thì con tác ý ngược lại “Ta không cần các phước báu hữu lậu này, vậy các phước báu hữu lậu này cút đi.”
     Và cũng vì có cúng dường như vậy cho nên cái tâm hay dụ dỗ lôi kéo con tìm cách làm ăn buôn bán kinh doanh, vì có phước do cúng dường cho nên sẽ làm ăn được. Con cũng dùng câu tác ý trên và đuổi đi và nhắc thêm rằng “Cuộc đời này là kiếp chót không còn trở lui nữa thì cần phước báu làm gì.”

Thập thiện là mười điều lành trong đó thân gồm có ba, lời nói có bốn và ý có ba. Trong mỗi điều đều có chất chứa tính chất tham sân si. Do đó khi ta xã bỏ một điều thì tương ứng tham sân si cũng sẽ giảm theo.
Để bước chân vào đạo Phật bất kỳ người nào cũng nên sống đúng mười điều thiện này. Đó là một trong những pháp cần tu tập để xã tâm ly dục ly ác pháp. Vậy những điều thiện này dạy chúng ta xã cái gì? 
Các thân hành giết hại chúng sanh gồm có giết người, giết vật và giết mình.
·         Giết người vì ghen tuông, giết người vì tranh dành địa vị chính trị, giết người vì muốn cướp tiền bạc, vì sắc đẹp, vì nợ nần không trả, vì thú vui, vì cần tiền tiêu sài…
·         Giết vật vì thích ăn thịt, vì thú vui săn bắn giải trí, vì không có lòng từ, vì muốn kiếm tiền mua thức ăn, vì kinh doanh da thú…,vì nghề nghiệp như nghề mỗ lợn…
·         Giết mình vì thất bại trong tình yêu, vì người mình yêu, vì thua kém người khác, vì học dở, vì bị chê bai nói xấu, vì muốn trốn tránh trách nhiệm những việc xấu mình đã làm, vì áp lực trong gia đình và xã hội…
          Muốn xã bỏ những hành động giết hại chúng sanh, chúng ta phải từ bỏ những duyên làm hại đến tính mạng chúng sanh, các nghề nghiệp giết trực tiếp hay gián tiếp làm hại chúng sanh, các trò vui chơi không có thấy sự đau khổ của chúng sanh và mọi hoạt động làm phát triển tâm tánh thô bạo và giảm tâm từ bi thương yêu của chúng ta như sau:
·         Không cầm gậy, gộc, trượng, dao, búa, kiếm, súng,..và những vật khác có khả năng làm hại chúng sanh.
·         Không dùng tay chân đấm đá chúng sanh.
·         Không ăn thịt chúng sanh.
·         Khi đi đứng, nằm, ngồi, cầm, nắm bất cứ vật gì,… chúng ta nên cẩn thận xem xét có chúng sanh hay không?
·         Không đi học các môn võ nghệ, dưỡng sinh vì các môn này dạy người ta cách đánh nhau hay cách múa kiếm, gậy, côn làm cho tâm tánh con người đã có sân thì càng dễ sân hơn vì ỷ mình có biết mấy bài võ.
·         Không xem TV hay phim ảnh hoặc chơi các trò chơi điện tử bạo lực đánh đá, bắn súng,… giết hại chúng sanh.
·         Không làm các nghề giết hại chúng sanh như mỗ lợn, mỗ trâu, bò, gà, vịt...
·         Không săn bắn thú, chài lưới bắt cá, đặt bẫy chúng sanh…
·         Không làm nghề nấu thịt chín,
·         Không làm nghề bán thịt sống.
·         Không làm nghề buôn bán người.
·         Không làm nghề nấu rượu, cất chứa rượu và bán rượu, chất say, các chất kích thích làm tê liệt thần kinh.
·         Không dùng các đồ vật được làm từ thân thể của các chúng sanh như sừng trâu, sùng nai, răng heo rừng, răng cọp, áo da bò, găng tay da, giày da, áo choàng lông thú, móng, ngà voi…và không làm các nghề sản xuất các vật có thân thể chúng sanh 
·         Không mở nông trại, nuôi gà, vịt, heo, bò, gấu, khỉ, cá sấu…
·         Không làm các nghề sản xuất các vật bắn, giết, bẫy chúng sanh như súng, đạn, dao, lưới, cần câu, lưỡi câu,…
·         Không làm các nghề trung gian thu mua thịt chúng sanh hay chuyên chở chúng sanh dù sống hay chết.
·         Không sử dụng sức lao động của chúng sanh vào việc cày bừa, kéo, cởi…
·         Không đi xem xiếc, xem các trò biểu diễn thú ngoài đường…
·         Không nên vì kinh tế chính trị mà tạo ra chiến tranh, khủng bố.
·         Không nên vì những lý tưởng cao đẹp trong kinh thánh của các tôn giáo mà tự mình hủy hại đời mình bằng cách tự tử.
·         ….
Biết xã bỏ những hành động ác trên là ta đang trao dồi lòng thương yêu của chúng ta đối với chúng sanh, có như vậy thì không bao giờ ta có thể hại chúng sanh được. Có làm được như vậy thì cuộc sống sẽ hạnh phúc, không bệnh hoạn, không bị tù tội, thưa kiện, tai nạn…
Để chuyển hóa tâm phàm phu của chúng ta thành tâm của bậc thánh thì hàng ngày chúng ta phải tập biết yêu thương các loài vật côn trùng nhỏ bé xung quanh chúng ta trước, biết thương ta, và sau đó là tu tập biết thương yêu sự sống của người khác, của cây cối thảo mộc, và của thiên nhiên. Cụ thể về phần này được giải thích rõ qua những bài viết trước Đức Từ Tâm và Đức Bi Tâm.
Để thấm nhuần đức hiếu sinh này chúng ta hãy nhắc tâm mình “Tất cả mọi loài đều có sự sống, đều sợ chết, vậy ta hãy biết thương yêu sự sống của muôn loài.”

          Trộm cắp là những hành động lấy của không cho, lấy những vật chưa có sự cho phép của bất kỳ ai kể cả người thân trong gia đình, bạn bè, vợ chồng, anh chị em. Những hành động trộm cắp được thấy nhiều trong xã hội như cướp giựt giữa đường phố, ăn trộm nhà, ăn cắp tại các Cty, kho bãi, ăn cắp qua việc gian xảo giấy tờ Cty, ăn cắp qua việc trốn thuế, ăn cắp qua việc vận chuyển hàng lậu không muốn đóng thuế, ăn cắp qua việc ăn bớt vật tư xây dựng cầu cống đường phố, nhà, và các công trình công cộng, ăn bớt tiền mua vật tư bằng cách mua vật tư chất lương kém hơn, ăn cắp những vật dụng nhỏ trong văn phòng từ cây viết, tờ giấy, cây kim, sài máy photo copy, máy fax, gọi phone việc riêng của mình…
          Chúng ta phải biết ý thức những việc làm xấu này và cương quyết tránh xa các duyên đưa đẩy chúng ta đến những hành động trôm cắp như.
·         Tránh xa những cá nhân hay tập thể có những hành vi trộm cắp.
·         Thật thà từ những việc nhỏ như đến trễ thì nói trễ, về sớm thì phải ghi đúng giờ về, không gian trá khai gian giấy tờ như ở khách sạn tốn 120 đồng thì không được nói với nhân viên khách sạn làm giấy ghi 150 đồng.
·         Không tham gia vào các cuộc nhậu nhẹt, ăn chơi khi biết rằng khả năng của mình không đáp ứng những chi phí đó.
·         Không tự ý nên quyết định những việc có liên quan đến tài chánh, phải xin phép ý của cấp trên, và luôn trình bài rõ ràng mọi chi tiêu trước khi làm cho cấp trên kể cả được phép chi tiêu.
·         Không nên cất giữ tiền bạc hay làm các chức vụ giữ tiền hay liên quan đến tiền bạc của Cty hay người khác.
·         Không chạy theo những đua đòi về vật chất của xã hội, của lớp trẻ. Sống biết đủ và vui lòng với những gì mình có.
·         Không nên lợi dụng chức quyền của mình hay những chính sách ưu đãi của Cty để lòn lách gian tham của cải tiền bạc. Như khi biết cơ quan có quỹ cho đối ngoại ngoại giao, thì lợi dụng việc này và chức vụ, dẫn người thân, gia đình bè bạn đi ăn nhậu, rồi mang giấy tờ về Cty thanh toán.
·          …
          Chỉ vì có mục đích thỏa mãn lòng ham muốn của mình cho nên con người dùng mọi cách đạt được, mà có những hành động trộm cắp như vậy. Tất cả mọi vật được làm ra bằng sức lao động cực khổ chứ không phải từ trên trời rơi xuống mà có. Những người trộm cắp là những người lười biếng thích ngồi không mà có được mọi vật cho nên mới sanh ra tâm ham trộm cắp. 
          Chỉ cần người khác biết được tâm tánh của ta có tính trộm cắp thì họ sẽ tránh xa mình. Những người này với bản tính gian tham như vậy thì không bao giờ sống chung, làm chung và học chung với bất kỳ ai được. Và hậu quả của hành vi trộm cắp là bị bắt giam, ở tù, bị đánh đập, bị người khác tránh xa, bị chê bai, chỉ trích hay nguyền rũa…
          Là con người chúng ta phải biết xấu hổ với những hành động ác của mình. Có xấu hổ thì chúng ta sẽ sửa lỗi, và biết quí trọng công sức lao động của người khác thì chúng ta sẽ không làm những việc trộm cắp nữa. Chúng ta hãy thường xuyên nhắc câu sau “Trộm cắp là gian tham, là ác pháp, ta quyết viễn ly, đoạn diệt và từ bỏ, vậy thì tâm trộm cắp hãy cút đi ”

          Là những hành động làm mất hạnh phúc của gia đình người khác, làm mất sự trinh trắng của người được gia đình cha mẹ, anh chị em hay người lớn tuổi bảo vệ. Là những hành động dùng bạo lực cưỡng ép bắt buộc quan hệ dâm dục. Là những hành động tự mình làm việc dâm dục như thủ dâm.
          Tánh dâm dục là tánh thích cảm giác khoái lạc do xúc chạm giữa thân thể với nhau. Bản tánh này đã được huân tập bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp cho nên khó mà không ai không có.
          Những hành động trên được nung nấu từ các duyên sau:
·         Xem phim, đọc sách, truyện, báo chí về tà dâm dâm dục
·         Có bạn bè xấu chuyên làm những hành động ác trên.
·         Thích nói chuyện về các đề tài dâm dục, trai gái.
·         Thích kể những chuyện cười có tính dâm dục trong đó.
·         Thích nói chuyện với người khác phái.
·         Thích trang điểm, chải chuốt, sức dầu thơm, ăn mặc lòe loẹt xanh đỏ hay hở hang không kín đáo.
·         Thích làm các nghề bán nhân phẩm,
·         Làm nghề phục vụ bia ôm, cà fe ôm, hát karaoke, massage xoa bốp, tắm hơi.
·         Thích nhảy nhót, nghe nhạc, đi chơi đêm, ngủ bờ, ngủ ruộng.
·         Làm nghề vẽ chân dung, thiết kế thời trang model, nghề biễu diễn thời trang, nghề ca sĩ, hát kịch, cãi lương…
Từ những hành động ác đó mà con người coi thường chuyện dâm dục và các tà hạnh, họ không biết nghĩ đến hạnh phúc của người khác và danh dự, lòng tự trọng của bản thân nữa.
Những hành động tà dâm hay dâm dục chỉ mang đến khổ mình như bị thưa kiện, chửi mắng, bị người khác đánh đập, bị người khác đánh ghen bằng acid, rạch mặt, bị ngồi tù, bị mang tiếng mất mặt gia đình…
Do đó để xã cho được tâm dâm dục này thì ta phải tránh các duyên trên, quán nhân quả và quán thân bất tịnh, và thường xuyên nhắc câu sau “Sắc dục là con đường sanh tử luân hồi, là bất tịnh hôi thúi, hãy cút khỏi tâm này” Có như vậy ta sẽ xã bỏ được tâm ác này.

