Sunday, 23 May 2010

Bài Chánh Kiến # 15: Quán Tâm Hỷ

(Mỗi người sẽ có tri kiến khác nhau cho nên bài này chỉ là để tham khảo)
Nội Dung
Giới thiệu.
I.    Hỹ tâm vô lượng dục lậu.
1.      Hỹ về vật chất:
2.      Hỹ do thấy người khác thành công.
3.      Hỹ trong gia đình giữa những người thân.
4.      Hỹ khi làm từ thiện:
5.      Hỹ về tinh thần:
6.      Hỹ với các loài động vật.
7.      Hỹ đối với cây thảo mộc.
8.      Hỹ với ác pháp của mình.
9.      Hỹ với việc làm ác của người khác.
10.    Hoan hỷ với người khác trong thiện pháp và ác pháp.
II.      Hỹ tâm vô lượng giải thoát.
1.      Hỹ ly tham ly ác pháp.
2.      Hỹ đối với chướng ngại pháp trong tâm.
3.      Hỹ trước những lời khen tặng.
4.      Hỹ do gặp được chánh pháp của Phật.
5.      Hỹ do thấy người và người biết sống có đạo đức với nhau.
6.      Hỹ do quán nhân quả:
7.      Hỹ do quán vô thường.
8.      Hỹ do quán thân vô ngã.
9.      Hỹ do quán thân bất tịnh:
10.    Hỹ do quán thức ăn bất tịnh.
11.    Hỹ do quán đến sự chết:
12.    Hỹ của Từ tâm.
13.    Hỹ của Bi tâm.
14.    Hỹ của Xã tâm.
15.    Hỹ tâm trong kinh bát thành.
16.    Hỹ của Tứ niệm Xứ.
17.    Hỹ do ly dục ly ác pháp của sơ thiền.
18.    Hỹ do diệt tầm tứ của nhị thiền.
19.    Hỹ do ly hỹ trú xã nhập tam thiền.
20.    Hỹ do xã khổ xã lạc xã niệm thanh tịnh của tứ thiền.
Lợi ích của tâm Hỹ.
Kết luận.

Giới thiệu

            Hỹ là vui vẽ nói chung, hỹ bao gồm có vui vẽ của phàm phu và vui vẽ của bậc thánh.
            Để giảm bớt bao nỗi phiền muộn và những khó nhọc trong cuộc sống thường ngày, ai ai cũng muốn có được một tâm hồn vui vẽ. Vui vẽ làm cho mọi người yêu đời hơn, lạc quan hơn. Do đó ai cũng cố gắng tìm tòi những thú vui riêng cho mình và cho người như ăn, uống, ngủ, sắc, danh, lợi, làm từ thiện, làm những việc mình thích, đi chơi, đi du lịch, xem hát, ca nhạc, TV, tu hành, trau dồi kiến thức,…
            Cuộc vui nào cũng tàn, bữa tiệc nào cũng chia ly, ai ở đâu thì về đó. Sau những cuộc vui đó thì mọi người lại trở về với chính mình, sống với nội tâm của mình, với những ham muốn riêng của mình, và lại khởi nghĩ tìm những ham vui khác bù đắp vào sự trống trãi để lại sau cái vui trước. Cứ như thế cái vòng đó hằng ngày, hằng phút hằng giây chi phối con người.
            Ví dụ khi ăn, con người có sự thích thú trong ăn cho nên ăn hết miếng này đến miếng khác, hết gắp loại thức ăn này đến loại thức ăn khác, không để cho miệng ngừng nghỉ, vì sao? Vì khi mà ngừng lại thì cái thú ăn sẽ mất, miệng sẽ lạt lẽo, cảm giác ngon sẽ mất.
            Ngủ củng vậy, khi đang ngủ say thì muốn ngủ tiếp, dù cho đồng hồ báo thức reo, hay ai đó đánh thức dậy thì cũng lăn qua, lăn lại, trở tới trở lui, rồi lại ngủ tiếp.  
            Đối với sự dâm dục cũng vậy, khi ở một mình thì muốn tìm bạn, khi có bạn rồi, sống quen nhau một thời gian thì cảm giác chán nãn xuất hiện, muốn tìm một người mới để kích thích sự tìm tòi khai thác những cái mới lạ khác, do đó chúng ta thấy dù cho có vợ chồng rồi nhưng con người vẫn còn thích thú đi tìm những cái khoái lạc khác.
            Công danh là điều mơ ước của bao nhiêu người trong xã hội, lúc chưa có thì cố gắng hết mình để có, khi có rồi thì lại nghĩ đến phải có danh cao hơn. Vì càng có danh nhiều thì càng nhiều người kính nễ, lời nói có trọng lượng hơn, quyền hạn nhiều hơn, quen biết nhiều hơn và bao nhiêu điều lợi lộc xuất hiện khác.
            Tiền bạc cũng vậy, con người chưa có tiền thì muốn có, có một thì muốn hai, có hai thì muốn mười, có mười thì muốn một trăm. Do vậy mà suốt cả ngày làm việc cực nhọc mà họ vẫn thấy vui là vì họ biết làm càng nhiều thì sẽ có nhiều tiền.
            Đó chỉ là những khía cạnh nhỏ của các ví dụ dễ thấy nhất trong cuộc sống, con người luôn luôn khởi ý, chạy theo những cái dục của mọi người để tìm thấy cái vui vẽ trong cuộc sống. Đằng sau những cái vui đó thì ít ai để ý đến đó là sự bất toại nguyện, buồn phiền và chán nãn, sân giận, chửi mắng nhau, dèm pha nói xâu nhau, lừa gạt nhau, giết nhau… Khi những cái dục ham muốn không đạt được thì tất sanh ra những chuyện không vừa ý làm cho tâm trạng mất vui dẫn đến buồn phiền và chán nãn.
            Do vậy nhìn thấy cái vui của người thế gian như vậy mà không phải vậy, đó chỉ là hình thức bề ngoài thôi. Giống như khi ra ngoài đường chúng ta thấy vợ chồng con cái cùng ngồi trên một chiếc xe dream dạo phố vui chơi, cười nói vui vẽ. Nhưng khi về nhà thì ai mà biết được chuyện gì xãy ra, rồi ngày mai ta thấy gia đình đó họ chia tay nhau mỗi người một ngã. Tất cả những cái vui đó là những cái vui của người phàm phu, là cái vui trong dục lạc, vui trong đau khổ và vui trong ác pháp.
            Ngoài những cái vui đó còn có những cái vui về vật chất, vui khi gặp nhau, vui khi đi xa, vui khi sanh con, vui trong ác pháp, vui với sự thành công của mình và người khác, vui của ly dục ly ác pháp, vui trong tâm Từ, vui trong tâm Bi, vui trong tâm xã, vui trong Tứ niệm xứ, vui trong các tầng thiền sắc giới, vui trên quán vô thường, vui trên quán thân bất tịnh, vui do quán thức ăn bất tịnh, vui do quán vô ngã, vui do quán tưởng đến cái chết…
            Chỉ có cái vui vi diệu nhất là cái vui không phải trong dục, cái vui không phải trong đau khổ và cái vui không trong ác pháp. Đó là những cái vui của tâm bất động trước các ác pháp và những cái vui trong thiền định của Phật giáo chân chánh. Những cái vui này không mang đến đau khổ cho mình và cho người.

Vậy để thấy rõ lợi ích của cái vui ly dục ly ác pháp, chúng ta hãy cùng nhau phân tích cái vui của phàm phu và cái vui của người biết ly dục ly ác pháp.

            Những cái vui của người phàm phu là những cái vui trong dục, trong ham muốn. Những cái vui này mang đến đau khổ hoặc cho mình, hoặc cho người, hoặc cho cả hai. Cụ thể hơn chúng ta hãy xem qua vài ví dụ điể hình.