          Là những lời nói dối gạt người khác để đạt được mục đích gì đó như tiền bạc, hạnh phúc, danh, sắc dục, vật chất, công việc…Cái tính của nó là nói không đúng sự thật và che đậy sự thật, có thì nói không, không thì nói có. 
          Vì con người ai cũng có lòng tham, cho nên ai cũng muốn khi làm việc gì thì phải có kết quả tốt như họ mong đợi, rất sợ thất bại. Do đó con người tính toán đủ thứ để tìm cách luồn lách, len lõi, đi ngã tắt để đạt được mục đích. Chính vì vậy mà lời nói của họ lách léo, uốn éo, luồn lách như con lươn, không nói thẳng vào vấn đề cho nên luôn mang tín gian dối, không thật thà trong đó.
          Trước khi nói chúng ta hãy suy nghĩ cho chính chắn xem lời nói của mình có thật thà hay gian dối, chứ đừng đụng đâu nói đó, không có suy nghĩ trước vì như vậy sẽ bị nghiệp lôi kéo mà không biết, hãy nói từ tốn, không hấp tấp vội vã và hãy tránh các duyên sau:
·         Người quen nói dối thì hay rất sợ nói sự thật do đó chúng ta hãy dẹp bỏ tánh sợ xấu hổ khi nói lòi nói chân thật. 
·         Dù cho chuyện nào đó không dẫn đến hại người khác thì ta cũng không nên nói dối. Vì khi đó sẽ hại mình đó.
·         Hãy tập nói những lời nói chính chắn, không đùa giỡn để cho lời nói luôn được trau dồi nghiêm túc. Nếu không thì dễ bị hoàn cảnh lôi kéo nói dối mà không hay.
·         Chúng ta hãy từ bỏ những nghề nghiệp luôn luôn phải đối mặt với nói dối như nghề kế toán, luật sư, nghề thương mại kinh doanh buôn bán, nghề ngoại giao, nghề báo chí, nghề quảng cáo, nghề chào hàng marketing…
·         Tránh tập trung nói chuyện phím với mọi người, vì càng thích nói chuyện nhiều thì rất dễ dàng nói dối để bảo vệ cái hay cái biết của mình.
·         Không nên sợ thất bại, chấp nhận mọi trở ngại và vượt qua. Tất cả chỉ là nhân quả thôi, là vô thường thì đâu có cái gì của mình đâu.
·         Chỉ nên nói những gì mình biết, mình nghe, mình thấy rõ. Không nên nói những chuyện không biết rõ, không nghe rõ và không thấy rõ.
·        

          Thích nói dối nhưng khi biết được ai nói dối mình thì mình giận lên, không thích nói chuyện với người đó nữa hay không còn tin tưởng nữa, đó là bản tính của con người. Do đó nếu chúng ta không muốn người khác nói dối mình thì mình đừng nói dối ai cả. Còn nếu ai nói dối mình thì mình hãy xã bỏ vì mình đã biết đó là điều ác thì mình hãy khéo nói cho họ biết là nói như vậy là nói không đúng sự thật sẽ dẫn đến hậu quả xấu, và người nói dối như nước bẩn không còn xài được nữa. Người nói dối sẽ tự hại mình, làm cho người khác không tin mình nữa, mất đi uy tính với người khác và không có đạo đức thành thật.
          Chúng ta hãy thường xuyên nhắc tâm “Nói dối là ác, người nói dối bất chấp chuyện ác nào cũng làm, làm nhiều điều ác thì sẽ nhận nhiều quả khổ đau, vậy ta hãy từ bỏ lời nói dối, luôn nói lời nói chân thật.”
          Cuộc đời của con nhìn lại những lúc con thành công làm việc gì thì trong việc đó có sự thành thật với mọi người. Còn những chuyện đổ vỡ thất bại thì luôn luôn có tính gian dối trong đó. Do đó con quyết tâm từ bỏ tâm hay nói dối này, dù chuyện nhỏ không hại ai con cũng không nói dối. Vì vạn pháp là vô thường, đâu phải của ta đâu mà ta sợ thất bại hay thành công làm gì, chỉ cần tâm thanh thản, an vui là được rồi.

          Là lời nói phóng đại thêm so với ban đầu, do đó làm lệch ý nghĩa và sai sự thật.
          Có người vì muốn làm thêm cho câu chuyện thêm hưng phấn cho nên nói thêm ý của mình vào như khi xem phim về tả lại thì thêm mắm thêm muối vào.
          Có người vì muốn làm trội lên đề tài mình muốn nói cho nên thêm những hiểu biết, những bình luận hay phân tích của mình vào làm lạc đi cái nguyên thủy của câu chuyện, của vật mình muốn nói, hay của sự việc đã xãy ra. Như chuyện hàng xóm cãi nhau thì thêm vào là lỗi ông này bà nọ. Thiệt ra chuyện gia đình người ta cãi vã thì làm sao mình biết được do nguyên nhân gì mà bình luận ai đúng ai sai.
          Có khi vì muốn hại nhau cho nên khi nghe chuyện 1 đàng, rồi nói lại với người khác một nẽo làm cho người ta hiễu lầm nhau hay hiểu lầm sự việc. Khi nghe cấp trên nói sẽ cho anh A lên chức, thì khi gặp anh A nói là cái chức đó đã có người rồi. Người ta không ghét nhau mà nói là anh A không thích cái này của anh B làm cho anh A và B hiểu lầm nhau, rồi dẫn đến xích mích cãi cọ, ghét nhau…
          Khi muốn người ta chú ý vật hay việc gì thì chúng ta thường hay thêm bớt, phóng đại thêm như muốn người ta bầu cử mình lên làm tổng thống thì phải hứa đủ điều sao cho có lợi cho dân. Nhưng thực tế có làm được hay không thì tính sau.
          Khi muốn chiếm đoạt trái tim của ai thì những người yêu nhau thường dùng những lời nói hoa mỹ, hứa hẹn, thề thốt để dụ dỗ đối phương như câu cá vậy.
          Có khi muốn gạt gẫm ai thì dùng những lời nói khoe trương cái hay cái tốt của những gì người đó muốn. Những cô gái thích đi Đài Loan hay nước ngoài đều là những nạn nhân đó.
          Tất cả những sự kiện xãy ra do lời nói thêu dệt là người nói muốn tạo cho mình danh thế, tiền tài, tiếng khen, lợi nhuận, … Nhưng những người hay nói lời nói thêu dệt dễ dàng bị phát giác và mất đi uy tính của mình làm cho người khác mất lòng tin và lời nói của họ không bao giờ còn có giá trị nữa. Để lại  những lời đồn về cái xấu của họ sẽ hại họ trong suốt đường đời.
          Chúng ta nên biết rằng lời nói không thể thể hiện được đầy đủ ý nghĩ của những gì muốn nói cho nên qua lời nói rất dễ dàng hiểu lầm nhau. Với lại cái tính của con người hay suy tưởng lung tung và chấp vào bản ngã cho nên sanh ra đủ thứ hiểu lầm nhau, làm cho sự việc không có gì nghiêm trọng trở nên có nghiêm trọng, chuyện nhỏ thì xé ra thành to. Do đó chúng ta đừng nên chấp vào những gì mình thấy, mình biết hay mình nghe. Khi có suy tư gì thì phải đuổi những suy tưởng đó ngay “Những suy tưởng này là ảo tưởng, không phải của ta, cac ngươi là rác rưởi hãy cút khỏi nơi đây.” Đó là những lời Phật dạy qua đoạn kinh sau “Cái thấy, cái nghe, cái biết không phải là của ta, là ta, là tự ngã của ta”

          Lời nói lật lọng là lời nói ngược với lời nói trước đó mình đã nói. Chống đỡ những cái sai của mình bằng hình thức uốn éo, dẽo mồm dẽo miệng như con lươn.
          Lời nói lật lọng có thể làm hại người khi làm chứng cho bất kỳ ai, làm cho người khác không trở tay kịp. Như khi hứa ra tòa sẽ giúp anh A nói xấu anh B, nhưng khi ra tòa thì lại làm chứng nói xấu anh A.
          Lời nói lật lọng là lời nói sai sự thật 100% nhầm muốn đạt được mục đích về tiền tài, danh lợi cho mình. Như trước mặt anh B thì anh A nói anh B hãy làm như vậy là sẽ có ích cho Cty, nhưng sau đó thì anh A nói xấu với ông chủ là anh B làm những việc đó sẽ làm hao tổn tiền bạc của Cty.
          Lời nói lật lọng là lới nói ác, làm cho người khác khinh bỉ mình, tránh xa mình. Cuộc đời của người nói lời nói lật lọng không bền, được một chút vinh hoa phú quí thì phải trả giá ngay bằng các cảnh thảm bị người khác xua đuổi như con thú và họ luôn sống trong đau khổ vì luôn nghĩ cách hại người.
          Do đó ta thấy lời nói lật lọng làm cho chia rẽ bao nhiêu người, làm mất đoàn kết trong tập thể. Biết như vậy là xấu thì chúng ta hãy dùng lời nói hòa hợp, an ủi, trấn an mọi người. Có như vậy thì người đó luôn được mọi người tin cậy và kính nễ.
          Chúng ta hãy thường nhắc tâm “Luôn luôn nói lời nói hòa nhã dịu dàng, tạo sự đoàn kết cho mọi người”

          Là lời nói la mắng, chửi rũa, nạt nộ, thề thốt độc địa, la hét to tiếng, gằn giọng làm cho người khác sợ hãi, buồn khổ và khóc. Lúc đó lời nói không còn lịch sự nữa, chỉ còn xưng mày, tao, nó, bà ,thằng nọ, con kia. Còn trong gia đình thì không còn biết trên dưới tôn trọng ai cả.
          Khi nói lời nói hung dữ thường đi đôi với ánh mắt hung dữ như con thú muốn nuốt sống người khác, mặt đỏ lên, hai má rung rung, tay múa chỉ chỏ vào người đối diện và chân đụng vật gì thì đá vật đó.
          Tại sao con người có những hành vi độc ác như vậy? Phải chăng lúc đó có chuyện gì quá là ấm ức, bị dồn nén lâu ngày, bị chi phối bởi những cơn giận kéo dài, hoặc quá bị ngược đãi, hay khi tranh dành một cái gì như hai con chó tranh dành một khúc xương.
          Có một lần con thấy hai xe đụng nhau. Sau khi đụng nhau thì người phụ nữ trẻ hơn người kia thì xưng mình là bà, còn gọi ông kia trông lớn tuổi hơn là thằng kia. Sau đó cô ta chửi liên tục không làm sao cho ông ta mở miệng ra nói, ai xung quanh nghe cũng sợ theo. Có khi chỉ muốn bảo vệ tài sản mình mà phải ép người khác cho nên dùng lời nói mạ lị chử mắng người khác.
          Có khi vì khinh thường người khác mà thường hay mắng chửi to tiếng người khác, không chịu nghe ý kiến của mọi người, bản ngã của những người như vậy rất cao, họ coi họ là luôn luôn đúng, ý của người khác thì luôn luôn sai. Đó là trường hợp của con năm xưa. Chính vì bản ngã cao như vậy mà con thường la mắng, trợn tròng mắt nhìn bạn gái và quát mắng Mẹ, không biết nghe lời khuyên của Mẹ, luôn nghĩ cái biết của Mẹ không bằng mình. Làm cho bạn gái và Mẹ đau khổ và buồn khóc.
          Lúc đó thì họ chỉ thấy họ đúng thôi, nhưng nếu ai biết ý thì khi cơn giận xuống, giải thích cho họ biết lúc nãy gương mặt, anh mắt, điệu bộ của họ trông như ác quỷ thì họ sẽ tỉnh ra và sửa sai.
          Chính vì luôn luôn cộc cằn, nhăn nhó, khó chịu, và hung dữ cho nên khuôn mặt của những người này rất dữ tợn, làm cho mọi người tránh xa. Những người nóng giận thường không kiên nhẫn dẫn đến thất bại trong mọi chuyện. Có khi chuyện lớn có thể xãy ra như đánh đập, giết người làm cho mình phải bị tù tội.
          Lới nói hung dữ còn là những lời nói khuyến khích, vui mừng hay đồng tình việc người khác giết hại chúng sanh, trộm cắp hay tà dâm, dâm dục, uống rượu, bia, hút thuốc lá, thuốc kích thích, nói dối, nói lời nói thêu dệt, nói lời nói lật lọng hay nói lời nói hung dữ, phạm giới …
          Đễ xã lời nói hung dữ này thì con tập sống biết nhẫn nhục, tùy thuận và bằng lòng đễ xã bỏ bản ngã và tu tập lòng từ. Từ đó lời nói của con thay đổi dần dần và chỉ nói lời nói ái ngữ, ôn tồn, nhã nhặn, từ tốn, không to tiếng nữa.
          Con thường nhắc tâm rằng “Quán từ bỏ lời nói hung dữ, nạt nộ và quát mắng. Lời nói phải ôn tồn nhã nhặn từ tốn đầy lòng từ biết thương yêu mình và thương yêu người. Không được nói những lời nói với tâm sân giận”
  
          Nguyên nhân của mọi đau khổ trong cuộc đời này đã được Đức Phật nói trong bài Tứ diệu đế, đó là tâm tham, là ham muốn. Chính vì do có tâm tham cho nên mọi ác pháp có mặt.
          Chúng thường xuyên sanh khởi khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần chạy theo các dục như ăn, ngủ, sắc, danh, lợi và các ác pháp khác.
          Do có khởi ý mà có những hành động hay lời nói chứa chất tính tham trong đó. Ví dụ như:
·         Chưa đến giờ ăn mà có ý muốn ăn uống phi thời. Thấy thức ăn trên bàn thì muốn bóc ăn. Đi cửa hàng khi thấy những thức ăn có mẫu mã bao bì đẹp thì có ý muốn mua về ăn thử. Nhớ nghĩ món ăn này món ăn nọ. Biết trong tủ lạnh có món ăn nào mình thích thì khởi ý rằng ngày mai mình sẽ ăn món đó. Thích món ăn nào thì muốn đi chợ mua…
·         Chưa đến giờ ngủ thì muốn đi ngủ. Hơi mệt thì muốn ngủ sớm để có sức khỏe mai tu tiếp. Khi bị bệnh đau nhức thì muốn ngủ thêm để lấy lại sức. Đến giờ dậy thì muốn ngủ thêm một chút. Đang tu thì muốn tu tư thế nằm, sau đó thì ngủ luôn…
·          Thấy người khác phái thì muốn xem mặt mũi người ta ra sao? Thấy người khác phái thì muốn nói chuyện. Nhận xét phê bình đánh giá người khác phái như cao thấp, mập gầy, đẹp xấu, có thân hình khêu gợi hay là chán, có giọng nói dễ nghe hay là dữ, có tiếng cười trong trẽo hay thô, có mái tóc dài mượt, có lỗ mũi cao, ánh mắt đẹp…
·         Thích muốn có nhiều bằng cấp để người khác tôn trọng mình hay để khoe khoang. Thường hay so sánh mình với người khác vì mình cũng có bằng này bằng nọ, đã làm chức vụ này, công việc này, hay có kinh nghiệm này kinh nghiệm nọ. Có ý muốn chức vụ nào đó, công việc nào đó. Có ý thích người khen, thích nghe khen. Có ý khinh chê người khác. Có ý muốn làm chủ trì chùa to. Có ý muốn mọi người khác nghe lời và tôn trọng mình. Có ý muốn giảng dạy đạo cho người khác khi chưa tu xong hay là sau khi tu xong…
·         Thích có nhiều tiền để làm phước. Thích có nhiều tiền để xây nhà, mua xe và sắm sửa vật chất. Thích kiếm tiền thêm bằng cách này cách nọ. Thích làm ăn được như người khác. Có ý làm kinh doanh buôn bán khi nghe biết là làm cái đó có lãi. Có ý lừa đảo người khác, gian tham trộm cắp để được có tiền. Có ý khai gian thuế. Có ý tham ô tài sản nhà nước. Bốc lột sức lao động. Có ý kinh doanh các hàng cấm để kiếm nhiều tiền. Có ý buôn bán lậu để trốn thuế lời nhiều, có ý mua vé số trúng để mau giàu, có ý tham cờ bạc, chơi hụi, cá độ…
          Để xã bỏ mọi ý tham sanh khởi thì chúng ta phải có chánh niệm tỉnh giác trên từng niệm, và dùng pháp môn quán vô lậu để đuổi sạch các tâm ác này. Hạnh bố thí là phương pháp giúp chúng ta xã bỏ tâm tham này. Ngoài ra đối với người tu sĩ thì hạnh thiểu dục tri túc, ba y một bát, sống biết đủ, bằng lòng với mọi đồ ăn khất thực, chổ ở là hạnh ly tham rốt ráo nhất. Cuộc đời lúc đó trắng bạch như vỏ ốc, phóng khóng như hư không, an nhàn giản dị không còn dính mắc một vật gì.
         
          Lòng sân giận như đóm lửa thiêu cháy tất cả mọi công đức. Khi sân thì gương mặt đỏ gay, hai mắt trợn tròng trợn trắng, lời nói thì hét lớn, như dao đâm, không coi ai ra gì cả. Làm mất sự an vui, vui vẽ và tự nhiên của gương mặt.
          Người tu mà sân giận thì mất đi đức hạnh của người tu, làm cho người khác khinh chê, xem thường cả đạo giáo mà người đó tu. Do vậy khi tu tập chúng ta phải biết làm chủ ý sân của mình. Làm chủ ý sân thì phải biết tỉnh thức trên từng tâm niệm. Có tỉnh thức thì sẽ thấy được cơn sân và dập tắt ngay bằng câu tác ý “Sân là ác, hãy cút đi”. Và sau đó quán xét niệm sân đó trên các khía cạnh sau:
·         Quán nguyên nhân do đâu có cái sân này? Thường thì có sân là do mình chấp vào một điều gì đó, hay mình muốn đạt được một cái gì đó mà không được toại nguyện, hay mình đã lên kế hoạch làm việc này như thế nào, nhưng người khác có ý kiến khác làm đảo lộn kế hoạch của mình lên. Nghĩa là có tham muốn nên mới có sân. Thấy rõ do có cái tham mà mình sân giận thì tâm sân sẽ biến mất. Hay là xã bỏ tâm tham đi thì cái sân cũng đi theo luôn. Như mình tính hôm nay ở nhà tu tập, nhưng người nhà nhờ mình chở ra ngoài mua đồ. Khi đó tâm sân sẽ nỗi lên do bị phiền toái làm vỡ kế hoạch của mình. Nguyên nhân là do mình có cái muốn này, muốn nọ mà có sân giận.
·         Quán nhân quả. Khi người khác mắng chửi, nói oan ức, không đối xử tốt với mình thì mình sẽ sân giận. Nhưng khi ta quán xét nhân quả do đã có nhân duyên ta gieo từ quá khứ rồi cho nên ngày nay ta gặp được những người này nói những lời nói oan ức, chửi mắng, nạt nộ, la hét hay không đối xử tốt với ta. Vậy ta hãy vui mừng im lặng chấp nhận xã niệm đó. Không tranh chấp, phản ứng lại làm gì.
·         Quán lỗi mình. Khi có ai đó giận mình, la hét mình hay nói những gì trái ý mình thì mình phải biết tự nhìn lại lỗi của mình và đặt mình vào hoàn cảnh đó mà thông hiểu mọi người, bởi vì khi ai quyết định làm gì thì phải có nguyên nhân. 
·         Quán vô thường. Vì là vô thường cho nên tâm con người lúc giận lúc vui. Bây giờ họ vì chuyện gì đó không hài lòng, không thỏa mãn cho nên họ giận lên, một lát nữa cơn giận sẽ hết thôi. Ta hãy im lặng là tốt nhất.
·         Quán tùy thuận, xã ngã. Khi ai đó muốn điều gì thì ta hãy tùy thuận ý kiến, yêu cầu, lời nói và việc làm của họ để mình và mọi người cùng vui. Mọi pháp đều do các duyên tạo thành, phải có nguyên nhân gì, duyên gì đó cho nên họ mới nói những lời nói như vậy. Vậy ta hãy tùy thuận theo họ.
·         Quán từ bi. Người đang sân giận là đang sống trong ác pháp, là đang đau khổ và sẽ bị những quả báu đau khổ. Vậy ta hãy khởi lòng thương xót họ, trấn an họ, xin lỗi họ để cho tâm trí họ trở về trạng thái bình thường.
·         Quán tâm từ. Có khi do muốn tranh dành đoạt lợi cái gì mà không được cũng sân. Khi thấy ở đâu có sự tranh dành thì ta hãy tránh né không tham gia, hay ai muốn gì thì hãy nhường cho họ hết. Làm được việc đó thì ta sẽ không làm cho ai buồn phiền bực mình hay nỗi sân ghen tức với ta dẫn đến tìm cách hại ta.
·         Quán tâm hỷ. Có khi biết hoan hỷ tha thứ lỗi cho người khác thì cũng sẽ thắng được tâm sân nỗi lên (đặc biệt là biết tha thứ cho người nhỏ tuổi hơn hay người thua kém hơn mình hay người ghét mình)
·         Quán xã bỏ mọi hiểu biết. Vì có chấp vào tri kiến hiểu biết của mình cho nên ai nói gì trái ý thì sân giận lên ngay. Ta phải thấy rõ những cái hiểu biết không phải là của mình, là vay mượn, là vô thường thay đổi theo thời gian, tùy theo hoàn cảnh và các duyên thì nó mới hợp thời chứ không phải có thể áp dụng một hiểu biết cho mọi trường hợp. Do đó những kiến thức, hiểu biết chỉ làm hại chúng ta thôi. Chúng ta hãy tác ý đuổi chúng xem chúng là đồ rác rưởi “Những hiểu biết là rác rưởi, hãy cút đi, cháy sạch hết đi”
        Cơn sân sẽ làm cho mọi người xa lánh, làm mất đi tướng của người tu. Khi sân sẽ làm hỏng mọi chuyện, phá đổ mọi kế hoạch, làm cho hao tiền, tốn sức, tốn thời gian.
        Con có một bà thím cần hoàn tất xây dựng căn nhà xong trước Tết. Vừa muốn nhanh và muốn đẹp cho nên Thím thường góp ý cái này cái nọ với những công nhân, làm cho họ bị áp lực bỏ việc. Khi các công nhân bỏ việc thì Thím lại quay sang trách móc ông chủ Thầu và lại có xích mích với ông ta. Từ đó Thím nóng giận có những lời nói không hay cho nên ông chủ Thầu ngưng toàn bộ căn nhà đang xây dỡ dang và rút hết công nhân về. Tiền đã đưa trước cho ông chủ Thầu thì bị mất. Thím phải tự mình thuê mướn ông thầu khác, tự mình phải lo chạy đây chạy đó mua vật liệu và thời gian xây ngôi nhà kéo dài ra thêm.
        Do đó ta thấy tâm sân làm hỏng hết mọi việc. Người không sân hận thì từ tốn, dùng lời nói êm dịu nhẹ nhàng khi nói, biết sống tùy thuận vào ý người khác, rồi từ từ chuyển họ nếu họ sai. Không sân giận ai là mình biết thương mình và thương người. Cho nên chúng ta hãy giữ gìn sự bình an cho mình và cho người thì lúc đó tất cả đều vui vẽ, thoải mái và an vui. Có hiểu rõ như vậy thì ta sẽ xã bỏ mọi tâm niệm sân của mình.
        Có một niệm này con mới phát giác ra hôm qua. “Khi mua đồ mắc hơn chút xíu so với người khác thì cái tâm sân cũng có, nó cứ đeo đẳng hoài, lý luận là mình bị lừa cho nên nghĩ đến việc mua cái đó thì lại giận người bán hàng. Lúc đó con suy nghĩ rằng, buôn bán thì phải có lời chứ, khi có lời thì gia đình họ sẽ ấm no. Vậy ta hãy vui mừng mới đúng. Nhờ suy nghĩ như vậy mà con thấy tâm an ổn lại.”
       