Vui khi có nhiều tiền như trúng vé số, trúng thưởng, khi làm ăn được lãi nhiều, vui khi có người tặng quà, vui khi thắng cờ bạc, cá độ, vui khi mua được một cái gì mới như TV, xe dream, xe hơi, tủ lạnh và bao vật khác trong gia đình, vui khi cất được căn nhà, vui khi mua thêm được một mảnh đất, vui khi bán được một căn nhà.
Khi vui thì họ nhảy nhót la hét, cười nói to tiếng, khoe khoang hết người này người khác, dẫn cả nhà đi ăn, lúc này tâm họ rất thoải mái, sẳn sàng hứa mọi điều…Tất cả những cái vui đó chỉ là tạm bợ trong chốc lát, khi có tiền thì vui sau đó thì phải suy nghĩ tìm cách sử dụng tiền đó, tìm cách bảo vệ hay cất giấu, làm cho tâm lúc nào cũng lo lắng, ngủ không yên, đi xa cũng không yên tâm, rồi càng có nhiều tiền và tài sản thì không tin ai, kể cả người thân. Về tài sản thì ai đụng vào thì nói là của mình, ai có ý muốn hỏi dùng thì sợ người ta làm hư hay mất. Nếu có gì xãy ra thì giận lên, buồn rầu và luyến tiếc.
            Tiền bạc vật chất có đó rồi mất đó ngay, có người do ham muốn đẻ thêm tiền cho nên cố gắng đầu tư làm ăn nhưng lại thất bại, bị lừa hay bị lỗ vốn, có khi còn mang thêm nợ. Rồi bị đòi nợ, sanh ra tiếng nhỏ tiếng to qua lại, dẫn đến đánh nhau, xử nhau bằng luật giang hồ, làm cho kẻ bị nằm nhà thương, người vào khám tù.
            Do đó ta thấy cái vui của vật chất là tam bợ trong chốc lát như vậy, để lại bao hậu quả đau thương và khổ cho mình và cho người.
           
Do thấy rõ cuộc đời này là quá khổ cho nên khi thấy ai đạt được bất cứ vật gì, việc gì chúng ta đều mừng vui cho họ, có như vậy thì tâm ta sẽ không ghen ghét phân bì với người đó. Vui mừng với họ là ta thấy họ có thể làm điều gì đó có ích cho đời, cho họ, cho mọi người.
·               Như khi thấy bạn trong lớp mình học giỏi được Thầy khen thì mình cũng hoan hỉ vui mừng với bạn.
·               Khi thấy bạn cùng Cty được tăng chức thì mình cũng vui vẽ chúc mừng.
·               Khi thấy một người thất nghiệp, nay đã có việc làm thì mình cũng mừng vì gia đình họ sẽ có cơm để ăn và no ấm.
·               Khi thấy một người sợ hãi làm những việc năng nhọc, nay họ được giao cho một việc nhẹ nhàng và vừa sức họ.
·               Khi thấy một người sống lang thang ngoài phố có bánh để ăn, có nước để uống.
·               Khi xem các trận chơi thể thao thì ta vui mừng với người đạt được giải.
·               Vui khi thấy người đàn bà sanh được em bé Mẹ tròn con vuông.
….
Những vui mừng trên là những vui mừng cho sự đạt được dục vọng của mọi người, Mỗi người không chỉ có một dục vọng mà là rất nhiều, vậy cả tỷ người trên thế gian này thì biết làm sao kể hết ra bao nhiêu dục vọng. Là người đệ tử Phật chúng ta phải biết phân biệt cái vui trong dục vọng và cái vui ly dục cho nên cẩn thận nếu ta còn vui mừng với mọi người thì tâm ta cũng còn dục vọng nhiều lắm.

            Là những cái vui khi thấy gia đình êm ấm, mọi người trong gia đình sống có đạo đức với nhau như cha Mẹ và con cái, anh chị em với nhau, chồng và vợ, bà con với nhau, chủ và đầy tớ…
·               Khi thấy Cha Mẹ dạy dỗ con cái nên người, anh chị em trong nhà hòa thuận.
·               Khi thấy con cái chăm sóc cho Cha Mẹ bệnh từ việc đi đái tiểu cho đến ăn uống.
·               Khi thấy người con sẳn sàng chia sẽ 1 quả thận của mình cho Cha Mẹ anh em.
·               Khi thấy người Cha Mẹ lo lắng cho gia đình con cái được đầy đủ.
·               Khi thấy anh em trong nhà giúp đỡ và biết chia sẽ nhau những gì có.
·               Khi thấy con cái biết lo học hành đến nơi đến chốn.
·               Khi thấy chủ đối xử với đầy tớ như người trong nhà, và đầy tớ làm tròn mọi nhiệm vụ được giao tốt, không than vãn kêu ca, trách móc ai trong gia đình.
·               Khi thấy vợ và chồng biết sống nhẫn nhục tùy thuận và bằng lòng với nhau.
·               Khi thấy vợ chồng sống chân thật không lừa dối nhau.
·               Khi thấy mọi người trong gia đình không bệnh hoạn gì cả.
·               …..
Cái hỹ giữa những người thân thường chỉ giới hạn trong gia đình, người thân hay bạn bè. Cho nên nó mang tính ích kỷ nhỏ mọn hep hòi, chỉ biết lo và bảo vệ cho những cái gì của ta thôi. Còn đối xử với người ngoài thì chưa có được trọn vẹn tin tưởng, mà vẫn nghi ngờ, không tin tưởng.

Có người có tiền hay tài sản thì muốn chia sẽ đồng tiền hay tài sản của mình cho bao người bất hạnh trong xã hội như các trại nuôi trẻ mồ côi, trại người già, trại bệnh phong cùi, lao phổ, ung thư và gia đình nghèo trong xã hội…Khi cùng nhau làm từ thiện thì vui vẽ vì thấy mình đem lại hạnh phúc cho mọi người. Cái vui thì chỉ trong lúc đó thôi. Việc làm từ thiện là những việc làm tốt, nhưng trong cái tốt đó thì vẫn có sự tranh đua trong đó, ai góp tiền nhiều thì muốn tiếng nói của mình có trọng lượng hơn, ai góp được tiền nhiều thì cũng so sánh phân bì với người khác không biết làm, không biết tìm cách kiếm tiền. Khi nhận được tiền của bá tánh thì không biết xài như thế nào cho  rõ ràng, chi tiêu không tính toán trước. Khi làm được vài việc làm từ thiện thì bắt đầu khoe khoang với người này người kia để khuyến dụ mọi người góp tiền.
Mặc dầu đi làm từ thiện với nhau, nhưng khi ai đụng đến chuyện riêng của mình thì vẫn sân giận nhau, chửi mắng nói xấu nhau, tâm vẫn phàm phu cho nên khi nói chuyện thì ngoài chuyện làm từ thiện ra, vẫn đem những chuyện xã hội, kinh tế chính trị, chuyện ăn uống, chuyện sắc dục, chuyện kiếm tiền làm ăn ra nói.
Người đi làm từ thiện thường hay dùng chữ “Phước” ra dụ dỗ người khác “có làm từ thiện thì sẽ được Phước” Phước không biết có hay không, nhưng bệnh ốm vẫn thấy, có khi đang trên đường làm từ thiện thì xe bị lật, người bị xe cán cho nên cũng không tránh khỏi cái chết.
Chúng ta thử nghĩ bao nhiêu tiền tài vật chất gọi là đủ dùng vào việc làm từ thiện? Hay lắm thì họ được có đủ ăn đủ mặc một tháng, sau đó thì sao? Khi có tiền thì những người đó sanh ra làm biếng, không chịu đi làm, tâm tánh của họ có thay đổi không? Tham sân si của họ vẫn chất đống, ở không rảnh rỗi thì tệ nạn xã hội gia tăng, vậy thì làm sao họ thoát khổ được, do đó việc làm từ thiện không đem lại lợi ích lâu dài cho con người. Vậy cái hỹ trong việc làm từ thiện là cái vui của tham Phước, cái vui của tạm bợ chốc lát. Cái vui trong sự ganh đua, cái vui trong ngã mạn, và cái vui trong danh lợi. Những cái vui này không đem đến cho người khổ hạnh thoát khổ được.