       Người không có si mê thì gọi là minh, có minh là có hiểu biết mọi vật như thật, thiên là thiện, ác lá ác, không lý luận dài dòng che đậy sự dốt nát của mình. Họ là những người tin sâu vào nhân quả, có con mắt chánh kiến, thấy và hiểu rõ các pháp như thật. Pháp nào ác là ác, pháp nào thiện là thiện. Pháp nào khi tu tập làm cho các ác pháp giảm, thiện pháp tăng và pháp môn nào khi tu tập các thiện pháp giảm và ác pháp tăng trưởng. Do đó người có minh thì luôn luôn ngăn ác diệt ác pháp, sanh thiện tăng trưởng thiện bằng các pháp Từ, Bi và Hỹ, Xã.
       Người không si mê thì không tin vào các tà thuyết không thực tế, mơ hồ. Chỉ tin vào những gì mình có thể hiểu được bằng ý thức. Do đó người không si mê thì không dễ gì bị các ngoại đạo lừa đảo. Người không si mê là người không bao giờ tin vào mê tín dị đoan. Đó là các môn lừa đảo.
       Người không si mê thì khi làm điều gì mà thấy khổ mình, khổ người, khổ chúng sanh thì không làm.
       Muốn diệt si mê thì chúng ta phải diệt cho bằng được hôn trầm thùy miên, hôn tịch, vô ký và ngoan không. Trau dồi chánh kiến để có tri kiến giải thoát và tu tập tứ niệm xứ để cho được tâm định tỉnh thì từ từ giặc si sẽ giảm dần dần. Chứ đừng cố gắng thức khuya dậy sớm, làm cho cơ thể mõi mệt, bần thần, sinh ra nhiều bệnh hơn. Tu tập cố gắng giữ giờ giấc nghiêm chỉnh, khi gặp giặc buồn ngủ thì áp dụng một trong bốn pháp đi kinh hành để phá buồn ngủ.
        Người không si mê thì tu phật để được giải thoát làm chủ bốn sự đau khổ của con người chứ không phải tu theo Đạo Phật để được thần thông. Do đó nếu ta còn có ý ráng tu để được thần thông như phóng hào quang, bay lên trời…thì đó là ta đang si mê.
       Người có si thì lòng tham của họ sẽ không đáy, có si thì lửa sân sẽ cháy, làm trụi mọi công đức tu hành. Có si thì không có lòng tin vào Phật pháp, có si thì bản ngã cao vút tận trời. Có si thì dễ bị trạo cử làm tâm tán loạn.
       Người có minh là người hiểu rõ các chân lý trong Tứ Diệu Đế, biết rõ cuộc đời này là khổ thật, nguyên nhân của khổ, trạng thái diệt khổ và con đường đưa đến diệt khổ. Có như vậy người có minh luôn luôn tinh tấn hằng ngày quyết chí thoát ra khỏi cuộc sống khổ đau này.
       Để giúp cho tâm luôn luôn sáng suốt thì chúng ta nên tránh các duyên xấu làm tăng cái si của ta như:
·         Tham ăn uống quá độ.
·         Tham ngủ bừa bải, không giờ giấc.
·         Rượu chè, tiệc tùng, trai gái thâu đêm suốt sáng.
·         Chạy theo các cám dỗ ngoài đời, sống xa hoa, ăn sài phung phí.
·         Không thích độc cư.
·         Thích nói chuyện, bàn chuyện thiên hạ.
·         Thích gian xảo.
·         Tâm không hân hoan, tâm thụ động, biếng nhác.
·         ….
Ở đâu có ác pháp là ở đó có tâm si, do đó mọi ý ác đều có si trong đó. Chúng ta phải ráng tu tập ly dục ly ác pháp cho sạch thì mới đủ nội lực diệt trừ tâm si này. Trước tiên phải tu tập các giới đầy đủ như ngủ giới, thập thiện, thập thất kiết sử, 100 giới đức làm người, 10 giới Đức thánh Sadi và các giới của các Thánh Tăng Ni. 
Người phá được si là người có lòng tin vào Phật pháp nghiêm túc, có lòng tin vào lý nhân quả, không sợ chết, thà bỏ thân mạng chứ không làm điều ác.

       Triền cái là màn che, làm cho ta mê mờ không thấy mình bị các ác pháp chi phối. Năm triền cái gồm Tham triền cái, Sân triền cái, hôn trầm thùy miên triền cái, trạo cử triền cái và nghi ngờ triền cái. Vậy năm màn ngăn này tác động vào ta, chi phối tâm ta làm cho ta mê mờ mà ta không biết. 
     Là màn ngăn che không cho ta biết ta có lòng tham muốn. Như người đời họ thường tham ăn uống và ăn uống phi thời. Nếu ta nói họ phải từ bỏ tâm tham ăn đi thì họ nói họ đâu có tham ăn, khi đói thì ăn, vậy không phải là tham ăn.  
     Để diệt tâm tham thì chỉ có quán bất tịnh, quán tưởng chết thì tâm tham dục sẽ không còn. Như đối với sắc dục thì quan thân bất tịnh, đối với thức ăn thì quán thức ăn bất tịnh. Đối với tài sản, vật chất thế gian thì quán tưởng chết…

     Là màn ngăn che không cho ta biết ta có sân. Bình thường không ai có sân, nhưng khi đụng chuyện thì cái sân mới lộ ra, cho nên nếu ta nói ai đó tìm cách diệt sân đi thì họ nói họ đâu có sân.
     Vì không có lòng thương mình, thương người, thương chúng sanh nên có sân. Vậy ta hãy trau dồi lòng từ cho sung mãn thì tâm sân sẽ mất.
     Là màn ngăn che không cho ta thấy ta có hôn trầm, thùy miên. Bình thường thì nó không có lộ mặt ra, nhưng thiệt ra nó ngủ ngầm bên trong. Chỉ khi nào ta sống biếng nhác, không hân hoan, ăn uống no bụng và tâm thụ động thì hôn trầm thùy miên sẽ xuất hiện.
     Trong kinh Tăng chi bộ Chương một Phẩm đoạn triền cái có đoạn sau: “Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỷ-kheo, đưa đến hôn trầm thụy miên chưa sanh không sanh khởi, hay hôn trầm thụy miên đã sanh được đoạn tận, này các Tỷ kheo, như tinh cần giới, tinh tấn giới, dõng mãnh giới. Người tinh cần tinh tấn, này các Tỷ kheo, hôn trầm thụy miên chưa sanh không sanh khởi, hay hôn trầm thụy miên đã sanh được đoạn tận”

     Là màn ngăn che không cho ta thấy ta có trạo cử. Trạo cử là hiện tượng thân và tâm tuông trào, thân thì động đậy, nhúc nhích liên tục, còn tâm thì nhớ hết chuyện này chuyện khác. Khi tâm bất an, lo lắng, sợ hãi, nhớ nhung, không an tịnh thì trạo cử sẽ lộ bộ mặt này ra. Ví dụ khi tu mà tâm nhớ người thân thì hàng loạt bao nhiêu niệm nhớ nhung trào ra như thác không ngừng nghỉ.
     Cách làm dẹp trạo cử là làm cho thân tâm an ổn lại. Trong pháp Định niệm hơi thở có hai đề mục áp dụng cho trường hợp này. Đó là câu “An tịnh thân hành” dùng để làm thân an ổn lại và câu “An tịnh tâm hành” làm cho tâm an ổn lại.

     Là màn ngăn che không cho ta thấy ta có nghi ngờ. Vì ai cũng có những kiến chấp riêng, có thế giới tưởng riêng của mình. Cho nên bất kỳ việc gì cũng nghi ngờ không tin vào ai cả. Chỉ khi nào ta có lòng tin vào ai, thì nghi ngờ sẽ mất, và ta phải thường xuyên tác ý để dẹp nghi ngờ triền cái này.

          Năm hạ phần kiết sử gồm thân kiến, nghi, giới cấm thủ, dục tham và sân. Kiết sử là sợi dây trói buộc. Năm hạ phần kiết sử là những sợi dây trói buộc phần thấp, thô, dễ thấy, hay bên ngoài. Chúng trói buộc chúng ta vào các chấp thủ thân kiến, nghi, giới cấm thủ, dục tham và sân.
     Là sợi dây trói buộc con người vào chấp cái thân là của họ. Rồi họ xem cái thân là họ, cho nên mọi việc trên đời này họ sống, làm việc, lo lắng, buồn vui cũng vì cái thân này.
     Đức Phật đã quả quyết cái thân này là thân tứ đại, là thân vô thường, là vô ngã không phải của ta, không phải là ta, không phải là tự ngã của ta. Nó chỉ là một tổ hợp 5 duyên gọi là ngủ uẩn (Sắc, thọ, tưởng, hành, thức) Khi một trong năm uẩn này hoại diệt thì cái thân sẽ tan rã.
     Muốn thấy rõ cái thân này không phải của ta thì ta phải quán vô thường. Vì khi quán vô thường thì ta sẽ thấy được sự hoại diệt của từng bộ phận, cơ quan nội tạng theo thời gian mà ta không làm gì được cả. Ta không có quyền sai bảo cái thân này, mà hoàn toàn bị nó chi phối như khi bệnh thì nó tự nhiên bệnh, lúc hết thì nó hết, ta không thể sai bảo nó hết bệnh được.
     Là lòng nghi ngờ, ngờ vực và không tin. Nghi ngờ có nghi ngờ mình, nghi ngờ người và nghi ngờ pháp.
     Khi nghi ngờ mình thì người đó không làm được việc gì cả, hay thối lui trước các khó khăn, không có lòng tin vào bản thân. Những người như vậy thì phải ở gần thiện hữu tri thức để được động viên, thúc đẩy tập làm những chuyện nhỏ trước. Có thành công những chuyện nhỏ thì nhiều chuyện nhỏ sẽ góp lại làm được chuyện lớn.
     Khi nghi ngờ người khác là vì không có niềm tin vào người đó. Những người hay nghi ngờ người khác thường chấp vào tri kiến hiểu biết của mình, cho nên bình luận đánh giá người khác qua những hiểu biết đó, làm mất đi thiện hữu tri thức mà không biết. Khi tu mà nghi ngờ Thầy thì coi như tu hành vô ích. Người không nghi ngờ người khác là người có bản ngã thấp do đó học được cái hay của người khác và có nhiều thiện hữu tri thức.
     Nghi ngờ pháp là khi gặp pháp dạy đơn giản, giản dị, giải thoát rõ ràng mà còn nghi ngờ. Ví dụ trong kinh Pháp cú có câu
“Các ác pháp chớ làm,
Chỉ làm các pháp thiện,
Tự tâm ý thanh tịnh,
Đó là lời Phật dạy”.
     Nếu ai làm theo câu này “ngăn ác diệt ác pháp, sanh trưởng tăng trưởng thiện” thì sẽ thấy giải thoát ngay.
     Người nghi ngờ pháp thì không thể nào tu tập được, dẫn đến thối chí và mất đi đường tu.
     Là những giới hành của các ngoại đạo không đưa đến giải thoát khi tu tập. Những giới đó không đúng đạo đức nhân bản nhân quả. Những giới đó đưa đến hại mình, hại người và hại chúng sanh. Ví dụ như Giới hạnh tu con bò, con chó, giới không mặc quần áo, ngâm mình dưới nước lạnh, giới tin vào thần thánh…Đó là những giới không đưa đến giải thoát mà chỉ đưa đến tự mình hủy hoại mình, sống không có đạo đức với mình, biến mình thành con thú vô tri vô giác, không hiểu biết và sống trong tưởng.
     Là lòng tham không đáy, vì lòng tham có sự trói buộc cho nên không dứt ra được, bị cột chặt vào đối tượng tham như tham của cải tài sản, đền khi chết mà vẫn còn luyến tiếc, không xã bỏ chia cho con cái, vẫn cất dấu…
     Tham phước hữu lậu cũng là một tham kiết sử. Hy vọng vào tương lai sẽ sanh ra trong gia đình giàu có, cho nên đời này họ tìm mọi cách làm phước. Ai nói làm việc gì có phước là họ xông vào không mệt mõi, không hối tiếc tài sản của mình.
     Là cơn sân giận vào ai không dứt được. Khi gặp người đó là giận ngay, dù cho họ nói điều gì đúng hay sai cũng giận, và còn nói xấu về họ, lúc đó chỉ thấy cái sai của người đó thôi. Cái giận này đã biến thành hận và thù không tha thứ được.
              Có một Bác già 70 tuổi mở một cửa hàng sửa máy nhỏ. Lúc đầu anh A thấy Bác làm một mình cho nên xin qua lại cửa hàng giúp Bác. Bác thấy thương cho nên nhận làm đệ tử dạy cho nghề sửa máy, cho cổ phần Cty 50-50, và khuyến khích anh ta học xong đại học. Sau đó họ cùng nhau mở thêm một cửa hàng nữa. Nhưng vì quá sức cho nên Bác rút lui để lại cho anh ta làm một mình. Do rút lui nên có sự chia chác tiền bạc không sòng phẳng cho nên anh ta giận Bác hoài, thường hay nói xấu Bác. Chỉ cần nghe một lời nào Bác nói anh ta cũng nghi ngờ và con thấy rằng không cách nào anh ta tha thứ cho Bác được. Đó là sân kiết sử.


Năm thượng phần kiết sử gồm sắc ái, vô sắc ái, mạn, trạo cử và vô minh.           Thượng phần ở đây được hiểu là phần cao, phần vi tế. Vậy xã bỏ những sự trói buộc này là xã bỏ những trang thái vi tế của 5 phần trên.
     Là những thương nhớ những hình ảnh trong hiện tại lảng vảng xung quanh ta. Như trước cảnh thấy Cha Mẹ già yếu bệnh hoạn hay cực nhọc. Chúng ta khởi niềm thương và bị dính chặt vào đó không nỡ lìa xa.
     Là không hình sắc. Khi ngồi tu trong cốc mà khởi nghĩ đến cha Mẹ hiện giờ đang cô đơn một mình, không ai chăm sóc. Rồi sanh ra lòng thương yêu, cảm xúc mạnh bật ra thành tiếng khóc. Sau đó thì chỉ muốn về bên Cha Mẹ để làm giảm đi cảnh lẻ loi đó.
     Cả hai tâm sắc ái và vô sắc ái đều là tâm ác ràng buộc con người với nhau, đó là nguyên nhân của sanh tử luân hồi. Nếu một người muốn thoát ra khỏi luân hồi thì phải biến tình thương yêu nhỏ mọn này cho tất cả mọi chúng sanh. Vì còn sống bên cạnh những người thân là ta còn cảm thấy đau khổ, và người thân đau khổ ta cũng không giúp ích gì được. Chỉ khi ta quyết chí tu hành giúp ta giải thoát khỏi đau khổ, rồi giúp cho mọi người thoát khổ trong đó có gia đình của ta thì ta đã sống đúng đạo đức nhân bản.
     Ở đây tại sao gọi là tình thương ích kỷ, vì ta chỉ có cảm xúc thương yêu Cha Mẹ mình thôi. Thiệt ra nếu không ích kỷ thì ta thử nghĩ xem hiện tại có bao nhiêu người trên thế gian này đau khổ giống như Cha Mẹ ta và còn đau khổ hơn nữa. Nhiều nhiều lắm mà ta không khởi lòng thương thì khác gì lòng thương của ta hiện tại là ích kỷ chứ còn gì nữa.
     Nếu biết thương mình thương người thì cố gắng tu tập. Nghĩa là ta đi tu là ta đang thương yêu mọi người. Vậy thì tại sao ta còn dính mặc vào những kiết sử này làm gì. Chúng nó là những tâm lý luận ác, ta phải đuổi chúng đi “Ái kiết sử là ác, hãy cút đi. Ngươi là tình thương ích kỷ. Nay ta đã biết có một tình thương bao la rộng lớn rồi thì nhà ngươi hãy cút đi. Ta đang tu là ta đang thương mọi người rồi thì cần gì phải đi đâu nữa.”
     Mạn là so sánh. Khi có sự so sánh thì có ngã. Có chấp vào một cái mạn nào đó thì ta bị trói buộc vào đó. Mạn thì gồm có
·         Mạn : nghĩ mình hơn người. Mỗi người có một tài riêng chuyên về các lảnh vực khác nhau. Cho nên có phần thì ta giỏi hơn người, có phần thì người giỏi hơn mình. Người không mạn thì nên biết học hỏi những cái hay của người khác. Người đó hiểu rằng những hiểu biết hiện nay đang có là từ học hỏi, vay mượn từ sách vở hay của người khác và bất kỳ ai cũng vậy. Cho nên đừng bao giờ nghĩ mình hơn người, rồi khinh thường họ. Người không mạn thì sẵn sàng chia sẽ những gì mình biết, không dấu, không cho những hiểu biết đó là cao siêu. Mọi người đầu bình đẳng nhau.
·         Ngã mạn: Ỷ mình giỏi hơn người mà lấn lướt người khác. Những người này bị người đời tránh xa, vì sống quá kiêu căng, tự cao, xem thường người khác. Thường họ ỷ mình có tiền, có danh, có tài sản, có hiểu biết nhiều, có bằng cấp cao mà không coi ai ra gì cả. Những người như vậy có tài mà không có đức thì chỉ là đồ bỏ thôi.
·         Quá mạn: Mình bằng người mà cho là hơn người, người hơn mình mà cho là bằng. Những người này không bao giờ chịu thua người khác. Thường hay lý luận hơn thua, tìm cái sai của người khác, bắt bẻ, châm biếm, không biết nhường nhịn cho ai cả. Họ không bao giờ biết nhận cái sai của mình. Biết có những người như vậy thì tránh xa, ở gần chỉ thêm phiền phức, vì họ không bao giờ biết tôn trọng ai cả. 
·         Mạn quá mạn: người hơn mình nhiều mà cho mình hơn người. Những người này sống cô đơn vì không có bạn nào gần được.
·         Tăng thượng mạn: chưa chứng thánh quả mà cho mình đã chứng.
·         Ty liệt mạn: mình thua người nhiều mà nói mình thua ít.
·         Tà mạn: người tu tập về tà mạn được chút thần thông biết đôi chút về quá khứ, vị lại rồi khinh lướt người khác xem trời đất không còn ai cả.
          Muốn dẹp tâm ngã mạn thì phải biết xã bỏ những thứ gây ra tâm ngã mạn như tiền tài, vật chất, danh, sắc, hiểu biết, bằng cấp…Sống chỉ biết tùy thuận vào lời nói, ý kiến, yêu cầu và việc làm của người khác. Sống biết tôn trọng mọi người không phân biệt ai cả dù già hay trẻ, trai hay gái, có học hay không học, ông chủ hay đầy tớ, giàu hay nghèo, tôn giáo hay không tôn giáo, không phân biệt màu da, dân tộc…
     Là những trói buộc tâm vào những phiền não do thân tâm sanh ra trạo cử. Về thân thì bệnh dai dẳng, các hành tưởng tuôn trào quậy phá liên tục. Về tâm thì do chưa xã tâm được rốt ráo, chưa quán sâu cho nên các niệm đó cứ lập đi lập lại tuôn trào hoài. Do đó ta phải tập xã từng cái một cho sạch, rồi hả tu tới cái khác, đừng tham tu mà không xã tâm được dâm chân tại chổ, mất thời gian.
     Trong lớp chánh kiến con thấy Thầy nói với các tu sinh khi chưa diệt hết bệnh thì ở lại lớp, vì có lên lớp thì cũng không tu được.
     Những ai mà bị ái kiết sử tấn công triền miên thì Thầy nói phải quán đi quán lại kể cả ngàn lần đến khi nào đuổi sạch thì thôi.
Đó là những hiện tượng của trạo cử kiết sử.
     Là những trói buộc tâm vào các trạng thái của buồn ngủ như hôn trầm thùy miên, hôn tịch, vô ký và ngoan không. Khi bị trói buộc vào các trạng thái này thì tâm mê mờ, không sáng suốt, dã dượi làm biếng, tham ngủ nhiều, tâm thụ động.
     Để thoát ra các trạng thái này thì phải giữ gìn giới luật nghiêm chỉnh, tinh cần, tinh tấn tu tập, kiên trì chiến đấu với giặc ngủ.