            Là con người cho nên tình cảm luôn luôn có, nó bộc phát mảnh liệt khi chuẩn bị đi xa và khi gặp nhau lại. Tình cảm đó được thấy qua hình ảnh khóc lóc, mặt buồn xo, vừa cười vừa khóc, bắt tay nhau, ôm hôn nhau, cầm tay nhau, ngồi uống trà tâm sự cùng nhau trò chuyện thâu đêm suốt sáng, dặn dò nhau hay là hỏi những việc làm của nhau khi xa cách nhau…
            Cái hỹ khi đi xa về gặp người thân thì mừng vui vẽ, ôm hôn, bắt tay nhau…Còn khi  chuẩn bị đi xa thì vui vẽ, cười to nói lớn, nữa cười nữa khóc. Những cái hỹ này thì chỉ tạm bợ giây lát, rồi sau đó thì cuôc sống của ai người đó lo, chứ đâu có phải vui mừng hoài đâu. Vui đó thôi trong một hai ngày sau đó thì ở gần nhau thì nhiều khi còn chướng mắt nhau, ở xa nhau thì nhớ, khóc thầm. Cái tâm của con người lúc này lúc khác, lúc vui lúc buồn. Do đó cái hỹ này là cái hỹ giả tạo, chỉ làm cho con người trói buộc với nhau như là có nợ nhau, không sao dứt ra được, giống như tự mình làm khổ mình.
            Cuộc đời của con đi xa cũng nhiều cho nên khi ở xa thì con rất muốn về việt nam thăm Cha Me và bà con. Con để ý rằng vào những ngày đầu tiên về thăm nhau thì còn vui vẽ, còn tụ họp nói chuyện, sau đó thì mỗi người một chuyện ai lo phận người đó, cái vui vẽ không còn nữa vì họ đã thấy được mình yên ổn, nhìn được thân hình của mình biết mình mập yếu khỏe ra sao rồi, còn khi ở xa thì không hình dung được thân hình của con ra sao, khuôn mặt như thế nào cho nên mong gặp lại nhau để nhìn mặt nhau thôi. Cái cảm giác vui vẽ đó vắng bặt ngay sau vài ngày và thay thế vào đó là sự buồn tẻ của sự ràng buộc nhau của những người trong gia đình.
           
         Là cái hỹ khi thấy con vật mình nuôi làm theo ý muốn của mình như đối với chó khi kêu đứng thì đứng, kêu ngồi thì ngồi, quăng cục xương giả ra xa để cho chó chạy đi lấy, khi thấy chó mừng khi đi xa về, khi thấy các chú chuột trong chuồng chạy chơi trên các đồ chơi nhỏ ráp trong chuồng cho chuột. Khi thấy bò cho nhiều sữa, khi thấy heo đẻ nhiều con và khỏe mạnh, khi thấy gà béo tốt lớn nhanh, đẻ nhiều trứng, khi thấy các chú gấu, khỉ, rắn, chó bị xiềng xích làm ảo thuật hay múa ngoài đường phố để xin tiền. Cái hỷ này có sự đau khổ của các loài động vật cho nên cái hỷ này chỉ là cái hỷ tầm thường không có đạo đức hiếu sinh.

         Nhiều người có cái thú vui khi trồng hoa kiễng, họ mua đủ thứ cây về nhà san qua chậu lớn nhỏ, chiết cành này qua cành khác, uốn cây hình con này con khác. Cái vui này là cái vui của phàm phu trong dục vì họ không cảm thấy được sự đau khổ của cây khi bị cắt lá, cắt cành, bị giam trong một cái chậu nhỏ, làm rễ không tự do lan truyền đâm sâu xuống đất.
         Khi ai đó đụng đến cây của họ thì họ biết ngay và giận lên tại sao mình lại làm trái ý của họ. Khi họ đi đâu về trễ mà thấy chưa ai tưới nước cho cây thì cũng giận la hét tại sao không ai biết thương cây. Đó là ta thấy vì sống trong dục vọng nhiều quá mà con người và con người mất đi nền đạo đức với nhau. Không những thế mà giữa người và vật cũng vậy, khi trồng cây kiễng thì bất kỳ loài vật nào như con sâu, con sên, con rít, con cuốn chiếu, con giun trong đất và các loài côn trùng không tránh khỏi bị sát hại. Chỉ vì một mục đích muốn cho cây kiểng xanh tươi, có trái, ra hoa mà đạo đức hiếu sinh không còn nữa.

            Khi bị vô minh thì con người thường không phân biệt thiện ác, cho nên những hành động của họ chỉ là theo dục và ham muốn thôi. Những hành động vô mình đó thường thấy qua thập ác, phạm vào ngũ giới…
            Nhớ lại lúc xưa khi con biết uống rượu thì khi con mời ai uống rượu mà người đó biết uống thì con rất mừng vì có bạn nhậu, khi ai không biết thì con tìm mọi cách chỉ rõ cho họ lợi ích của uống rượu như chữa được bệnh cảm, bệnh ho, làm cho cơ thể ấm lên, hưng phấn hơn, hay là nam nhi thì phải biết uống rượu. Thuốc lá cà fe, trà, bia cũng vậy.
            Có người thì rất giỏi trong vấn đề làm thịt gà, chim, heo, dê cho nên khi ai đó muốn xem họ làm như thế nào thì họ vui vẽ mua sắm các loài vật về và trổ tài cho mọi người xem.
            Khi chơi với bạn xấu thì dẽ bị nhiễm tính xấu, như con có anh bạn một lần bị con rờ le trong xe. Anh ta cùng một vài người bạn vào bãi nghĩa địa xe để tìm con rờ le đó. Khi tìm thấy thì ra ngoài ta phải trả tiền cho người chủ bãi xe khoảng 1 đô la, nhưng vì con rờ le nhỏ cho nên anh ta nghe lời bạn bè nói dấu đi thì không ai biết cho nên không cần trả tiền mà vẫn có được con rờ le đó. Khi về nhà anh ta còn khoe cho con và một Bác làm chung. Sau khi khoe xong thì bị Bác la quá trời.
            Có một chuyện mà con nhớ suốt đời là khi còn trẻ tâm ham muốn dâm dục rất mạnh cho nên rất thích ăn chơi kiếm bạn khác phái để ăn nằm với người ta. Ai mà rơi vào những trường hợp đó rồi thì khó mà vứt ra được vì khi đó cảm giác vui sướng không tìm đâu có được trên đời, nhưng khi bị bệnh nhiễm trùng bộ phận sinh dục thì khi đi chữa bệnh người bệnh nhân sẽ rút ra được một bài học lớn là không bao giờ dám đễ cho bệnh này xãy ra lần thứ hai vì khi chữa bệnh quá là đau đớn không sao tả nỗi.
            …
            Chúng ta thấy cái vui trong ác pháp rất nhiều trong cuộc sống. Vì sao có cái vui đó? vì mọi người đang sống trong ác pháp cho nên đồng tình với nhau, chứ người ác ít mà người tốt nhiều như Bác trên thì những hành động ác sẽ không có và bị ngăn cản dập tắt ngay. Loại hỹ này chúng ta không nên để tồn tại trong tâm mà phải cương quyết từ bỏ.

         Cái Hỹ này thì chỉ có trong thế gian của người phàm phu. Đã biết ác rồi mà còn hùa theo vui vẽ, đồng tình từ hành động, lời nói và ý nghĩ.
         Khi thấy 2 người đánh nhau ngoài phố thì con thấy đại đa số mọi người xúm nhau xung quanh và vui hò theo chứ không ai can ngăn.
         Khi thấy người nhà đang giết gà mà mình còn bàn thêm con gà này mập hay ốm, có nhiều thịt, thịt chắc sẽ dai ngon và phải nấu con gà như thế này thì ngon.
         Khi thấy người khác thích nấu rượu bán, mà ta không can ngăn mà còn vui vẽ bàn chuyện làm ăn với họ, tính toán nói việc bán rượu này lãi nhiều.
         Khi thấy ai đó nói chuyện mỡ trại nuôi tôm sẽ mau giàu mà mình hùa theo đòi hùng tiền vào làm ăn chung.
         Vì con người luôn sống trong ác dục cho nên mọi chuyện xãy ra hằng ngày đều liên quan đến dục ăn, ngủ, sắc dục, danh và lợi. Khi có ai làm chuyện gì liên quan đến những vấn đề này thì sẽ có người hùa theo đồng ý ngay. Đó là những cái hoan hỹ ác làm cho con người càng nhún sâu thêm vào ác pháp đem đến đau khổ cho họ và cho muôn loài người khác. Đối với người tu theo đạo Phật chúng ta không nên vui mừng với các việc làm ác này mà nên khuyên nhủ họ tránh xa việc làm ác này.

         Đối với người phàm phu cái thiện có cái dục trong đó. Nhưng dù sao thì cũng là thiện chứ không phải ác. Để thấy rõ cái hoan hỹ trong thiện pháp như thế nào chúng ta hãy xem ví dụ.
         Như khi thấy một người làm ăn có tiền, biết lo cho gia đình, mua đồ sắm sửa nhà cửa, có tiền lo cho con cái đi học, có tiền mua thuốc… Khi thấy những việc làm như vậy thì chúng ta phải mừng cho họ biết dùng đồng tiền đúng chỗ, chứ không phải khi làm có tiền rồi dùng những đồng tiền đó đi ăn chơi nhậu nhẹt trác táng nay cặp cô này mai với cô khác làm cho vợ ở nhà lo lắng khổ sở, con không có cha gần bên an ủi và vui đùa.
           Tương tự đối với người trúng số, biết dùng tiền vào việc chăm la cho gia đình thì đó là những điều chúng ta cần hoan hỹ với họ.
         Hoặc khi thấy một người được có công danh, người đó hết lòng làm việc dùng chức vụ của mình để nói lên tiếng nói bảo vệ quyền lợi của người công nhân. Biết lắng nghe và học tập ý kiến của cấp dưới.  Những việc làm đó đáng để cho chúng ta hoan hỹ với người đó. Còn ngược lại khi có quyền hạn thì nhiều người dùng nó vào việc áp bức hay bốc lột sức lao động của cấp dưới, không biết lắng nghe ý kiến của cấp dưới, độc quyền thì chúng ta không nên vui vẽ với những loại người đó làm gì.

            Tóm lại “Cái hỹ trong dục là đau khổ là bệnh tật, là thuốc độc” giết chết chúng ta, chúng ta hãy thường xuyên nhắc câu này để tâm tỉnh thức trước các ác pháp mà xa lìa nó, chứ không thì chúng ta rất dễ dàng rơi vào những hố sâu cám dỗ của những ma lực ác trên thế gian này.
  
            Cái vui ly dục ly ác pháp là cái vui đem đến hạnh phúc cho mình cho người hay cho cả hai và cho muôn loài có sự sống trên thế gian này.
        
            Đối với người ly tham thì tài sản tiền bạc họ đã bỏ sạch, không còn dính mắc vào bất kỳ cái gì cho nên tâm họ luôn thanh thản và không bận tâm gì cả. Cái hỹ của xã bỏ vật chất thế gian là sự thoải mái, không bận tâm dính mắc, không còn lo lắng cho bất cứ việc gì, đầu óc thảnh thơi và yên lặng.
Đối với người có trí thì vui mừng như thế nào với sự thành công của người khác.
·               Đó là khi thấy ai tu hành giữ được các giới của Đạo Phật thì ta vui mừng cho họ, vì giới của Đạo Phật là những điều giúp cho tâm ta ly dục ly ác pháp. Các giới đó gồm ngủ giới, mười giới thánh Sadi, thập thiện, thất kiết sử, ngủ triền cái, năm hạ phần kiết sử và năm thượng phần kiết sử.
·               Ngoài ra khi thấy ai tu hành tốt thì ta vui mừng với họ.
·               Khi thấy ai làm bài tốt trong lớp học bát chánh kiến thì ta vui mừng với họ vì có làm được bài thì tâm họ sẽ có ly dục ly ác pháp phần nào. Chứ đừng vì đó mà ghen tị thì không đúng.
·               Thấy ai chứng đạo thì ta vui mừng vì mừng cho họ đã giải thoát và mừng cho Phật pháp có người xây dựng lại, và mừng cho nhân loại có phước báo hưởng được Phật giáo.
Đối với gia đình người thân thì cái hỹ này phát triển rộng ra bên ngoài xã hội. Vì trong xã hội thì quá nhiều giai cấp, nhiều thành phần, chủng tộc màu da. Do vậy muốn phát triển tâm hỹ này thì chúng ta hãy từ bỏ tâm tánh ích kỷ của mình, xem mọi người trên thế gian này bình đẳng nhau, không phân biệt nam nữ, trai gái, già trẻ, giàu nghèo, trí thức hay dốt nát, tật nguyền hay không tật nguyền, tôn giáo nào hay không tôn giáo, không phân biệt dân tộc nước nào cả, màu da nào…Nếu thấy những người sống như vậy biết chia sẽ với nhau mọi thứ trên thế gian này thì cái hỷ đó sẽ là vô lượng
Đối với những việc làm từ thiện thì chỉ có dạy đạo đức cho những người bất hạnh thì cuộc sống của họ mới thay đổi, dù cho tiền tài vật chất thiếu thốn nhưng chắc là tâm họ luôn vui. Vì đạo đức nhân bản nhân quả của con người sẽ làm cho thấy rõ đường đi lối về của nhân quả cho nên có quả khổ hay vui thì họ đều vui vẽ chấp nhận hết. 
            Đối với vấn đề tinh thần tình cảm thì chỉ có cái vui thật sự là không còn bị ràng buộc vào ái kiết sử. Muốn như vậy thì chỉ có hiểu rõ nhân quả giữa mình và người thân chỉ là tạm bợ trong kiếp này thôi, còn trước đó và sau này thì làm gì còn nữa đâu, những khuôn mặt đó đâu có như vậy hoài, nó biến đổi theo thời gian, và nó sẽ tan biến khi những người đó chết.
Đối với các loài động vật cái hỹ hân hoan khi thấy các loài động vật có cuộc sống ấm no, có nơi để ở che nắng che mưa, không bị ai giam cầm, khi thấy các loài vật đùa giỡn với nhau tự do, được đối xử bình đẳng như người và người. Đây là cái hỷ chân thật của người có đạo đức hiếu sinh.
Đối với cây thảo mộc thì người có tâm hỹ thật sự với cây thảo mộc là người không bao giờ chơi cây kiễng, họ biết tôn trọng sự sống của cây ở dưới đất bất kỳ nơi nào. Khi thấy cây xanh tươi thì vui vẽ mừng cho cây có cuộc sống tự nhiên. Không vì một lý do gì mà ngắt lá hay ngắt cành, hay dẫm đạp lên cây cỏ.
Đối với thiên nhiên thì tâm an ổn trước cảnh thuận hòa của thiên nhiên, mọi vật sống yên ổn, thiên nhiên vẩn giữ được nét tự nhiên chưa có bị bàn tay của con người nhún vào thay đổi, không khí trong lành không ô nhiễm, thời tiết thuận hòa không có thiên tai, nhà nhà vui vui, đất nước thanh bình không có chiến tranh.
Đối với việc muốn ly ác pháp thì chúng ta nên sống gần các thiện hữu tri thức để học và hiểu rõ đâu là thiện đâu là ác, có như vậy thì chúng ta luôn sống trong thiện, luôn vui vẽ với những hành động thiện của mình.
Quá trình của việc tu tập ly tham ly ác pháp là một quá trình dài chứ không phải một hai ngày. Nhưng nhờ sống gần thiện hữu trí thức thì chúng ta sẽ được chỉ dạy rõ con đường đi mà không phải mò mẫm dẫn đến lạc lối. Quá trình đó gồm có giữ giới như năm giới, tu thập thiện, thọ bát quan trai, giữ gìn hạnh độc cư phòng hộ sáu căn và tu tập chánh niệm tỉnh giác. Mỗi một giai đoạn sẽ đem lại giải thoát cho người tu làm cho tâm chúng ta hoan hỹ với những gì đạt được thấm hiểu rõ lời Phật nói “Pháp ta không có thời gian đến để mà thấy.” Thấy cái gì ở đây? Thấy giải thoát các bạn à, có giải thoát thì tâm sẽ hoan hỹ. Vì đó là thiết thực, không phải nói suông, không phải là những lời nói dối, vì những lời dạy của Đức Phật luôn có các pháp hành kèm theo.