          Thất kiết sử gồm ái kiết sử, sân kiết sử, kiến kiết sử, nghi kiết sử, mạn kiết sử, hữu tham kiết sử và vô minh kiết sử.
          Ở đây chỉ nói thêm về phần kiến kiết sử, còn những phần khác thì đã nằm trong năm hạ phần và năm thượng phần kiết sử được nói ở trên.

          Là sự chấp chặt vào kiến thức hay hiểu biết, có ba trường hợp.
·                     Kiến thủ vì ảnh hưởng tư tưởng của người khác. Đó là khi học hiểu những lý luận của người khác hay của sách báo, rồi chắp vào đó là có thật và tin vào nó. Như lúc xưa khi con đọc các sách về tử vi, bói toán, phong thủy thì tin vào đó là có thật, rồi đi nói với người này người kia về số mạng, nhà cửa của họ. Chính vì vậy mà làm hại bao nhiêu người. Sau này mới biết rõ ra là những sách đó không có căn cứ, chỉ là ảo tưởng thôi.
·                     Kiến thủ vì không ý thức được sai lầm của mình. Sự hiểu biết của mình còn nông cạn mà cứ cho là mình biết tất cả rồi suy luận rằng mọi việc là thường còn, mình nghĩ gì đều đúng không sai. Luôn bảo thủ ý kiến của mình, xem mình là giỏi, không biết nghe ý kiến của ai cả và khinh thường ý kiến của người khác. 
          Dưới con mắt của con lúc xưa thì là như vậy chỉ biết rằng mọi việc là thường hằng không thay đổi cho nên làm việc gì cũng thất bại, mà ngã mạn thì lớn dần chứ không biết mình sai.  Sau này khi đọc được sách Phật mới hiểu ra nguyên nhân của bao thất bại đó là do cái ngã và không hiểu được luật vô thường của vạn vật.
·                     Kiến thủ vì tự ái hay vì ngoan cố cứng đầu. Biết mình sai mà cố tình không nhận là mình sai, do tự ái mà cứng đầu, cố chấp, không biết xấu hổ sửa sai, xin sám hối, không chịu từ bỏ hay xa lìa. Những người này thường là những người già lớn tuổi bị ảnh hưởng của phong tục tập quán cổ hủ, mê tính mà không thấy cái sai, không chịu bỏ xuống, không chịu học hỏi những cái hay, những cái thực tế. Như khi có người nhà bị bệnh thì rước các thầy bùa về đuổi tà đuổi ma, không nghe lời người khác chở đi bác sĩ hay bệnh viện.

          Bài này được trích ra từ Kinh Tăng Chi Bộ  chương X phẩm Tâm hoang vu.
“Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào tâm hoang vu đã đoạn tân, năm tâm triền phược đã cắt đứt, với vị ấy, đêm đến hay ngày đến, chờ đợi là sự lớn mạnh trong các thiện pháp, không phải là tổn giảm. Thế nào là năm tâm hoang vu đã được đoạn tận?
1.     Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo nào không nghi ngờ bậc Ðạo Sư, không do dự, quyết đoán, tịnh tín, thời tâm vị ấy hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai hướng về nhiệt tâm, chuyên chú kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang thứ nhất đã được đoạn tận.
2.     Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không nghi ngờ Pháp, ... là tâm hoang thứ hai đã được đoạn tận.
3.     Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không nghi ngờ Tăng, ... là tâm hoang thứ ba đã được đoạn tận.
4.     Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không nghi ngờ Học Pháp, ... là tâm hoang vu thứ tư đã được đoạn tận.
5.     Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không phẫn nộ đối với các vị đồng Phạm hạnh, hoan hỷ, tâm tư không chống đối, không cứng rắn, thời tâm vị ấy hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ năm đã được đoạn tận. Như vậy là năm tâm hoang vu đã được đoạn tận.
Thế nào là năm tâm triền phược đã được cắt đứt?
1.      Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo đối với những dục, không có tham ái, không có luyến ái, không có khát ái, không có nhiệt não, thời tâm vị ấy hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm triền phược thứ nhất đã được cắt đứt.
2.      Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đối với tự thân, không có tham ái, ... như vậy là tâm triền phược thứ hai đã được cắt đứt.
3.     Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đối với các sắc pháp, không có tham ái, ... như vậy là tâm triền phược thứ ba đã được cắt đứt.
4.     Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không ăn cho đến thỏa thuê, cho đến bụng chứa đầy, không thiên nặng về khoái lạc sàng tọa, khoái lạc ngủ nghỉ, khoái lạc thụy miên, không có tham ái,  ... như vậy là tâm triền phược thứ tư đã được cắt đứt.
5.     Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào sống Phạm hạnh, không mong cầu được sanh Thiên giới với ý nghĩ: "Ta với giới này, với hạnh này, với khổ hạnh này, hay với Phạm hạnh này, sẽ được sanh làm chư Thiên này hay chư Thiên khác", thời tâm vị ấy hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm triền phược thứ năm đã được cắt đứt.
Như vậy là năm tâm triền phược đã được cắt đứt.
          Này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào năm tâm hoang vu chưa đoạn tận, năm tâm triền phược chưa được cắt đứt, với vị ấy, đêm đến hay ngày đến, chờ đợi là tổn giảm trong các thiện pháp, không phải là tăng trưởng.”
          Đó là những lời sách tấn của Đức Phật về điều kiện cần và đủ cho việc tu hành của chúng ta.

          Tứ Diệu Đế gồm có bốn chân lý là Khổ Tập Diệt Đạo. Nói đến xã thì hai chân lý đầu giúp cho chúng ta thấy rõ cuộc đời này là khổ và nguyên nhân của cái khổ để chúng ta xa lìa, từ bỏ, khinh thường, thấy nguy hiểm và nhàm chán những cái tạm bợ của cuộc sống này. Từ đó đi tìm trạng thái giải thoát là Diệt đế bằng con đường Bát Chánh Đạo là Đạo Đế.
     Là chân lý nói về cái khổ của con người. Khổ là khổ thật chứ không phải giả. Khổ như thế nào? Khi chúng ta bị lừa đảo thì chúng ta thấy rất đau khổ. Cũng vậy cuộc sống mà ta đang sống tất cả đều là giả dối, không có gì là thật cả. Những cái hạnh phúc, những cuộc vui chơi chỉ là tạm bợ, mỏng manh trong chốc lát. Sau đó để lại các hậu quả đau khổ mà thôi. Không có cái gì trên thế gian là bền, là thường còn, tất cả đều hoại diệt. Ai cũng muốn bảo vệ những cái tốt đẹp, nhưng không ai có thể bảo tồn nó được. Tất cả đều trượt khỏi bàn tay chúng ta và để lại bao thất vọng, ưu phiền và chán nãn.
     Nhờ tu hành chứng đạo cho nên Đức Phật mới thấy rõ cuộc sống này là khổ và nói lên chân lý khổ cho con người thấy rõ. Theo Đức Phật thì có ba loai khổ: Khổ khổ, hoai khổ và hành khổ.
( Phần sau này con copy từ sách Đường về xứ phật tập 2 bộ mới)

Tóm lại do thông hiểu rõ sự thật về cuộc đời này qua hai chân lý đầu của Tứ Diệu Đế mà ta có chánh tri kiến tổng quát như thật về nhân sinh quan. Từ đó cảm thấy tâm đã xã bỏ được nhiều ác pháp. Đây là những chân lý bất hữu không bao giờ thay đổi dù cho thời gian có thay đổi.
Để thấm nhuần những chân lý này thì hằng ngày chúng ta tư duy về nó để thấy rõ thêm về cuộc đời này, thì tâm ta sẽ thấy được sự nguy hiểm và sanh ra nhàm chán cuộc sống này. Lúc đó chỉ mong thoát nó thôi. Càng tư duy về nó nhiều thì tâm ta cũng khởi lên niềm thương xót chúng sanh đang lặn hụp trong biển khổ này.

7.  Xã tâm trong thập nhị nhân duyên: ( phần này có thể xem trong Đường về xứ Phật tập 1, trang 143)
 

8.   Xả tâm về năm thủ uẩn:
          Năm ngũ uẩn gồm có : Sắc ngũ uẩn, Thọ ngũ uẩn, Tưởng ngũ uẩn,  Hành ngũ uẩn và Thức ngũ uẩn. Trong năm phần này thì chỉ có sắc uẩn là phần vật chất, còn bốn phần còn lại thuộc về phi vật chất hay là vô hình.
          Để tu tập tâm xã trên thân ngũ uẩn chúng ta phải quán xét các ngũ uẩn này sao cho thấu suốt lý “Cái này không phải là ta, không phải của ta và không phải là tự ngã của ta”. Có như vậy thì ta không chấp vào cái thân này nữa và không còn bị làm nô lệ cho nó khi nó khởi lòng ham muốn bất kỳ cái gì hay vì ai mà nó giận, vì ai mà sanh ra bản ngã, ngã của ai…
Là thân tứ đại do 4 duyên hợp thành như đất, nước ,gió, lửa.
          Đối với đất chúng ta hãy nghe lời Phật dạy ‘Này La Hầu La cái gì thuộc về nội thân, thuộc về cá nhân, kiên cứng thô phù, bị chấp thủ như tóc, lông, móng, răng, da thịt, gân, xương, tuỷ, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, ruột, màng ruột, bao tử, phân và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân như vậy, này La Hầu La được gọi là nội địa giới, những gì thuộc nội địa giới và những gì thuộc địa ngoại giới đều thuộc về địa giới. Địa giới ấy phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ như sau: ‘Cái này không phải là của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải là tự ngã của ta’, sau khi thật quán sát địa giới với chánh trí tuệ như vậy thì con sẽ sanh yểm ly đối với địa giới, tâm từ bỏ địa giới’.