         Chướng ngại pháp gồm những gì? Khi bị la mắng, khi bị chê bai, chỉ trích, khi bị sân giận, khi bị chửi rủa, la mắng, trách cứ, khi bị nghi ngờ, khi bị thất bại, khi bị bất toại nguyện…
         Vậy lúc đó thì làm sao tâm ta vẫn thản nhiên vượt qua những điều này?
         Con nghĩ rằng khi hiểu rõ mọi pháp là vô thường là không phải của mình, là vô ngã thì những gì xãy ra dù cho ai đối xữ với mình tệ như thế nào thì con nghĩ rằng các điều xãy ra là vô thường, những điều đó không phải của họ, không phải của con, là vô ngã. Vậy thì tại sao con phải buồn phiền làm gì. Ta hãy vui vẽ chấp nhận mọi chuyện, giữ gìn tâm thanh thản an lạc và vô sự.
         Ngoài ra nếu ta biết thương ta thì ta sẽ không để cho ta buồn phiền hay giận hờn làm chi cho khổ ta. Bởi vậy con thấy cũng đúng là có Từ và Bi thì Hỹ mới có.
         Như hôm vừa rồi con để quên chìa khóa xe trong xe, xe vẫn nổ máy và đóng sập cửa lại, con tới nhờ anh thợ máy Cty giúp đỡ thì anh ta đưa cho mấy cái đồ nghề mở cửa. Nhưng con thì không biết mỡ, con nói với anh ta cho phép ông bạn con làm dưới quyền anh thợ máy giúp con, nhưng anh thợ máy thì không chịu. Con vẫn vui vẽ đi nhờ người khác và vào nói với với cô thông tin rằng hôm nay con không thể lái xe được vì con phải lo cho cái xe con trước, chứ để đợi con lái xe buýt về rồi thì chắc cái xe của con cháy luôn cả máy. Sau đó thì cô thông tin vào nói với anh thợ máy giúp con để con có thời gian đi lái xe buýt. Anh ta lúc này mới cho ông bạn con giúp con. Khi mở được cửa xong rồi thì con vẫn cám ơn anh thợ máy và mọi người mà không hề giận anh ta, vì con lúc đó nghĩ do mình có lỗi trước hấp tấp, quên trước quên sau cho nên làm khổ mình và làm khổ người. Còn anh thợ máy đã giúp cho mình bộ đồ nghề rồi. Con nghĩ là mọi việc vô thường mà có gì đâu mà lo lắng. Đến hai ngày sao thì anh thợ máy gọi con lại nói rằng lần sau nếu xe có hư thì nói cho anh biết anh ta sẽ giúp cho. Con chỉ cười và nói là đồng ý, con sẽ gọi anh ta khi cần.
         Đúng là mọi việc vô thường xãy ra, nhưng nhờ luôn giữ tâm thanh thản, biết rõ mọi pháp là vô thường, thấy lỗi mình, và chính vì biết thương mình cho nên con không bị rơi vào ác pháp. Lúc đó tâm luôn luôn vui vẽ với mọi chướng ngại pháp xãy ra.

         Ai mà chẳng thích khen, thích người khác tặng quà, thích có công danh sự nghiệp, thích có sự cung kính hay kính nễ. Những thứ đó nếu không thấy rõ sẽ làm cho tâm ngã mạn, cống cao, kiêu ngạo không coi ai ra gì nữa cả. Người được khen tặng, có công danh cung kính hay kính nễ dễ bị rơi vào làm nô lệ, bị sai khiến bởi những ham muốn của người khen tặng mình, cho mình công danh hay những người cung kính mình. Từ đó chúng ta sẽ bị cám dỗ lôi vào đường xấu chạy theo những dục của người phàm phu, từ bỏ các hạnh lành mà bao lâu nay mình giữ gìn.
         Thấy rõ những tai hại này thì người tu theo đạo Phật ngoài mặt vẫn vui vẽ tùy thuận với những tiếng khen tặng đó nhưng không đễ bị rơi lôi cuốn vào các cám dỗ sai khiến của người phàm phu. Có như vậy thì chúng ta mới giữ được các hạnh lành mang lại cho tâm thanh thản an vui và vô sự.   

   Làm người đã khó, gặp phật pháp càng khó, nghe được chánh pháp của Phật khó hơn, và khó nữa là bỏ tất cả quyết chí tu hành để được giải thoát. Hôm nay con đã có đủ mọi duyên lành trên thì con rất mừng, cái mừng này không có cái gì trên thế gian so sánh được. Do vậy tâm con sẽ không thối chuyển và cố gắng trong đời này đạt được những gì mà người đệ tử Phật cần phải làm.

Sống có đạo đức là sống không làm khổ nhau, bình đẳng và tôn trọng.
·               Khi thấy mọi người chào nhau vào buổi sáng.
·               Khi thấy một ông tài xế lái xe buýt chào một người lang thang ngoài phố vào buổi sáng.
·               Khi thấy mọi người giúp đỡ nhau.
·               Khi thấy người khỏe mạnh dìu dắt người mù qua đường.
·               Khi thấy mọi người biết giữ gìn vệ sinh chung, vứt rác vào thùng rác ngoài phố.
·               Khi nghe nói có người lượm được tiền ngoài phố giao lại cho chủ nhân.
·               Khi thấy một người bác sĩ tận tình lo cho bệnh nhân.
·               Khi thấy một người thầy giáo lo mọi thứ cho học trò của mình. Tận tình chỉ dạy từng chút một để giúp học trò của mình hiểu bài và làm bài.
·              
   Lợi ích của Đạo đức nhân bản nhân quả rất to lớn cho cuộc sống của con người, do được học và hiểu rõ những lợi ích này thì tâm chúng ta luôn vui vẽ khi thấy mọi người sống có đạo đức với nhau. Ước mong sau con người có đủ phước duyên được học đạo đức nhân bản nhân quả.

            Khi không có tiền xài thì ta nghĩ đủ cách để có được, và khi có được rồi thì vui vẽ ăn xài, nhưng khi ăn xài hết thì vui vẽ hết, cái lo khác lại tới, có khi do gian tham trộm cắp bị phát giác cho nên bị bắt, bị đánh đập đau cả người.
Con nhớ lúc còn nhỏ con thường hay ăn cắp tiền của Cha Mẹ mua quà ăn, sau đó Cha Mẹ phát hiện được tra hỏi thì nói dối, cho nên phạm thêm một tội nữa, rốt cuộc bị đánh đòn nhừ tử, chỉ vì muốn có tiền ăn thêm cái bánh mà bị đánh đập dã man.
Ngày nay học được nhân quả thì con mới thấy và hiểu rõ nhân quả thiện ác, cho nên con sẽ không bao giờ phạm phải giới này và trách cứ ai nữa, dù vật đó nhỏ như đầu mũi kim. Do biết được nhân quả cho nên tâm khởi lên điều gì ác thì con có đủ tri kiến đập xuống ngay và không bị lôi kéo vào ác pháp nữa. Tâm lúc đó hình như sáng ra và không còn vọng động suy tính nữa. Chính vì như vậy mà khi nhìn thấy bất cứ vật gì mà tâm khởi ham muốn thì con thấy cái tâm đó biến mất ngay, đó là do có cái hỹ của hiểu biết nhân quả thiện ác mà ly các ác pháp.

Do hiễu rõ các pháp là vô thường và hoại diệt cho nên khi bất kỳ chuyện gì như hư hoại ( xe hư, xe bị tắt máy giữa đường, máy tính đang chạy thì bị đứng), đổ bể ( ly hay bát bể) hay chuyện không thành ( làm ăn không thành hay những chuyện mình tính toán không xãy ra đúng như mong đợi)  xãy ra thì tâm con không còn hối tiếc, lo lắng, bận tâm cho các vật hay chuyện đó nữa. Lúc đó thì tâm trở nên thanh thản coi như không có chuyện gì xãy ra. Đó là cái hỷ do hiểu biết vô thường của vạn vật.

   Khi quán bài thân vô thường thì con biết là cái thân này không phải là của ta, không phải là ta, là tự ngã của ta. Cho nên con biết cái thân này là vô ngã. Nếu là vô ngã rồi thì mình chăm sóc cho nó làm gì như mua sắm quần áo, đeo đồ trang sức, soi kiếng, chải tóc, nặn mụn, sức kem mặt, thoa kem tay chân, sức dầu thơm…Khi từ bỏ những cái thói quen xấu lo cho cái thân vô ngã này thì bây giờ con nhìn lại đời sống của mình thật giản dị và tự nhiên, không còn bị gò bó giả tạo như đóng kịch nữa. Lúc đó tâm khởi lên niềm vui an lạc của việc xã cái thân vô ngã này.

            Khi sống trong gia đình và trong xã hội, con người ngày nay đã bị nhồi nhét vào đầu óc rằng trai phải có vợ, gái phải có chồng do đó không ai tránh được những cám dỗ của sắc dục. Khi sống trong nó thì chúng ta cũng vui thích nói chuyện về nó, lấy sắc dục ra làm đề tài nói chuyện và đùa cười, chọc ghẹo nhau làm cho vui thêm. Nhưng nhìn kỹ rõ hơn thì ai cũng biết rằng đằng sau đó là bao nhiêu công sức, thời gian, tiền bạc bỏ ra để tìm có nó. Khi có rồi thì chỉ vì vài phút ngắn ngủi thỏa mãn tâm ham dâm dục của mình mà coi như đã bỏ gong vào cổ, suốt đời phải lo lắng làm nô lệ cho vợ con, gia đình mình, gia đình vợ, quần quật suốt ngày kiếm tiền, mánh khóe đủ loại để có được đồng tiền đem về cho vợ, có đồ chơi, bánh kẹo, thuốc thang cho con. Bao nhiêu cái khổ chồng chất lên thiệt là quá khổ, có bệnh không dám nghỉ làm, có việc làm cuối tuần thì cũng phải đi làm. Do đó cái hỹ của sắc dục là chỉ tạm bợ mấy ngày mà sau đó phải trả giá suốt đời trở thành tên nô lệ.
 Đối với người tu ly sắc dục thì họ đã hiểu rõ cái thân bất tịnh hôi thúi, là một túi da thối chứa các đồ bất tịnh, là bộ xương trắng, là vô thường vô ngã, cho nên khi nhìn thấy hình ảnh của người khác giới dù cho có đẹp như tiên thì tâm họ cũng bất động. Cái bất động tâm đó đem lại an ổn cho người ly dục. Đó là cái hỷ của quán thân bất tịnh.

            Lúc xưa chúng ta ăn một ngày không biết là bao nhiêu lần, cứ thèm ăn thì ăn, lúc đói thì ăn, lúc có người cho thức ăn thì ăn, lúc đi chợ thấy thức ăn thì mua ăn, lúc ở nhà nghe người ta rao bán thì muốn ăn, ai rủ đi ăn thì đi, đến giờ ăn thì cũng ăn, ngủ dậy là muốn ăn…Ăn uống như vậy thì không có thời gian nhất định, ăn uống như vậy thì chúng ta bắt cơ thể làm việc liên tục, không ngừng nghỉ, và chỉ làm hại mình thôi, dẫn đến đau dạ dày, ruột…Ăn nhiều như vậy để làm gì? Họ cho là ăn nhiều để mập mạp có tướng, có sức khỏe, có tướng là có tài, nam thì phải bụng phệ do đó ai cũng vì câu này mà ăn nhiều, uống rượu uống bia cho bụng to ra. Nhìn thấy vậy thôi chứ càng mập thì càng sanh ra ngủ nhiều, càng lười biếng, chỉ thích ngồi một chổ, không chịu làm việc, suốt ngày chỉ biết săn sóc cái hình dáng bên ngoài, rồi chạy theo sắc dục, danh và lợi, lừa gạt người này người khác vì cái vỏ bề ngoài đó. Ăn nhiều như vậy mà đâu có tránh được bệnh mà ngược lại đủ bệnh tật mà còn chết sớm nữa chứ. Do đó cái hỷ trong dục ăn là khổ, là bệnh tật là thuốc độc như vậy. Chúng ta phải tác ý câu trên thường xuyên để giảm cái tâm ham ăn của mình “Hỷ dục ăn là khổ, là bệnh tật là thuốc độc”
   Còn người  ly dục ly ác pháp thì chỉ ăn một ngày một bữa, ai cho gì ăn đó, tâm họ xã bỏ mọi ham muốn ăn uống phi thời ăn ngày 3-4 bữa. Ăn một bữa mà không thèm ăn, vì họ biết thức ăn là bất tịnh, trước sau gì thì cũng là một đống phân, ăn nhiều thì bắt cơ thể làm việc nhiều và đi cầu nhiều. Họ dành thời gian còn lại tu hành hay làm việc có ích cho mọi người. Người ăn một bữa như vậy thì tâm họ đã ly dục ăn, thân tâm an ổn không bệnh tật, không bất an, trang thái an ổn kéo dài như vậy thì họ đã có được cái hỹ của ly dục ly ác pháp. Người đó biết rằng những lời Phật dạy là đúng, chỉ cần ăn một bữa là đủ năng lượng cho cả ngày làm việc. Sống theo gương hạnh của Đức Phật như vậy thì sao không vui được cơ chứ.
Liên quan đến cái ăn này còn có nhiều hạnh khác như sống thiểu dục tri túc ba y một bát, sống biết đủ với những thứ vật dụng hằng ngày, không đòi hỏi cái gì, không thấy cần thiết phải mua sắm cái này cái kia, bằng lòng với mọi thứ người khác cho, bằng lòng với mọi hoàn cảnh, điều kiện sinh sống, có cái gì thì dùng cái đó. Có sống được như vậy thì tâm hồn luôn thoải mái, không buồn bực, dính mắc, than phiền gì cả, mà chỉ thấy an ổn và yên vui và nhẹ nhàng.
Khi xã được tâm ham ăn thì ta cũng xã bỏ các thói quen xấu như: thích đi chợ búa, thích đi mua sắm, thích ra ngoài phố ăn, thích ăn hàng rao vặt, nấu ăn, nói chuyện về thức ăn, thích tham gia vào các tiệc tùng, họp mặt với bạn bè, thích uống rượu bia, trà, cà fe… Chính nhờ ly những ham muốn dục lạc này mà tâm thanh thản, yên ổn an vui, không còn bị gò bó, nghĩ ngợi đến những thói quen xấu nữa.
Xã bỏ được dục ăn thì dục ngủ, sắc dục, danh lợi dục cũng giảm thiểu tối đa. Khi xã bỏ được 5 dục này thì tâm sẽ hân hoan, gần như làm chủ được cuộc sống của mình.