          Đối với nước chúng ta hãy nghe Đức Phật dạy La Hầu La: ‘Này La Hầu La, thế nào là thủy giới? Có nội thủy giới, có ngoại thủy giới. Và này La Hầu La thế nào là nội thủy giới? Cái gì thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước thuộc chất lỏng, bị chấp thủ như: Mật, đàm, niêm dịch, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp xương, nước tiểu và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ như vậy”, này La Hầu La, được gọi là thủy giới. Những gì thuộc nội thủy giới. Và những gì thuộc ngoại thủy đều thuộc về thủy giới, thủy giới ấy phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ như sau. ‘Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải tự ngã của ta’. Sau khi như thật quan sát thủy giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sinh yểm ly đối với thủy giới, tâm từ bỏ thủy giới’.

          Đối với gió chúng ta hãy lắng nghe Đức Phật dạy La Hầu La: ‘Này La Hầu La, thế nào là phong giới? Có nội phong giới, có ngoại phong giới. Và này La Hầu La, thế nào là nội phong giới? Cái gì thuộc về nội thân thuộc về cá nhân, thuộc gió, thuộc tánh động, bị chấp thủ như gió thổi lên, gió thổi xuống, gió trong ruột, gió trong bụng dưới, gió thổi ngang các đốt  khớp xương, hơi thở vô, hơi thở ra, và bất cứ một vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc tánh động, bị chấp thủ” này La Hầu La như vậy được gọi là nội phong giới. Những gì thuộc về nội phong giới, và những gì thuộc về ngoại phong giới đều thuộc về phong giới. Phong giới ấy phải được quan sát như thật với chánh trí tuệ như sau: “Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải bản ngã của ta.” Sau khi như thật quán sát phong giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly, đối với phong giới, tâm từ bỏ phong giới’ .

          Đối với lửa chúng ta hãy lắng nghe lời dạy của Đức Phật: “Này La Hầu La, thế nào là hoả giới? Có nội hỏa giới, có ngoại hỏa giới. Này La Hầu La, thế nào là nội hỏa giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc về cá nhân, thuộc về lửa, thuộc về chất nóng, bị chấp thủ như cái gì khiến cho tâm nóng, khiến cho hủy hoại, khiến cho thiêu cháy, cái gì khiến cho những vật được ăn, uống, nhai nuốt, nếm có thể tiêu hóa hay những vật gì khác làm ra sức nóng nhiệt lượng, nhiệt độ, v.v... Này La Hầu La, như vậy được gọi là nội hỏa giới. Những gì thuộc về nội hỏa giới, những gì thuộc về ngoại hỏa giới đều thuộc về hỏa giới. Hỏa giới ấy được quan sát như thật với chánh trí tuệ như sau: ‘Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải tự ngã của ta’. Sau khi như thật quan sát hỏa giới với chánh trí tuệ như vậy vị ấy sanh yểm ly đối với hỏa giới, tâm từ bỏ hỏa giới’

Vậy chúng ta phải quán như thế nào để thấy là vô thường. Vô thường là thay đổi, tự chúng thay đổi theo thời gian từng giây hay từng sát na. Sự thay đổi đó chúng ta không ngăn cản được và chúng ta không thể bắt chúng không thay đổi mà bất lực trước sự thay đổi đó. Như da thì lúc còn nhỏ thì mềm mại và trong suốt, lúc trẻ thì dày lên và đục hơn, đến già thì mỏng dần, khô và nhăn nheo. Sự biến đổi này không phải do ta làm, vậy thì da đâu phải là của ta, đâu phải là ta và đâu phải là tự ngã của ta. Thấy rõ như vậy với từng bộ phận trong cái thân sắc này thì chúng ta có thể kết luận rằng “Sắc uẩn này không phải là của ta, đâu phải là ta và đâu phải là tự ngã của ta.” Đó cũng là một câu tác ý nhắc tâm tuyệt vời để giúp chúng ta yểm ly và từ bỏ các ác pháp.

Gồm có ba thọ là thọ khổ, thọ lạc và thọ bất lạc bất khổ. Thọ gồm có hai phần, một thuộc về thân và hai thuộc về tâm.
Về thân thọ khổ thì là đau nhức, ngứa, cảm giác khó chịu. Về tâm thọ khổ thì cảm giác đau buồn, khổ não, chán nãn…
Thân thọ lạc là cảm giác thân an lạc, còn tâm thọ lạc thì có cảm giác sung sướng hay thích thú.
Thọ bất lạc và bất khổ là không sướng mà cũng không khổ.
Khi bị thọ khổ làm cho ta khó chịu, khổ sở vô cùng mà không làm được gì. Chúng ta nên quán xét các thọ này do đâu mà có? Có thọ khổ là do sắc uẩn hành ác cho nên thân phải chịu khổ và bệnh tật. Sắc hành ác từ ba nơi thân khẩu ý. Do đó ta phải xét nhân quả của ba nơi này để thấy rõ mà tránh không làm ác, nói ác và suy nghĩ ác nữa.
Có tư duy như vậy thì tâm ta yên ổn đã xã được các cảm thọ này.
Khi thân và tâm không làm ác thì không có ba thọ này, lúc đó thân tâm thanh thản an lạc và vô sự.
Ngoài ra ta cần phải thấy như thật các cảm thọ này không phải là của ta, là ta là tự ngã của ta. Tại sao? Thí dụ các cảm thọ này tự sanh khởi, không do ta tạo ra. Khi có thọ ta kêu nó mất đi, nó không mất, như khi bệnh có ta phải uống thuốc chứ đâu có kêu nó biến mất được. Các thọ khổ nay lúc này đau nhẹ, một lát thì nặng, rồi không biết lúc nào tự biến mất, vậy “Các thọ là vô thường và không phải là ta, không phải của ta và không phải là tự ngã của ta.” Do đó khi có thọ khổ ta không cần phải sợ, nó hết hay không hết ta mặc kệ. Còn các thọ lạc, hay thọ bất lạc bất khổ thì là vô thường, vậy thì tham đắm vào chúng nó làm gì, ta tác ý xã luôn. Câu trên có thể dùng nhắc tâm khi các cảm thọ xuất hiện.

          Là tâm uẩn, nó thường khởi niệm tưởng. Niệm tưởng có ba trạng thái như niệm thiện, niệm ác và niệm không. Khi niệm có thì tâm có, khi không niệm tức là tâm không, tâm không không có nghĩa là không có tâm.
          Do mỗi người huân tập các dục, ác pháp và các hiểu biết tri kiến khác nhau cho nên mỗi người có thế giới tưởng riêng. Mỗi mỗi suy nghĩ đều lấy ra từ thế giới tưởng này và chấp vào đó là thật, là ta, là của ta, là tự ngã của ta. Chính vì vậy mà muôn đau khổ xuất hiện từ đây. Đức Phật dạy rằng mọi suy niệm đều phải khéo quán xét không phải là ta, là của ta và là tự ngã của ta, từ đó tâm sẽ không chạy theo các suy tưởng đó. Do đó sẽ ly dục ly ác pháp.
          Các suy tưởng này là vô thường, lúc khởi niệm này, lúc khởi niệm khác, tâm tánh con người lúc thích cái này, lát sau lại ghét, lúc quyết định làm cái này, sau lại thôi không làm nữa. Có lúc nó nhớ chuyện quá khứ, có lúc nó ước vọng tương lại. Cho nên các tưởng là vô thường. Do là vô thường thì nó không phải là ta, là của ta, là tự ngã của ta.
          Tưởng có tưởng dục, tưởng ác pháp, tưởng về quá khứ, vi lại và 18 trạng thái tưởng xuất hiện khi diệt tầm tứ.
          Các trạng thái tưởng như tưởng dục, tưởng ác pháp, tưởng về quá khứ, vị lại chúng ta phải ly ngay từ giai đoạn đầu để nhập vào sơ thiền, gọi tắt là ly dục lý ác pháp nhập sơ thiền.
          Sau đó đến giai đoạn tam thiền, ta phải ly hỹ trú xã, nghĩa là ly tiếp 18 trạng thái tưởng nhập tam thiền.
          Đến giai đoạn tứ thiền chúng ta phải xã bỏ tất cả các thọ lạc, thọ khổ, thọ bất lạc bất khổ của sắc uẩn và tưởng uẩn nhập tứ thiền. Có như vậy thì ta mới đẩy lui hết các chướng ngại trong tâm.
          Khi có niệm khởi lên chạy theo dục hay ác pháp chúng ta hãy tác ý ngay câu sau “Các suy tưởng này là vô thường, không phải là ta, không là của ta, không phải là tự ngã của ta.” Các suy tưởng đó sẽ mất.