Khi quán đến những nguy hiểm trong cuộc sống hằng ngày có thể gây cho ta tai nạn,  chết chóc bất kỳ lúc nào, thì người tu theo đạo Phật sẽ cố gắng tu tập không biếng trễ, tâm không để bị phóng dật lôi cuốn ra khỏi tu viện, vì không biết cái chết khi nào đến với mình. Do đó khi ta thắng được những tâm niệm lôi kéo ta ra khỏi chùa thì ta phải cảm thấy vui mừng với kết quả của pháp quán tưởng chết này. Vì có nó mà tâm ta ráng tu và tu không thối chuyển, dù cho có bị ái kiết sử lôi cuốn, ta vẫn thấy an ổn ở lại tu viện hay là do quán tưởng này mà chúng ta xã bỏ ham muốn mọi vật chất thế gian, không còn có ý nghĩ làm kiếm tiền để dành cho ai nữa rồi mới đi tu. Vì lỡ có chuyện gì xãy ra thì có tiền cũng không giúp ích gì. Vậy ta phải quyết định ngay từ bây giờ buôn bỏ tất cả và quyết chí theo con đường của Đức Phật. 

            Từ tâm là lòng thương yêu, là biết bảo vệ, làm cho an ổn và ngăn ngừa mọi điều xấu ác xãy đối với mình, với người, với loài động thực vật và với thiên nhiên. Do đó khi thấy được sự bình an, an ổn của thân tâm ta, của người và của mọi vật thì tâm ta sẽ thấy tràn đầy một cảm giác an ổn, chan hòa với tất cả. Cái cảm giác đó là cái hỷ của từ tâm.
            Ví dụ khi bị la mắng oan ức mà ta biết ngăn ngừa cơn giận nổi lên thì ta sẽ có niềm an lạc trong thân tâm. Khi bố thí thực phẩm cho các loài động vật thì ta cũng có cái vui của việc làm đó.  

            Bi tâm là lòng thương xót của ta đứng trước sự đau khổ của mình, của người, của các loài động thực vật hay của thiên nhiên. Khi ta làm được điều gì giúp cho mình, cho mọi người, cho vật cho cây thảo mộc, cho thiên nhiên giảm bớt được những sự đau khổ thì trong tâm sẽ có một cảm giác mình làm được việc gì có ích cho đời, đem lại niềm vui, xóa tan mọi đau khổ, cái cảm giác vui đó là trạng thái của hỷ tâm trên lòng bi.
            Ví dụ khi dùng pháp của Phật chữa bệnh hết thì tâm ta vui mừng hân hoan, cảm giác nhẹ nhõm của toàn thân, vì từ nay ta có lòng tin Phật pháp nhiều hơn và biết được phương pháp trị bệnh hiệu nghiệm như thế mà không cần uống thuốc.
            Khi con lái xe mà nghe nói ai bị bệnh, nhức đầu cần về nhà sớm, thì con chở người đó về nhà trước. Vì chờ tuần tự đến lượt người đó thì còn lâu. Vả lại khi chở sai tuyến thì sẽ mất thời gian làm trễ các tuyến khác, nhưng con nghĩ nay mình đã học tâm bi rồi thì phải biết áp dụng ngay. Sau khi chở người khác về nhà thì không những con mà mọi người trên xe cũng thấy vui vẽ vì làm được một cái gì có ích.

            Là xã bỏ mọi vật chất, dục và ác pháp trên thế gian này, không còn giữ lại bất kỳ một cái gì cho mình, ngoài ba y một bát. Khi xã bỏ được một thứ thì con có cảm giác như người nhẹ ra, không còn dính mắc vào và lo cho cái đó nữa. Có niềm vui xã bỏ từng một ác pháp sẽ thúc đẩy chúng ta cố gắng xã tiếp các ác pháp khác rồi dần dần tiến đến xã bỏ mọi ác pháp tác động vào tâm làm cho tâm ly dục ly ác pháp hoàn toàn.
            Ví dụ lúc xưa con thích xem phim ảnh TV lắm, nay con quán xét thấy xem phim ảnh TV thì chỉ có hại làm cho con sống trong cái tưởng của các nhà làm phim và bị chạy theo dục lạc thế gian từ việc xem những quảng cáo trên TV. Vá con thấy rõ còn xem TV thì không phòng hộ 6 căn được cho nên con quyết định không xem TV nữa. Cho đến nay thì khi thấy TV thì không còn có ý bật lên xem nữa, kể cả tin tức thời sự cũng vậy. Vì con thấy chả có ích lợi gì, chỉ thấy toàn sự tường trình về những chuyện đã qua và của nước khác, của người khác, do đó biết thêm cũng chẳng có ích gì. Thấy rõ lợi ích của việc xã cái TV này làm cho tâm con an vui vì biết rằng không xem TV phim ảnh thì tâm con ly dục rất nhiều.

Kinh Bát Thành nói về 8 pháp độc nhất tu đến rốt ráo làm chủ Sanh già bệnh chết của Đạo Phật. Bài kinh này khuyên người tu khi chọn pháp Hỹ này thì tu theo lời kinh sau:
“Tỷ-kheo an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với hỷ; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Vị ấy suy tư và được biết: "Hỷ tâm giải thoát này là pháp hữu vi, do suy tư tác thành. Phàm sự việc gì là pháp hữu vi, do suy tư tác thành, thời sự vật ấy là vô thường, chịu sự đoạn diệt". Vị ấy vững trú ở đây, đoạn trừ được các lậu hoặc. Và nếu các lậu hoặc chưa được đoạn trừ, do tham luyến pháp này, do hoan hỷ pháp này, vị ấy đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn tại cảnh giới ấy, khỏi phải trở lui đời này. Nếu Tỷ-kheo nào không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, sống hành trì pháp ấy, thời tâm vị ấy chưa giải thoát được giải thoát, và các lậu hoặc chưa được đoạn trừ đi đến đoạn trừ, và pháp vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa chứng đạt được chứng đạt.”
         Nếu chúng ta có suy tư về thế nào là hỹ tâm theo nội dung của bài viết này và biến mãn pháp hỷ này mỗi ngày thì chắc tâm ta sẽ tràn đầy niềm an lạc của việc trau dồi hỹ tâm. Do suy tư tư duy nhiều về Hỹ tâm sẽ làm cho phát sinh thêm những hiểu biết tri kiến về Hỹ tâm, rồi từ đó ngày qua ngày, chúng ta quán xét nhiều sẽ làm cho Hỹ này sung mãn.  

            Tu Tứ niệm xứ là trên bốn chổ Thân Thọ Tâm Pháp ta quét sạch mọi chướng ngại, thì lúc đó thân tâm sẽ thanh thản an lạc và vô sự. Với cách dạy có đúng thứ lớp của Thầy theo con đường của Đạo Đế là Bát Chánh Đạo, con thấy nhờ làm các bài về chánh kiến cho nên tâm con xã bỏ nhiều, tỉnh thức tăng, si mê giảm rõ rệt, cho nên khi ngồi tu Tứ niệm Xứ rất yên ổn không còn vọng động và mê mờ như xưa, mà ngược lại rất tỉnh táo, không thấy niệm xuất hiện trong một thời gian dài, lúc đó thân tâm rất yên ổn. Thấy rõ sự tiến bộ này thì tâm con cũng vui vui, biết được mình đang tu đúng pháp của phật và rất vui mừng khi thấy được các trạng thái an ổn này.

Do ly dục và các ác pháp nhiều mà tâm bất động trước các ác pháp, không còn một chướng ngại nào tác động vào thân tâm nữa. Gột rữa hết ngũ triền cái làm cho tâm sẽ luôn luôn thanh thản an lạc và vô sự, lúc này sẽ là một trạng thái hỹ của sơ thiền.

Muốn diệt tầm tứ thì chúng ta cần làm ngưng ý thức, do vậy muốn làm ngưng ý thức thì chỉ có đóng hết 6 căn mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý, lúc đó ý thức sẽ không còn làm việc và người tu sẽ sống trong các trạng thái tưởng thức, lúc đó sẽ có một trạng thái hỹ của nhị thiền do định sanh cao hơn cái hỹ của sơ thiền.

Hiểu biết rằng còn tưởng là còn dục cho nên người tu giai đoạn này cũng phải xã bỏ các trạng thái hỹ của tưởng để nhập vào tam thiền. Lúc đó sẽ có trạng thái hỹ của tam thiền cao hơn nhị thiền. Trạn thái tưởng gồm có 18 loại hỹ tưởng. Vì trạng thái của tưởng là trạng thái không có ý thức cho nên muốn xã bỏ các trạng thái tưởng này thì chúng ta phải tu tâp tỉnh thức trong giấc ngủ, không để có chiêm bao, có như vậy thì ta mới có đủ năng lực xã bỏ các trạng thái hỷ.
Trong quá trình tu tập thì chắc ai cũng rơi vào tưởng và biết tưởng hoạt động như thế nào, và mọi người chắc rất khổ sở để diệt các trạng thái tưởng đó. Cho nên khi xã được bất kỳ trạng thái tưởng nào thì chắc tâm người đó vui lắm.
Tu thiền mà ức chế tâm thì dễ rơi vào các trạng thái tưởng, có khi gặp sắc tưởng, có khi thinh tưởng, vị tưởng, hương tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng, hành tưởng, thọ tưởng…Riêng con thì gặp phần nhiều là hành tưởng như hai chân quạt lên xuống như cây quạt, đầu thì lắc hay xuay tròn đủ thứ kiểu, miệng thì đưa qua đưa lại, răng thì đánh lập cập, có khi miệng méo lên, có khi thì sủa như chó, tru như sói, tay chân múa võ, nước miếng thì chảy ròng ròng mà không làm sao ngưng được…nếu con không có duyên với pháp môn của Thầy thì chắc bây giờ con cũng điên vì không tìm được vị minh sư giúp con thoát ra khỏi các trạng thái tưởng trên, vì đại đa số các môn phái khác dạy ức chế tâm không vọng tưởng cho nên khi cố gắng nhiếp tâm thì bị ức chế rơi vào tưởng. Do có thói quen tu tập như vậy cho nên lúc đầu khi tu tập pháp môn của Thầy con cũng không biết tu xã mà chỉ biết lo ngồi thiền ức chế tâm cho nên cũng có vài tưởng xuất hiện làm điên cả đầu. Nhờ Thầy dạy xã bỏ hết cho nên ngày nay con mới thấy được cảm giác an ổn, không lo âu nữa.
Đến hôm nay con đã thấy hành tưởng của miệng con giảm đến tối thiểu, con thật là vui mừng khi xã bỏ được nó hơn cả năm nay. Con luôn luôn nhớ lời Thầy dạy tác ý đuổi hành tưởng này liên tục hết ngày này đến ngày khác, không được nản chí dù cho nó có hành đến 3 năm cũng phải tác ý đuổi. Có lòng tin vào pháp tác ý cho nên hôm nay con thấy rất khỏe và an vui.   

Xả khổ, xã lạc, xã niệm thanh tịnh là xã 3 trạng thái thọ như thọ khổ, thọ lạc và thọ bất lạc và bất khổ. Tất cả các trạng thái thọ này chỉ là vô thường sanh diệt không có ích lợi gì cho nên đến giai đoạn này chúng ta phải xã tất cả các thọ này. Vì các thọ này thuộc thân cho nên chỉ có cách là tịnh chỉ hơi thở. Có tịnh chỉ hơi thở thì không còn cảm giác gì của thân tâm nữa thì các cảm thọ sẽ không còn. Do đó sau khi tịnh chỉ hơi thở sẽ có cái hỹ của Tứ thiền, cái hỹ này là cao nhất trong tứ thánh định.



Là đem lại cho thân tâm niềm vui thật sự của ly dục ly ác pháp, không còn bị ràng buộc hay gò bó vào bất kỳ dục và ác pháp nào trên thế gian. Người có tâm hỹ vô lượng này luôn nhìn các pháp dưới con mắt thanh thản bất động vui tươi và an ổn, vì đã có đủ tri kiến giải thoát hiểu rõ các pháp nào là ác, pháp nào là thiện.
Người sống như vậy thì tâm họ luôn luôn tràn đầy niềm hân hoan vô lượng. Có như vậy thì chắc là họ luôn luôn làm cho người khác, các loài động thực vật hay thiên nhiên vui vẽ, yên vui và an ổn. Không để một chướng ngại nào trong thân tâm dù việc xãy ra là ác hay thiện. 


Mục đích của người tu theo đạo Phật là phải đạt được cái tâm Hỹ vô lượng trước mọi pháp dù ác hay thiện, không để bất kỳ chướng ngại trong tâm nào. Trong cái hỹ đó không có sự đau khổ của mình, của người, của các loài động thực vật và của thiên nhiên. Có như vậy thì cái hỹ đó mới trọn vẹn. Và mục đích của người đệ tử Phật là phải đạt cho được cái hỷ cuối cùng của sự làm chủ Sanh Già Bệnh Chết và thoát ra khỏi luân hồi. Đó là cái hỹ siêu việt nhất. Cái hỹ này sẽ đem lại lợi ích cho muôn người muôn vật trên hành tinh này.
Trong quá trình tu tập thì khi đạt được bất kỳ giải thoát nào đều có những hỹ riêng của loại giải thoát đó. Nhưng chúng ta đừng ngừng lại mà hãy cố gắng hơn nữa để đạt được mục đích cuối cùng của sự giải thoát tâm vô lậu. Bất kỳ sự hài lòng nào đều dẫn đến tâm còn ngã mạn. Đó là chướng ngại lớn mà chúng ta cần phải vượt qua.
Học được hỹ tâm thì ta phải biết tạo cho mình luôn an vui, và biết hoan hỹ với mọi việc làm của người khác. Nghĩa là đừng nhìn thấy lỗi người mà làm khổ mình, chỉ nên nhìn thấy lỗi mình thôi. Đó là chúng ta biết thương mình thương người. Có như vậy thì ta sẽ ly dục ly ác pháp từng chút một, đem đến cho thân tâm niềm hoan hỹ của sự giải thoát.