          Hành là hoạt động, sự hoạt động của hành uẩn trên ba nơi là sắc uẩn, tưởng uẩn và thọ uẩn cho nên có tên là hành sắc, hành tưởng và hành thọ.
          Hành sắc thì lúc làm thiện lúc làm ác, lúc nói điều thiện, lúc nói điều ác, lúc suy nghĩ điều thiện lúc suy nghĩ điều ác, lúc đi, lúc đứng, lúc nằm, lúc ngồi. Cho nên hành sắc là vô thường. Do làm nhiều điều ác thiện như vậy mà con người luôn sống trong đau khổ cho nên các hành đều khổ.
          Hành tưởng là sự hoạt động của các trạng thái tưởng trên thân và tâm làm ảnh hưởng đến đường tu của người tu, mạnh có thể làm cho người đó điên loạn. Các hành tưởng làm việc khi ý thức ngừng. Thí dụ ngồi tự nhiên thì hàm răng đưa qua đưa lại, miệng méo lên, hai chân quạt lên quạt xuống, đầu thì lắc qua lại hay xuay tròn… Khi gặp các trạng thái này thì chúng ta phải xã bỏ không chấp nhận những hành đó và tác ý ngay Tưởng là vô thường, các hành tưởng này hãy cút điNghĩa là chúng ta không chấp nhận các lạc thọ hay có cảm giác thích khi các hành tưởng này hoạt động, mà phải thấy chúng nó như thuốc độc, như mũi tên độc, như ổ bệnh để xa lìa chúng mà không chạy theo. 
          Hành thọ là các hoạt động của các thọ. Khi bị đau đầu thì chúng ta nhắc “Thọ là vô thường, cái đau trên đầu hãy lui đi”. Đó là chúng ta dùng pháp để đẩy lui các bệnh trên thân.
          Vì các hành lúc có lúc không, lúc hoạt động lúc ngưng, lúc nhẹ lúc nặng cho nên hành là vô thường. Cái gì là vô thường thì không phải là ta, là của ta, là tự ngã của ta. Chúng ta hãy tác ý thường xuyên câu này để giữ tâm bất động trước các hành.
          Có khi ngồi tu các niệm khởi lên về các hành động ác trong quá khứ, dẫn đến hối hận hay trạo cử. Chúng ta cũng có thể quán xem chúng là thuộc hành. Do đó tác ý ngay câu trên để xã bỏ nó. Và quyết tâm từ đây về sau không làm các hành ác này nữa.

e.     Thức uẩn. ( phần này trích ra từ Đường về xứ Phật tập 2 bộ mới)
Trong bốn uẩn đầu chúng ta đã học xong và cũng biết cách tu tập, rèn luyện mỗi uẩn bằng giới luật và bằng thiền định. Như vậy chúng ta đã rõ, giới luật giúp chúng ta tu tập nhập Thiền Thứ Nhất hay nói cách khác là giới luật giúp chúng ta tu tập làm cho thanh tịnh sáu thức: Mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý thức, tức là giúp sắc uẩn và hành uẩn của chúng ta thanh tịnh.
Còn ba Thiền kia là: Nhị Thiền, Tam Thiền và Tứ Thiền được tu tập, được rèn luyện giúp tưởng uẩn và thọ uẩn của chúng ta thanh tịnh.
Thức uẩn là một uẩn cuối cùng được tu tập. Khi bốn uẩn kia đã thanh tịnh thì chúng ta phải dùng pháp hướng đánh thức thức uẩn để triển khai trí tuệ Tam Minh; thức uẩn thanh tịnh có nghĩa là mầm mống lậu hoặc đã được quét sạch.
Tóm lại, thân ngũ uẩn phải được tu tập rèn luyện đúng pháp Giới, Định, Tuệ thì mới thanh tịnh, bằng tu hành sai pháp, thì chính là nuôi dưỡng thân ngũ uẩn trong các ác pháp thuộc về tà giáo ngoại đạo thì đó một sự nguy cơ cho loài người trên hành tinh này không ít.

Căn gồm có sáu: Mắt, tại, mũi, miệng, thân, ý. Qua sáu cổng này các ác pháp lọt vào và xâm chiếm tâm, làm tâm chạy theo các pháp bên ngoài, làm khởi lên ham muốn hay xuất hiện các ác pháp.
          Ví dụ khi mắt thấy cái bánh thì trong tâm khởi lên muốn ăn cái bánh, rồi ta đi mua và ăn cái bánh. Đó là ta đã bị tham ăn.
          Khi nghe tiếng nhạc thì khởi tâm vui thích, muốn sưu tầm bài nhạc đó, cho nên tìm cách có cho bằng được. 
Do vậy ta phải biết phòng hộ các căn này. Vậy chúng ta phòng hộ như thế nào?
a.     Phòng hộ mắt.
Phải giữ gìn hạnh độc cư. Khi ra ngoài thì phải nhắc mắt nhìn xuống đất hay bước chân. Có như vậy thì không bị dính đến sắc bên ngoài.
b.     Phòng hộ tai
Ở trong thất cũng như ở ngoài chúng ta đều phải phòng hộ tai, nhắc nhĩ thức phải nghe vào trong thân như hơi thở hay bước chân đi. Nếu không thì tâm sẽ phóng dật theo âm thanh.
c.      Phòng hộ mũi.
Khi mũi nghe bất kỳ mùi hương nào dù thơm hay thúi thì phải tác ý mũi phải nghe vào trong thân, không được nghe ra ngoài. Thơm hay thúi chỉ là ảo giác thôi, tâm phải giữ bất động trước mọi mùi.
d.     Phòng hộ miệng.
Phòng hộ miệng gồm có hai phần : ăn và nói.
·         Về ăn thì không được ăn thịt chúng sanh, ăn uống không phi thời, ăn một ngày một bữa, đúng giờ giấc, không ăn linh tinh. Khi ăn phải biết quán thức ăn bất tịnh, chứ không phải ham thích ăn ngon là sai. Khi ăn phải có oai nghi của ăn là khi đang ăn không được nói chuyện. Ăn để sống, sống để tu, có sức khỏe tu tập những pháp môn cần thiết để đưa đến giải thoát, để phòng hộ 6 căn, để làm chủ sự sống chết, làm chủ Sanh lão bệnh tử. Ăn để sống, sống phải có ích cho đời không làm khổ mình khổ người và khổ chúng sanh, mà ngược lại phải biết yêu thương tất cả.
·         Về nói. Chúng ta phải giữ lời nói không nói dối, nói lời thêm bớt, nói lời nói lật lọng, nói lời nói hung dữ, nạt nộ, mắng chửi, chỉ trích, mĩa mai, chê bai, nói xấu, nói lời nói tục tĩu, nói lời thề độc, không xưng hô tao, mày, thằng, nó, không vu oan giá họa cho người khác, không nói chuyện cười đùa, giễu cợt đâm chọc chổ này chổ kia làm cho người khác tức giận, không nói to tiếng, la hét.
              Tóm lại chúng ta phải giữ gìn lời nói nhẹ nhàng, ôn tồn, hiền hòa, nhã nhặn, từ tốn, hòa giải, không gây chia rẽ, đầy lòng thương yêu và làm cho mình vui, người khác vui.
     Hạnh độc cư là hạnh để phòng hộ miệng tuyệt vời nhất.
e.     Phòng hộ thân.
     Gồm có 2 phần: hộ trì hành động của thân và hộ trì thân không cho các ác pháp bên ngoài tác động vào.
Ø      Hộ trì hành động của thân gồm có.
·         Không cho thân làm ác như giết chúng sanh, trộm cắp, tà dâm dâm dục, và các nghề ác…
·         Ý thức phải điều khiển thân hành xem có phạm giới hay không?
·         Mỗi thân hành phải được ý thức kiểm duyệt. Trước khi làm việc gì phải tư duy xem việc này có làm khổ mình, khổ người hay khổ chúng sanh hay không. Nếu có thì nhất quyết không làm.
Ø      Hộ trì thân không cho các ác pháp bên ngoài tác động vào gồm có.
·         Ngừa bệnh không cho các ác pháp bên ngoài như muỗi, rắn, bò cạp, thú dữ cắn, không tiếp xúc với các môi trường dơ bẫn dễ lây bệnh, hay tránh tiếp xúc với người bệnh (lao, phong, cùi…), nắng, mưa, gió, bão…
·         Đẩy lùi các bệnh trên thân bằng các pháp Định niệm hơi thở, tứ niệm xứ hay thân hành niệm. Có làm chủ được bệnh là điều hạnh phúc nhất.
·         Tìm mọi cách giúp cho thân tâm thanh tịnh, vô sự theo pháp môn Định niệm hơi thở và tứ niệm xứ.
·         Bằng phương pháp tứ niệm xứ giúp cho thân sung mãn dồi dào sức lực.
·         Bằng phương pháp Thân hành niệm giúp cho thân tâm sanh 7 giác chi.

f.       Phòng hộ ý.
     Phòng hộ ý căn gồm có ba phần:
·               Sử dụng tri kiến là dùng pháp môn quán vô lậu. Khi có bất kỳ niệm khởi lên thì quán xét ngay để đập ngay ý khởi trong tâm.
·         Dùng phương pháp như lý tác ý. Thường xuyên nhắc tâm để tỉnh giác đề phòng các ác pháp như câu “Tâm như đất, ly tham, sân, si, mạn, nghi cho hết sạch.” Hay câu “Tâm như đấy, ly dục, ly ác pháp, ly tưởng cho hết sạch.”
·         Sử dụng giới luật. Thông suốt các giời luật của Phật dạy để làm hàng rào ngăn cản không cho ác pháp xâm chiếm tâm. Vì dụ khi khởi muốn ăn uống thì ta quán xét thấy rơi vào phạm giới ăn uống phi thời thì ta ngưng ngay và không cho ăn. Giới luật giúp cho chúng ta “Ngăn ác, diệt ác pháp. Sanh thiện, tăng trưởng thiện.”
Tóm lại nếu ta tu tập pháp phòng hộ sáu căn nghiêm chỉnh thì thân tâm sẽ xã bỏ rất nhiều ác pháp, làm cho thân tâm thanh tịnh rất nhiều, giúp cho tâm quay vào trong thân, làm sanh khởi bảy giác chi. Và nhờ có bảy giác chi mà chúng ta nhập các thiền định, tiến tới làm chủ sanh già bệnh chết và đạt được giải thoát.


Kết luận

Nhờ bài pháp Tứ Diệu Đế của Đức Phật mà chúng ta ngày nay mới hiểu rõ cuộc đời của chúng sanh quá là khổ. Cái khổ đó là do lòng ham muốn mà ra. Có xã bỏ sự ham muốn đó thì giải thoát ngay liền. Nhưng đâu ai chỉ có một hay vài ham muốn. Ai ai cũng chất đống những ham muốn của mình, do đó việc từ bỏ những ham muốn đó đòi hỏi cả một quá trình xã tâm theo trình tự thứ lớp từ thô đến vi tế.
Bài xã tâm này nói được phần nào con đường xã tâm theo những lời dạy của Đức Phật trong 49 năm giảng dạy. Đây chỉ là bài xã tâm của con, được ghi chép theo sự hiểu biết của con. Còn cụ thể áp dụng đối với từng người thì phải có thiện hữu tri thức kế bên để tùy theo đặc tướng của từng người mà có sự chỉ dạy cặn kẽ hơn.
Xã tâm là phương pháp rốt ráo giúp hành giả xã bỏ mọi dính mắc trong cuộc đời này. Các dính mắc này đem đến sự khổ đau cho chúng ta, cho người khác và cho chúng sanh. Hiểu rõ nó thì chúng ta buông xuống tất cả không còn chấp vào nó là của mình nữa hay chấp vào những cái phục vụ cho cái ngã này nữa. Có như vậy thì chúng ta buông xuống mới trọn vẹn, không còn một hạt bụi nào. Giống như lời Phật dạy “Nếu còn một hạt cát nào trong móng tay ta, thì pháp ta không ra đời” Cũng vậy nếu chúng ta xã bỏ mọi pháp mà không hết, nghĩa là còn một hạt cát trong móng tay thì pháp xã này cũng sẽ không mang đến kết quả rốt ráo được. Vậy đối với những ai có duyên với pháp xã tâm này thì hãy
Buông xuống đi, buông xuống đi.
Chớ giữ làm chi có ích gì.
Thở ra chẳng lại còn chi nữa.
Vạn pháp vô thường buông xuống đi.


---- Hết ----